Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Sự tin cậy : Mọi người sẽ không đi theo nhà lãnh đạo trừ khi anh ta

cho họ thấy sự nhất quán và kiên định .

+ Sự bình dị: Những nhà lãnh đạo thành công nhất là những người xem

bản thân như là người hỗ trợ cho nhân viên của mình chứ khơng phải là buộc

nhân viên làm việc cho mình.

+ Bình tĩnh: Lãnh đạo tốt khơng làm rối tung mọi vấn đề như thể thế

giới sắp sập đến nơi khi có một vấn đề rắc rối nào đó xảy ra. Họ sẽ đưa ra

những câu kiểu như “Chúng ta có thể giải quyết việc này”.

+ Rõ ràng : Những lãnh đạo thực sự biết cách làm sáng tỏ vấn đề. Họ

khơng làm cho nó trở nên phức tạp.

+ Tự chủ: Những nhà lãnh đạo thành công nhất biết họ là ai và sẽ

khơng cố gắng “uốn” mình để trở thành những người không phải là họ.

1.1.2. Quản lý

Định nghĩa: Quản lý trong kinh doanh hay quản lý trong các tổ chức

nhân sự nói chung là hành động đưa các cá nhân trong tổ chức làm việc cùng

nhau để thực hiện, hồn thành mục tiêu chung. Cơng việc quản lý bao gồm 5

nhiệm vụ (theo Henry Fayol): xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp

và kiểm soát. Trong đó, các nguồn lực có thể được sử dụng và để quản lý là

nhân lực, tài chính, cơng nghệ và thiên nhiên.

Nhiệm vụ cơ bản của quản lý

- Hoạch định: xác định mục tiêu, quyết định những công việc cần làm

trong tương lai (ngày mai, tuần tới, tháng tới, năm sau, trong 5 năm sau...)

và lên các kế hoạch hành động.

- Tổ chức: sử dụng một cách tối ưu các tài nguyên được yêu cầu để

thực hiện kế hoạch .

- Bố trí nhân lực: phân tích cơng việc, tuyển dụng và phân công từng cá

nhân cho từng công việc thích hợp.

- Lãnh đạo/Động viên: Giúp các nhân viên khác làm việc hiệu quả hơn

để đạt được các kế hoạch (khiến các cá nhân sẵn lòng làm việc cho tổ chức).

Kiểm sốt: giám sát, kiểm tra q trình hoạt động theo kế hoạch (kế hoạch

có thể sẽ được thay đổi phụ thuộc vào phản hồi của quá trình kiểm tra).

3



1.2. Phẩm chất của nhà quản lý, lãnh đạo

Người lãnh đạo, quản lý cần có các tố chất sau:

- Có học vấn cao, có kinh nghiệm về chun mơn và về đời sống xã hội

- Linh hoạt

- Có nghị lực, suy nghĩ lành mạnh, sáng suốt

- Trung thực, có sức khỏe tốt

- Trí tuệ cao , có năng lực đạt được mục tiêu đề ra

- Sẵn sàng chịu trách nhiệm cá nhân

- Có khả năng đóng vai trò là một cố vấn và tư vấn sáng suốt

- Có tính tự tin, bình tĩnh khi gặp rắc rối về quan hệ hoặc khi có sự cố

về tổ chức

- Có tính kiên trì, thần kinh vững và có chí theo đuổi mục đích đến

cùng, thái độ giao tiếp niềm nở, thân mật nhưng dứt khốt với mọi người.

1.3. Vai trò của nhà quản lý, lãnh đạo

1.3.1. Vai trò của lãnh đạo

* Nhà lãnh đạo là người đại diện cho đơn vị, doanh ngh iệp

Là người đứng đầu đơn vị, doanh nghiệp nên nhà lãnh đạo là người

thay mặt đơn vị, doanh ng hiệp trước pháp lý, trước lợi ích chung của tổ

chức và kết quả cuối cùng mà đơn vị, doanh nghiệp đạt được.

