Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TỔNG QUAN TÀI LIỆU

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

3



Viêm nang lơng là tình trạng viêm nơng một hoặc nhiều nang lông. Bệnh gặp

ở bất kỳ lứa tuổi nào, nhất là thanh thiếu niên và người trẻ. Nguyên nhân chủ

yếu là tụ cầu vàng và trực khuẩn mủ xanh (Pseudomonas aeruginosa).

Bệnh chốc

Chốc là một bệnh nhiễm khuẩn da rất phổ biến, đặc trưng bởi các thương tổn

cơ bản là bọng nước nơng, rải rác, nhanh chóng hố mủ, dập vỡ đóng vảy tiết.

Bệnh hay gặp ở trẻ nhỏ. Tuy nhiên, người lớn cũng có thể bị. Bệnh có thể gây

các biến chứng tại chỗ và tồn thân nếu khơng được phát hiện và điều trị kịp

thời. Nguyên nhân do tụ cầu vàng, liên cầu hoặc phối hợp cả hai. Yếu tố

thuận lợi: tuổi nhỏ, thời tiết nóng ẩm, mùa hè, điều kiện vệ sinh kém hoặc có

bệnh da phối hợp như chấy rận, ghẻ, côn trùng cắn, viêm da cơ địa.

3.2.



Vi khuẩn gây bệnh ở da [6]



Staphylococcus aureus là những vi khuẩn hình cầu, khơng di động, gram

dương, đường kính 0.5-1.5 µm, tế bào xếp thành hình chùm nho, không di

động. Thành tế bào kháng với lysozyme và nhạy với lysotaphin, một chất có

thể phá hủy cầu nối pentaglycin của tụ cầu. S. aureus có sự phân bố rộng, chủ

yếu được phân lập từ da, màng nhày, tóc và mũi của người và động vật máu

nóng. S. aureus được cho là vi khuẩn khá mạnh có thể sống tốt bên ngồi kí

chủ. Vi khuẩn này còn có mặt trong khơng khí, bụi và trong nước dù chúng

thiếu tính di động và rất nhạy với thuốc kháng sinh và chất diệt khuẩn. Tuy

nhiên, S. aureus cũng khá nhạy với nhiệt độ, bị diệt ở 60 oC từ 2-50 phút tùy

từng loại thực phẩm và là vi sinh vật cạnh tranh yếu, dễ bị các vi sinh vật

khác ức chế. Có 10-50% dân số vẫn sống khỏe mạnh dù mang S. aureus.

Tụ cầu vàng thường ký sinh ở da và mũi họng. Vi khuẩn này gây bệnh cho

những người bị suy giảm đề kháng do chúng có nhiều yếu tố độc lực. Tụ cầu



4



vàng là vi khuẩn gây bệnh thường gặp nhất và có khả năng gây nhiều bệnh

khác nhau.

Nhiễm khuẩn da: do tụ cầu ký sinh trên da và niêm mạc mũi, nên nó có thể

xâm nhập qua lỗ chân lơng, chân tóc hoặc các tuyến dưới da. Sau đó gây nên

các nhiễm khuẩn sinh mủ: mụn nhọt, các ổ áp xe, eczema, hậu bối. Mức độ

các nhiễm khuẩn này phụ thuộc vào 17 sự đề kháng của cơ thể và độc lực của

vi khuẩn. Nhiễm tụ cầu ngoài da thường gặp ở trẻ em và người suy giảm miễn

dịch.

Hội chứng da phồng rộp: một số chủng tụ cầu vàng tiết ra độc tố exfoliatin,

gây viêm da hoại tử và phồng rộp. Bệnh này thường gặp ở trẻ em mới sinh và

tiên lượng xấu.

Nhiễm khuẩn bệnh viện do tụ cầu: thường rất hay gặp, nhất là đối với nhiễm

trùng vết mổ, vết bỏng từ đó đẫn tới nhiễm khuẩn đường huyết. Các chủng tụ

cầu này có khả năng kháng kháng sinh rất mạnh và phải dùng đến

vancomycin. Tỷ lệ tử vong ở bệnh này rất cao.

3.3.