Chịu trách nhiệm trước pháp lý: Trước các cơ quan chức năng, nhà lãnh

đạo là ng ười chịu trách nhiệm hồn tồn về q trình hoạt động và phát

triển của đơn vị, doanh nghiệp. Khi đơn vị, doanh nghiệp hoạt động vi phạm

pháp luật, thì người chịu tội trước hết là lãnh đạo đơn vị, doanh nghiệp đó.

Chịu trách nhiệm trước lợi ích chung và kết quả cuối của đơn vị doanh

nghiệp: Là người điều hành đơn vị, doanh nghiệp, vì vậy kết quả cuối cùng

mà đơn vị, doanh nghiệp đạt được đều là sản phẩm trực tiếp hoặc gián tiếp

từ những quyết định của nhà lãnh đạo. Khi đơn vị, doanh nghiệp thành cơng,

phát triển tốt thì cơng đầu tiên thuộc về lãnh đạo, và khi đơn vị, doanh

nghiệp kém phát triển, thua lỗ thì tội đầu tiên cũng thuộc về lãnh đạo.

4



* Nhà lãnh đạo là người chỉ huy đơn vị, doanh nghiệp.

Vớ i vai trò là người chỉ huy đơn vị, doanh nghiệp, nhà lãnh đạo phải

xác định được tầm nhìn rõ ràng, chính xác cho tổ chức, xác định được lịch

trình để đạt mục tiêu đó, huy động và thúc đẩy cấp dưới th ực hiện mục tiêu.

- Xác định tầm nhìn rõ ràng, chính xác cho đơn vị, doanh nghiệp: nhà

lãnh đạo là người định ra đường lối, mục tiêu, viễn cảnh tương lai của đơn vị,

doanh nghiệp. Họ đảm trách những mục tiêu mang tính thách thức liên quan

tới sự thay đổi, và tập trung vào việc thay đổi hành vi. Nhà lãnh đạo chấp

nhận rủi ro và không ngại đương đầu với những tình huống mạo hiểm trong

quá trình đạt đến mục tiêu của mình , vì vậy họ thường coi những việc khó

khăn mà nguời khác tránh là những cơ hội tốt để mình thử sức và chinh phục.

- Xác định lịch trình để đạt mục tiêu đó: Để thực hiện tầm nhìn, nhà

lãnh đạo phải xác định được các bước thực hiện tầm nhìn đó . Họ vạch ra

chiến lược và thực hiện những thay đổi để duy trì sự tồn tại và phát triển của

đơn vị, doanh nghiệp.

- Huy động và thúc đẩy cấp dưới thực hiện mục tiêu: Nhà lãnh đạo tập

trung vào yếu tố con người. Họ kêu gọi, lơi kéo những người dưới quyền đi

theo mình, hướng tới xây dựng sự nghiệp chung của cơ quan, doanh nghiệp.

Nhà lãnh đạo sử dụng uy tín, ảnh hưởng cá nhân để thúc đẩy những nguời

dưới quyền làm việc. Họ động viên những người dưới quyền phát huy hết

khả năng của mình, cùng làm việc với họ để đạt được mục tiêu lâu dài.

*Nhà lãnh đạo là người thực hiện các mối liên kết trong và ngoài đơn

vị, doanh ng hiệp.

Nhà lãnh đạo là cầu nối giữa các bộ phận trong cơ quan, doanh nghiệp

với nhau và giữa cơ quan, doanh nghiệp với hệ thống bên ngoài. Để làm tốt

vai trò này, họ phải duy trì được quan hệ cá nhân thật tốt với các nhân vật

chủ chốt trong tất cả các đơn vị trong và ngoài cơ quan, doanh nghiệp, phải

biết lắng nghe và thu nhận ý kiến.



5



- Liên kết các bộ phận trong đơn vị, doanh nghiệp: Nhà lãnh đạo phải

gắn kết các phòng, ban, chi nhánh lại với nhau trong một mục tiêu chung của

cơ quan,doanh nghiệp. Họ thu thập, phân tích xửa lý thơng tin từ các chi

nhánh và tạo điều kiện để các chi nhánh hiểu tình hình hoạt động của nhau.

Jeiny lãnh đạo ITT bao gồm 250 chi nhánh nằm ở nhiều nước trên thế giới,

nhưng chưa bao giờ ông mất liên lạc với bất kỳ một chi nhánh nào. Ông quy

định mỗi tháng các giám đốc chi nhánh phải gửi cho ông một bản báo cáo

dài 20 trang trình bày và phân tích cụ thể tình hình kinh doanh của chi nhánh

mình. ITT cũng cho họp các giám đốc chi nhánh theo định kỳ. Tại cuộc họp

đó, họ thảo luận về những vấn đề chung, vấn đề thuộc chi nhánh của mình

và vấn đề thuộc chi nhánh anh em. Thường xuyên trao đổi thông tin với

nhau, nên các chi nhánh ITT hoạt động, phát triển độc lập, nhưng luôn nằm

trong một khối thống nhất. Điều đó làm lên sức mạnh của ITT

- Liên kết giữa đơn vị, doanh nghiệp với hệ thống bên ngoài: Lãnh đạo

cơ quan, doanh nghiệp thường xuyên tiếp xúc với các đơn vị, các đối tác

khách hàng, các hội nghề nghiệp, các cơ quan chính quyền. Họ cần sử dụng

mối quan hệ rộng rãi của mình để nhận được nhiều nguồn thơng tin và sự

ủng hộ cần thiết. Vì thế, mà nhà lãnh đạo là một nhà hoạt động xã hội tích

cực. Chẳng hạn họ tham gia các tổ chức chính trị-xã hội, các câu lạc bộ. Ở

đó họ khơng chỉ nắm bắt được các cơ hội mà còn kết giao với nhiều bạn bè,

tạo lập quan hệ xã hội rộng .

* Nhà lãnh đạo là người quản lý cấp cao của đơn vị, doanh nghiệp

Nhà lãnh đạo cũng phải là một nhà quản lý cơ quan, doanh nghiệp. Họ

phải xây dựng, thực thi các chiến lược, lập kế hoạch thực hiện và kiểm tra,

đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu của cơ quan, doanh nghiệp. Với vai trò

này, nhà lãnh đạo chỉ thực hiện quản lý ở cấp cao, chứ không rơi vào quản lý

tiểu tiết.



6



- Xây dựng, thực thi chiến lược nhằm làm cho cơ quan, doanh nghiệp

có khả năng phát triển và cạnh tranh tốt hơn. Nhà lãnh đạo đưa ra con đường

cụ thể để thực hiện hóa mục tiêu cho cơ quan, doanh nghiệp.

- Lập kế hoạch, phân bổ nguồn lực: Nhà lãnh đạo phải đưa ra được bản

kế hoạch phù hợp với tình hình phát triển, với nguồn lực của đơn vị, doanh

nghiệp. Họ biết điểm mạnh, điểm yếu của cơ quan, doanh nghiệp là gì để có

một kế h oạch chung. Từ đó , họ đưa ra hướng phân bổ, sử dụng các nguồn

lực của công của cơ quan, doanh nghiệp .

- Kiểm tra, đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu của đơn vị, doanh

nghiệp: Là người chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng mà cơ quan, doanh

nghiệp đạt được, vì vậy nhà lãnh đạo cần thường xuyên đánh giá mức độ

thực hiện mục tiêu của cơ quan, doanh nghiệp tới đâu. Họ phải có những

quyết định thay đổi kịp thời để điều chỉnh mục tiêu.