Tổng quan về Gừng



Giới thiệu chung về Gừng

Gừng (tên khoa học: Zingiber officinale Roscoe thuộc giới Plantae, ngành

Magnoliophyta, lớp Liliopsida, bộ Zingiberales, họ Zingiberaceae, chi

Zingiber, loài Zingiber officinale) là loại cây thảo được trồng từ rất lâu đời và

phổ biến ở các nước trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [1], [2], [3]. Ở Việt

Nam, hiện nay Gừng được trồng khắp các địa phương. Riêng ở Đồng bằng

Sông Cửu Long, Gừng thường được trồng xen canh trong các vườn cây ăn

trái và cho giá trị kinh tế tương đối cao [2].



5



Hình 3.1. Đặc điểm cây gừng và thân rễ [29]

Ngoài chức năng là gia vị phổ biến trong các món ăn, Gừng còn là cây thảo

dược lâu đời trong y học dân gian. Xã hội phát triển, các chế phẩm từ Gừng

ngày càng phong phú hơn, từ bài thuốc dân gian cổ điển cho đến thực phẩm

chức năng, dược phẩm và mỹ phẩm. Ở Việt Nam, Gừng được xem là một

dược liệu quý, thân rễ được sử dụng như một gia vị và tinh dầu được dùng

rộng rãi trong điều trị các bệnh bao gồm viêm khớp, thấp khớp, bong gân, đau

cơ bắp, đau nhức, viêm họng, đau bụng, khó tiêu, nơn mửa, tăng huyết áp,

mất trí nhớ, sốt, bệnh truyền nhiễm,… [2], [3].

Mơ tả

Cây thảo sống lâu năm, cao khoảng 1m. Thân rễ mọc phình lên thành củ, khi

già thì có xơ. Lá khơng cuống, mọc cách nhau, hình mũi mác, dài tới 20cm,

rộng 2cm, bẹ nhẵn, lưỡi bẹ nhỏ dạng màng. Cánh hoa dài khoảng 20cm, mọc

từ gốc, có nhiều vẩy lợp lên. Cụm hoa dạng trứng, dài 5cm, rộng 2 - 3cm, lá

bắc hình trái xoan, màu lục nhạt, có mép vàng. Đài có 3 răng ngắn. Tràng có

ống dài gấp đơi đài, có 3 thùy hẹp nhọn, 1 nhị. Nhị lép khơng có hoặc tạo

thành thùy bên của cánh mơi. Cánh mơi màu vàng, viền thêm màu tía, dài



6



2cm, rộng 1,5cm, chia thành 3 thùy tròn, các thùy bên ngắn hơn. Bầu nhẵn,

nhụy lép dạng sợi. Có hoa vào mùa hè và mùa thu [2], [3], [8].

Bộ phận dùng

Thân rễ (Rhizoma Zingiberis), thu hái vào mùa đông, dùng tươi là sinh

khương, phơi hoặc sấy khơ là can khương. Có thể cất tinh dầu từ gừng với

hiệu suất 1 - 2,7% hoặc điều chế nhựa dầu Gừng từ bột Gừng khô với các

dung môi hữu cơ, hiệu suất 4,2 - 6,5% [2].

Thành phần hóa học của tinh dầu Gừng

Theo Đỗ Huy Bích và các cộng sự, Gừng chứa 2-3% tinh dầu với thành phần

chủ yếu là các hợp chất hydrocarbon sesquiterpenic: zingiberen (35%), arcurcumenen (17%), β-farnesen (10%) và một lượng nhỏ hơn các hợp chất

monoterpenic như geranial, neral, linalol, borneol [2].

Theo cơng trình nghiên cứu của Võ Thị Bạch Huệ và cộng sự (2010), kết quả

so sánh các thành phần chính trong tinh dầu của Gừng dại (Zingiber sp.)và

Gừng trâu (Zingiber officinale Roscoe) bằng phương pháp GC – MS đã cho

thấy các hợp chất chính trong Gừng trâu là: cineol (15,94%), α-citral

(14,12%), β-citral (8.77%), camphen (8,04%), zingiberen (7,75%), α-farnesen

(6,09%), β-sesquiphellandren (3,81%) [14].

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thanh Huệ và cộng sự (2012) khi khảo sát các

thành phần hóa học trong tinh dầu Gừng đã thu được kết quả: thành phần

chính của tinh dầu Gừng thu được bằng hai phương pháp chưng cất là

zingiberen (17%), α-farnesen (12%), citral (12%) β-sesquiphellandren (6%),

1,8-cineol (6%) [9].



7



Theo Van Bee Teris và cộng sự (1987), thành phần chính trong tinh dầu Gừng

được lấy mẫu ở Việt Nam chứa: geranial (15.9%), α-zingiberen (9.2%) neral

(8.1%), β-sesquiphellandren (4.3%) [28].