1.3.2. Vai trò của quản lý

Henry Mintzberg nghiên cứu các hoạt động của nhà quản lý và cho rằng

mọi nhà quản lý đều phải thực hiện 10 vai trò khác nhau và được phân thành

3 nhóm như sau:

* Nhóm vai trò quan hệ với con người

Nhóm vai trò qu an hệ với con người bao gồm:

- Khả năng phát triển và duy trì mối quan hệ với ng ười khác một cách

hiệu quả.

- Vai trò lãnh đạo đòi hỏi việc xây dựng mối qu an hệ với cộng sự

- Vai trò tiếp xúc và thúc đẩy họ làm việc

- Vai trò liên hệ tập trung vào việc duy trì mối quan hệ cả bên trong và

bên ngồi tổ chức.

- Vai trò quan hệ với con người giúp xây dựng các mạng lưới làm việc

cần thiết để thực hiện các vai trò quan trọng khác.



7



* Nhóm vai trò thơng tin

- Vai trò thơng tin gắn liền với việc tiếp nhận thông tin và truyền đạt

thông tin sao cho thể hiện là trung tâm đầu não của tổ chức.

- Vai trò thu thập thơng tin là nắm bắt thơng tin cả bên trong và bên

ngồi cơ quan, doanh ngh iệp.

- Vai trò truyền đạt hoạt động theo 2 cách :

+ Thứ nhất, nhà quản lý truyền đạt những thơng tin tiếp nhận được từ

bên ngồi đến các thành viên trong nội bộ doanh nghiệp, những người có thể

sử dụng những thông tin này;

+ Thứ hai, nhà quản lý giúp truyền đạt những thông tin từ cấp dưới đến

cấp thấp hơn hoặc đến các thành viên khác trong tổ chức, những người có

thể sử dụng thơng tin một cách hiệu quả nhất.

Trong khi vai trò truyền đạt cung cấp thơng tin cho nội bộ thì vai trò

phát ngơn phổ biến thơng tin cho bên ngồi về những vấn đề như kế hoạch,

chính sách, kết quả hoạt động của tổ chức. Do đó, nhà quản lý tìm kiếm

thơng tin trong vai trò giám sát, truyền đạt thơng tin với nội bộ và sau đó kết

hợp việc cung cấp thơng tin quan trọng theo yêu cầu của vai trò quyết định .

* Nhóm vai trò quyết định

Nhóm vai trò quyết định bao gồm việc ra những quyết định quan trong

có ảnh hưởng đến tổ chức. Có 4 vai trò mơ tả nh à quản lý là ng ười

quyết định.

- Vai trò cách tân hay còn gọi là vai trò là người luôn ở điểm gốc của

mọi thay đổi và cải tiến, khai thác các cơ hội mới.

- Vai trò thứ 2 trong nhóm này là vai trò xử lý các tình huống: gắn liền

với việc đưa ra các hành động kịp thời khi tổ ch ức ph ải đối mặt với những

biến cố bất ng ờ, những khó khăn khơng lường trước được.

- Vai trò thứ ba là phân phối các nguồn lực của tổ chức. Cuối cùng, vai

trò đàm ph án thể hiện sự đại diện cho tổ chức th ương lượng đàm phán ký

kết các hợp đồng, ảnh hưởng tùy theo các lĩnh vực trách nhiệm của nhà quản

8



lý. Trong các cuộc tiếp xúc làm ăn, nhà quản lý phải là một chuyên gia trong

lĩnh vực ngoại giao. Làm ăn thời mở cửa đa phần là các cuộc tiếp xúc, muốn

thành đạt phải học cách thương lượng. Mềm dẻo kết hợp với cứng rắn và

cương quyết, lý trí cùng với nhân bản là bí quyết thành cơng trong thương

lượng với đối tác.

- Vai trò của doanh nhân (nhà kinh doanh): Khuyến khích sự đổi mới

Ðổi mới là sự khởi đầu một ý tưởng mới được áp dụng cho q trình tiến

triển của cơng việc, sản phẩm hoặc dịch vụ . Quá trình đổi mới, cải tiến gắn

liền với vai trò của nhữn g người đứng đầu trong doanh nghiệp, cụ thể như

gắn liền với sự tìm kiếm các cơ hội trong kinh doanh. Tuy nhiên, thúc đẩy sự

cải tiến, đổi mới trong doanh nghiệp đòi hỏi phải kết hợp những nỗ lực của

các thành viên. Hiếm khi có sự cải tiến, đổi mới thành công lại là kết quả lao

động duy nhất của một ng ười. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng, quá trình đổi

mới cải tiến thường diễn ra ở những nơi mà ở đó các cá nh ân ở các cấp độ

khác nhau thực hiện 3 loại vai trò khác nhau của doanh nhân: Người khởi

xướng ý tưởng, Người tài trợ (đỡ đầu) và là ng ười ph ối hợp hoạt động.

+ Người khởi xướng ý tưởng: là người phát hiện ra những ý tưởng mới

hoặc tin tưởng vào giá trị của những sáng kiến và ủng hộ nó mặc dù phải

đương đầu nhiều khó khăn trở ngại. Chú ng ta thường cho rằng những người

cách tân là người sáng tạo, dám chấp nhận những mạo hiểm rủi ro. Họ

thường là những người ở các cấp thấp hơn trong tổ chức, người phát hiện ra

vấn đề và biết đề xuất giải pháp. Tuy nhiên, sự sáng tạo cần thiết phải có các

loại vai trò kế tiếp.

+ Người tài trợ : Một người quản trị cấp giữa nhận biết những điểm

quan trọng về những sáng kiến của tổ chức, từ đó giúp tìm kiếm nguồn tài

chính cần thiết cho việc phát triển cải tiến và thúc đẩy các bước tiến hành

thực sự. Ðổi mới trong tổ chức không thể thiếu sự hiện diện của người tài

trợ, tuy nhiên việc thực hiện những đổi mới đó còn phụ thuộc vào vai trò thứ

ba - Người phối hợp hoạt động.

9



+ Người phối hợp: Là người quản trị cấp cao, người ủng hộ cho sự cần

thiết phải đổi mới, cung cấp tài chính cho các hoạt động cải tiến, khuyến

khích, nâng đỡ và tơn trọng, bảo vệ các sáng kiến cải tiến của các thành

viên. Việc cải tiến thường vấp phải các cản trở của lề lối cũ và nó thường

khiến cho những người quen thói thủ thường e ngại. Người phối hợp sẽ đảm

nhận vai trò cân bằng các thế lực sao cho các sáng kiến cải tiến có thể được

thực hiện. Thơng qua việc thực hiện vai trò phối hợp, các nhà quản lý sẽ

khuyến khích, thúc đẩy việc cải tiến, đổi mới. Thiếu một trong ba vai trò thì

sự đổi mới, cải tiến khó có thể thực hiện được.



10



CHƯƠNG II: PHÂN BIỆT GIỮA LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ

2.1. Phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý về mặt khoa học

Chúng ta biết tới Peter Ferdinand Drucker (1909–2005) - cha đẻ của

quản trị kinh doanh hiện đại, cũng biết tới câu nói nổi riếng của ơng:

“Management is doing things right; leadership is doing the right things” tạm dịch là nhà quản lý tìm cách làm thật tốt một cơng việc, còn người lãnh

đạo lại cố gắng xác định đúng cơng việc để làm. Điều này có ý nghĩa gì?