Theo Albena Stoyanova và cộng sự (2013), thành phần chính trong tinh dầu

Gừng điều chế bằng phương pháp lôi cuốn hơi nước với nguyên liệu ở Việt

Nam gồm có: ar-curcumen (12.6%), α-zingiberen (10.3%), β-bisabolen

(8.1%), β-sesquiphellandren (7.4%) và citral (3.3%) [15].

Thành phần tinh dầu Gừng ở các địa phương khác nhau có thể khác nhau do

điều kiện thổ nhưỡng khơng giống nhau [4].

Có thể thấy zingiberen và citral là hai cấu tử đặc trưng cho tinh dầu Gừng do

chiếm tỉ lệ cao trong các thành phần của tinh dầu. Đặc biệt, trong nhiều

nghiên cứu cho thấy citral có tác dụng kháng khuẩn trên nhiều chủng vi khuẩn

khác nhau kể cả Staphylococcus aureus [27]. Do đó, có thể sử dụng các chất

này làm chuẩn đối chiếu khi khảo sát quy trình định lượng tinh dầu Gừng.

Tác dụng dược lý chung [2]

Trong dân gian Gừng tươi chữa cảm mạo, phong hàn, nhức đầu, ngạt mũi, ho

có đờm, nơn mửa, bụng đầy trướng. Gừng dùng làm thuốc kích thích tiêu hóa,

tăng bài tiết, sát trùng, giải độc ngứa dị ứng do cua, cá,...Ngày dùng 4-8g,

dạng thuốc sắc uống. Ngồi ra còn dùng làm thuốc xoa bóp và đắp ngồi chữa

sưng phù và vết thương. Gừng khơ chữa đau bụng lạnh, đầy trướng hơi không

tiêu, chân tay giá lạnh, đàm ẩm, ho suyễn và thấp khớp. Ngày dùng 4-20g

dạng thuốc sắc hoặc tán. Gừng còn thường dùng phối hợp với các vị thuốc

khác.

Trên thực nghiệm, Gừng có những tác dụng dược lý như sau:



8



- Ức chế thần kinh trung ương, làm giảm đau vận động tự nhiên và tăng thời

gian gây ngủ của thuốc ngủ barbituric. Cao chiết Gừng khô, gingerol và

shogaol đều ức chế sự vận động tự nhiên của chuột nhắt.

- Hạ nhiệt: shogaol và gingerol làm giảm sốt trên chuột đã được gây sốt bằng

cách tiêm men bia.

- Chống nôn: dịch chiết Gừng khô có tác dụng trên chó gây nơn bằng đồng

sulfat.

- Chống loét đường tiêu hóa: dịch chiết nước Gừng tươi tiêm phúc mạc cho

chuột có tác dụng ức chế loét dạ dày thực nghiệm do gò bó.

- Tác dụng chống viêm: dịch chiết Gừng khô tiêm dưới da cho chuột nhắt ức

chế sự tăng tính thẩm thấu của các mao quản trong phản ứng viêm thực

nghiệm.

Tác dụng kháng khuẩn của tinh dầu Gừng

Theo nghiên cứu của Trần Mộng Tố Tâm (2016), tinh dầu Gừng có tác dụng

ức chế tốt các vi khuẩn thử nghiệm.

Bảng 3.1. Kết quả MIC của tinh dầu Gừng [13]

Chủng vi khuẩn



Nồng độ tinh dầu tối thiểu ức

chế (µl/ml)



E. coli ATCC 25922

Proteus mirabilis

Pseudomonas aeruginosa ATCC 27853

Staphylococus aureus ATCC 25923

Streptococcus faecalis ATCC 29212



10

10

10

10

10



9



Theo nghiên cứu của Pradeep Kumar Sharma và cộng sự (2015), khi xem xét

tính chất kháng khuẩn của tinh dầu Gừng cũng cho thấy tác dụng kháng

khuẩn tốt trên các chủng thử nghiệm.