Druker muốn nhấn mạnh rằng ở vị trí đứng đầu, ln có hai khái niệm:

lãnh đạo và quản lý. Nhà quản lý có thể đóng vai trò của nhà lãnh đạo,

nhưng nhà lãnh đạo thì khơng phải lúc nào cũng là nhà quản lý. Trong cuốn

sách nổi tiếng "The Art of Possibility", Rosamund và Benjamin Zander đã đề

cập tới khái niệm "Leading from any chair" - "lãnh đạo từ bất kỳ vị trí nào"

với ví dụ rất hay về hình ảnh một giàn nhạc giao hưởng với người chỉ huy là

người đảm bảo cho cả giàn nhạc phối hợp biểu diễn tốt với nhau, nhưng

chính người đánh đàn Viola ngồi cuối giàn nhạc mới là người lãnh đạo định hướng tiết tấu của cả giàn nhạc để có buổi hòa tấu thành cơng.

Lãnh đạo và quản lý là hai khái niệm khác nhau, tuy nó hay được (bị)

đổ đồng, lẫn lộn với nhau. Nếu ta ví một cấu trúc tổ chức (của một doanh

nghiệp, một viện khoa học, một Bộ, v.v.) như là một sinh vật, thì phần lãnh

đạo có thể ví như phần hồn (hay hệ thần kinh), còn phần quản lý như phần

thân (hay các bộ phận còn lại) của sinh vật đó . Tất nhiên cả hai phần đều

quan trọng: nếu chỉ có thân mà khơng có hồn thì là “cái xác khơng hồn”, còn

nếu thân chết thì hồn cũng chết theo. Tuy nhiên, phần hồn, chứ không phải

phần thân, là phần xác định “tư cách” của sinh vật: một ng ười có thể thay

gan , thay thận thì vẫn là người đó, nhưng nếu giả sử có cách thay não, lấy

não người khác lắp vào, thì thành người khác.

Nói về chức năng cơng việc, thì lãnh đạo và quản lý là hai công việc

khác nhau.



11



Những công việc chủ yếu của lãnh đạo là:

- Đưa ra các quyết định quan trọng

- Phân tích tình hình, định hướng, vạch chiến lược

- Làm điểm tựa về uy tín cho tổ chức, đối với cả người bên trong lẫn

người bên ngồi.

Những cơng việc chủ yếu của quản lý là:

-Thực hiện các quyết định của lãnh đạo;

- Xử lý các công việc hàng ngày;

- Đảm bảo cho bộ máy hoạt động trơn tru

Ở các tổ chức nhỏ, các việc lãnh đạo và quản lý hay được qui làm một,

do cùng một người (ví dụ như chủ một doanh nghiệp nhỏ) đảm nhiệm. Tuy

nhiên, đối với các tổ chức lớn, thì sự phân biệt giữa lãnh đạo và quản lý là cần

thiết. Có những người có khả năng làm cả hai công việc lãnh đạo và quản lý,

và trong các tổ chức lớn cũng có những vị trí đòi hỏi phải làm cả hai việc. Tuy

nhiên, hai cơng việc này đòi hỏi những loại kỹ năng khác nhau.

Những điều mà một người lãnh đạo cần có (ngồi việc là một con

người có tư cách tốt nói chung ) là:

- Uy tín cá nhân cao (nếu người bên trong không phục th ì khó lãnh

đạo, nếu mất uy tín với bên ngồi thì tồn bộ tổ chức mất uy tín theo).

- Có trình độ cao, tầm nhìn xa trơng rộng, để có thể đưa ra những định

hướng và quyết định đúng đắn.

- Biết phối hợp hài hòa với bộ phận quản lý.

Người quản lý thì khơng nhất thiết cần có trình độ cao, uy tín cao hay

tầm nhìn xa trơng rộng như người lãnh đạo, nhưng ngược lại cần có những

đức tính như sau:

- Hiểu được và tuân theo các quyết định của lãnh đạo

- Có tính kỷ luật, cẩn thận, tỉ mỉ, nắm sát các chi tiết (người lãnh đạo có

thể không mạnh những điểm này)

- Tùy lĩnh vực quản lý mà cần có trình độ chun mơn tương ứng nhất định

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ LÃNH ĐẠO VÀ QUẢN LÝ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×