Bảng 3.3. Kết quả MIC của tinh dầu Gừng [23]

Chủng vi sinh vật



Đường kính diện tích vùng thạch có MIC

vi sinh vật bị ức chế (mm)

Tinh



dầu DMSO



(µl/ml)



Tetracyclin Tinh



dầu



Bacillus subtilis



Gừng

12.5 ± 0.7



0



15.0 ± 0.5



gừng

10 ± 0.8



Staphylococcus



12.0 ± 0.2



0



11.5 ± 0.2



8 ± 0.7



Escherichia coli



10.6 ± 0.3



0



10.5 ± 0.2



6 ± 0.1



Pseudomonas



10.4 ± 0.8



0



10.0 ± 0.1



5 ± 0.2



aureus



aeruginosa



3.4.



Tổng quan về dạng bào chế gel nhũ tương



Khái niệm và ưu nhược điểm

Nhũ tương là hệ phân tán dị thể gồm hai pha lỏng khơng đồng tan vào nhau

trong đó một pha lỏng gọi là pha phân tán được phân tán đồng nhất dưới dạng

giọt mịn trong một pha lỏng khác gọi là môi trường phân tán [7].

Nhũ tương được phân loại theo kiểu nhũ tương hoặc theo kích thước pha phân

tán. Với cách phân loại theo kiểu nhũ tương thì có hai loại nhũ tương thơng

dụng là nhũ tương Dầu trong nước (D/N) và Nước trong Dầu (N/D). Ngồi ra



10



còn có kiểu đa nhũ tương hay nhũ tương hỗn hợp, ví dụ như nhũ tương N/D/N

hoặc nhũ tương D/N/D. Với cách phân loại theo kích thước pha phân tán thì

nhũ tương được chia thành hai loại là nhũ tương thô và vi nhũ tương. Nhũ

tương thơ có kích thước tiểu phân phân tán từ 0,1-50 µm, màu trắng đục và có

thể quan sát dưới kính hiển vi. Vi nhũ tương có kích thước hạt trong khoảng

10-100 nm, trong suốt và rất bền. Vi nhũ tương với kích thước tiểu phân pha

phân tán khoảng nano được biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như nhũ

tương nano, nhũ tương phân tán tốt, ...Nhờ vào kích thước tiểu phân siêu nhỏ,

nhũ tương nano thường có độ bền cao hơn nhũ tương truyền thống [7], [25].

Gel được định nghĩa là những chế phẩm bán rắn thể chất mềm, dùng để bôi

lên da hoặc niêm mạc nhằm tác dụng bảo vệ hoặc đưa thuốc thấm qua da. Tác

nhân tạo gel bao gồm các nhóm như: protein, polysaccharid, polymer bán

tổng hợp, polymer tổng hợp, các chất vô cơ và một số chất diện hoạt. Gel

được phân loại dựa vào cấu trúc và môi trường tạo gel. Dựa vào cấu trúc, gel

gồm có gel một pha và gel hai pha. Gel hai pha khi gel là một hệ chứa các tiểu

phân tạo gel phân tán, ví dụ như gel nhôm hydroxid. Gel một pha khi gel là

một thể thống nhất, khơng có giới hạn rõ ràng giữa môi trường và đại phân tử

phân tán, vi dụ như gel carbomer, gel alginat. Dựa vào môi trường, gel gồm

gel thân dầu và gel thân nước. Đối với gel thân dầu, thành phần bao gồm dầu

parafin phối hợp với tá dược thân dầu khác, có thêm keo silic, xà phòng nhơm

hoặc xà phòng kẽm. Đối với gel thân nước, thành phần bao gồm nước,

glycerin, propylen glycol, có thêm các tá dược tạo gel như polysaccharid (tinh

bột, tinh bột biến tính, acid alginic và natri alginat), dẫn xuất celulose,

polymer của acid arcylic (carbomer, carbomer copolymer, methyl acrylat ...)

và các chất vô cơ (magnesi – nhôm silicat) [5], [25].



11



Gel nhũ tương có cấu trúc nhũ tương có thể là loại D/N hoặc N/D được gel

hóa bằng cách phối hơp với một chất tạo gel thích hợp. Đây là một dạng bào

chế rất được quan tâm hiện nay đối với đường dùng trên da do nó có ưu điểm

của cả hai dang bào chế là nhũ tương và gel. Hệ gel nhũ tương cũng rất thích

hợp với các dược chất thân dầu, kỵ nước do đó việc sử dụng hệ gel nhũ tương

sẽ giúp hoạt chất tránh được các hiện tượng thủy phân hay oxy hóa. Hệ gel

nhũ tương D/N thường được dùng cho các chất khơng tan trong nước và có

ứng dụng nhiều trong lĩnh vực mỹ phẩm. Hệ gel nhũ tương N/D thường được

dùng để chữa trị bệnh khô da và làm mềm da. Nhược điểm: dễ bị nhiễm

khuẩn hơn các dạng bào chế khác [19].

Các tá dược hay được dùng trong bào chế gel nhũ tương dùng ngoài

Chất nhũ hóa

Chất nhũ hóa trong nhũ tương được chia làm ba loại: chất diện hoạt, chất nhũ

hóa keo thân nước phân tử lớn và chất nhũ hóa loại rắn hạt nhỏ. Trong đó chất

diện hoạt là nhóm được sử dụng nhiều nhất. Bản chất của chất nhũ hóa sử

dụng ảnh hưởng đến kiểu và độ bền vững của nhũ tương [7].

Tá dược tạo gel

Các tá dược tạo gel hay gặp:



Bảng 3.5. Phân loại chất tạo gel [19]



12



Phân loại chất tạo gel

Protein

Polysaccharid



Ví dụ

Collagen, gelatin

Agar, alginat, tinh bột, pectin, gôm



Polymer bán tổng hợp



tragacan, gôm guar

Carboxymethyl cellulose,

hydroxypropyl cellulose,

hydroxypropylmethyl cellulose,



Polymer tổng hợp



methyl cellulose

Carbomer, poloxamer,



Chất vô cơ

Chất diện hoạt



polyacrylamid, polyvinyl alcol

Nhôm hydroxid, bentonit, laponit

Cetostearyl alcol, briji



Triethanolamin

Là chất lỏng sánh, trong, không màu hoặc màu vàng nhạt, có độ nhớt 590

mPa (30ºC). Ở 20ºC triethanolamin hỗn hòa với nước, methanol, aceton, tan

trong benzen (1:24), ethyacetat (1:63).Triethanolamin được sử dụng trong gel

nhũ tương với vai trò trung hòa carbopol và điều chỉnh pH của gel nhũ tương.

Propylen glycol

Là chất lỏng trong, khơng màu, khơng mùi, có độ nhớt 58,1 mPa (20ºC), vị

ngọt, tỷ trọng 1,038 g/cm3 (20ºC). Propylen glycol hỗn hòa với nước, ethanol,

glycerin, aceton, cloroform; khơng hỗn hòa với dầu khống, dầu khơng bay

hơi. Propylen glycol được sử dụng trong cơng thức với vai trò là chất dưỡng

ẩm, chất bảo quản kháng khuẩn và hỗn hòa với nước tạo nên tướng ngoại của

gel.

Chất bảo quản



13



Nipagin M (Methylparaben) là chất bảo quản hay được sử dụng nhất trong

dược mỹ phẩm. Nipagin M có cấu trúc methyl-4-hydroxybenzoat, là tinh thể

rắn không màu, không mùi. Độ tan của nipagin M trong các môi trường:

propylenglycol (1:5), ethanol (1:2), glycerol (1:60), nước (1:400). Nipagin M

có hoạt lực kháng nấm và kháng khuẩn mạnh. Hoạt lực này tăng khi phối hợp

với các paraben khác.

Dầu parafin lỏng

Dầu parafin lỏng là một hỗn hợp các hydrocarbon và aliphatic bão hòa có

được từ q trình chưng cất dầu mỏ. Dầu parafin lỏng có thể chất trong suốt,

nhớt, thực tế không tan trong ethanol (95%), glycerin, nước và tan trong

acetin, benzen, CS2, ether ...Dầu parafin lỏng hay được sử dụng làm tướng

Dầu trong chế phẩm dùng ngoài như nhũ tương D/N, lotion, ointment ...

EDTA (Ethylendiamin tetraacetic acid)

EDTA à bột kết tinh màu trắng, tan trong nước (1:500) tạo dung dịch có pH

acid. EDTA thường được sử dụng với nồng độ 0,01-0,1% trong cơng thức với

mục đích chống oxy hóa, chống ion kim loại và có tác dụng hiệp đồng với các

chât bảo quản khác làm tăng hiệu quả kháng khuẩn.

3.5.



Chế phẩm đối chiếu



Tyrosur®gel

Tyrosur gel chứa tyrothricin là một kháng sinh peptit có phổ tương tự nhóm

penicillin, dùng để điều trị nhiễm trùng nhẹ gây ra bởi các vi khuẩn nhạy cảm

với tyrothricin.

4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

4.1. ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×