Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Do tính trạng số lượng được quyết định bởi nhiều gen, nên xác suất xuất

hiện một kiểu gen đồng hợp hồn tồn là thấp. Ngồi ra, vì sự liên kết giữa các

gen trội và gen lặn trên cùng một nhiễm sắc thể, nên xác suất tổ hợp được kiểu

gen tốt nhất cũng thấp. Hiện tượng này và thuyết trội đã được bổ sung thông qua

giả thiết sự liên kết của các gen.

- Thuyết siêu trội: Mỗi alen trong một locus sẽ thực hiện chức năng riêng

của mình. Ở trạng thái dị hợp tử thì cả hai chức năng này đồng thời được biểu lộ.

Mỗi gen có khả năng tổng hợp riêng, quá trình này được thực hiện trong những

điều kiện môi trường khác nhau. Do vậy, kiểu gen dị hợp tử sẽ có khả năng thích

nghi tốt hơn với những thay đổi của mơi trường.

Ưu thế lai có thể do hiện tượng siêu trội của một locus, hiện tượng trội tổ hợp

nhiều locus hoặc do các nguyên nhân khác gây ra. Khả năng thích ứng với mơi

trường của các thể dị hợp tử tạo nên hiện tượng siêu trội là cơ sở của ưu thế lai.

Theo Dickerson (1974), khi lai giữa hai giống thì con lai chỉ có ưu thế lai

cá thể. Khi lai 3 giống, nếu dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai, con

lai có cả ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1. Nếu dùng đực

lai giao phối với nái của giống thứ ba, con lai có ưu thế lai cá thể và ưu thế lai

của bố, do con bố là con lai F1. Trong lai bốn giống, con lai có cả ưu thế lai cá

thể, cả ưu thế lai của mẹ và ưu thế lai của bố.

- Tương tác gen: Tương tác gen trong cùng một locus dẫn tới hiện tượng

trội khơng hồn tồn. Tương tác giữa các gen trong cùng các locus khác nhau,

bao gồm vô số các kiểu tương tác phức tạp, đa dạng, phù hợp với tính chất phức

tạp, đa dạng của sinh vật.

Cơ sở thống kê của ưu thế lai

Cơ sở thống kê của ưu thế lai do Falconer đưa ra từ năm 1964.

Ưu thế lai ở F1: HF1 = dy2

Trong đó: d là giá trị của kiểu gen dị hợp

y là sai khác về tần số gen giữa hai quần thể bố, mẹ.

Ưu thế lai sinh ra bởi ảnh hưởng đồng thời của tất cả các giá trị riêng rẽ

2

của từng locus: H F1   dy



Như vậy, ưu thế lai ở F1 phụ thuộc vào giá trị của các kiểu gen dị hợp và

sự khác biệt giữa hai quần thể.



4



Cơ sở thống kê này cho phép tính tốn được ưu thế lai ở các thế hệ lai

khác nhau. Ưu thế lai ở F2: HF2 = 1/2dy2, do đó HF2 = 1/2 HF1.

Thay đổi trung bình từ F1 đến F2 cũng được coi là hiện tượng suy hoá cận

huyết. Ưu thế lai ở F1, F2 có thể phức tạp do ảnh hưởng của mẹ. Ví dụ, tính trạng

số con/ổ của lợn, ưu thế lai quan sát được ở F1 không có đóng góp của mẹ ở F2,

mặc dù ưu thế lai mất đi một nửa nhưng lại có ảnh hưởng ưu thế lai của mẹ, do

mẹ là con lai của F1.

Ảnh hưởng của mẹ bao gồm tất cả những đóng góp, những ảnh hưởng

tốt xấu do kiểu hình mẹ gây ra đối với kiểu hình của đời con. Ảnh hưởng của

mẹ đối với kiểu hình của đời con có thể do sự khác nhau về di truyền, về

ngoại cảnh hoặc sự phối hợp giữa di truyền và ngoại cảnh. Ảnh hưởng của mẹ

có thể được thực hiện trong q trình thụ tinh, có chửa, tiết sữa và ni con.

Các ảnh hưởng này chỉ có thể xuất hiện tức thời, song cũng có thể kéo dài

suốt đời con vật và được thể hiện ở nhiều cơ chế sinh học khác nhau. Theo

Đặng Vũ Bình (2002) có 5 loại ảnh hưởng của mẹ.

- Ảnh hưởng của nguyên sinh chất nhưng không phải là ADN ngoài nhân.

- Ảnh hưởng của nguyên sinh chất do ADN ngoài nhân.

- Ảnh hưởng của mẹ trong giai đoạn trước khi đẻ.

- Ảnh hưởng của mẹ thông qua sự truyền kháng thể từ mẹ sang con.

- Ảnh hưởng của mẹ sau khi sinh.

Khi lai giữa hai giống con lai chỉ có ưu thế lai cá thể. Khi lai 3 giống, nếu

dùng đực của giống thuần giao phối với nái lai, con lai có cả ưu thế lai cá thể và

ưu thế lai của mẹ, do mẹ là con lai F1. Nếu dùng đực lai giao phối với nái của

giống thứ 3, con lai có ưu thế lai cá thể và ưu thế lai của bố, do bố là con lai F1.

Trong lai 4 giống, con lai có cả ưu thế lai cá thể, cả ưu thế lai của mẹ và ưu thế

lai của bố.

Tính ưu thế lai đối với một số tính trạng nhất định từ các giá trị trung bình

của đời con và giá trị trung bình của bố mẹ theo công thức sau:

1

1

( BA  AB)  ( AA  BB)

2

H (%)  2

 100

1

( AA  BB)

2



Trong đó, H: ưu thế lai, BA: F1(bố B, mẹ A), AB: F1(bố A, mẹ B), AA:

bố A, mẹ A, BB: bố B, mẹ B.



5



Các yếu tố ảnh hưởng đến ưu thế lai

- Công thức lai

Ưu thế lai đặc trưng cho mỗi tổ hợp lai, mức độ ưu thế lai đạt được có tính

cách riêng biệt cho từng cặp lai cụ thể. Ưu thế lai của mẹ có lợi cho đời con, ưu

thế lai của lợn nái ảnh hưởng đến số con/ổ và tốc độ sinh trưởng của lợn con. Ưu

thế lai cá thể ảnh hưởng đến sinh trưởng và sức sống của lợn con, đặc biệt ở giai

đoạn sau cai sữa. Ưu thế lai của bố thể hiện tính hăng của con đực, kết quả phối

giống, tỷ lệ thụ thai. Khi lai hai giống, số lợn con cai sữa/nái/năm tăng 5 - 10%,

khi lai 3 giống hoặc lai trở ngược số lợn con cai sữa/nái/năm tăng tới 10 – 15%,

số con cai sữa/ổ nhiều hơn 1,0 – 1,5 con và khối lượng cai sữa/con tăng được

1kg, ở 28 ngày tuổi so với giống thuần (Colin, 1998).

- Tính trạng

Ưu thế lai phụ thuộc vào tính trạng, có những tính trạng có khả năng di

truyền cao nhưng cũng có những tính trạng có khả năng di truyền thấp. Những tính

trạng liên quan đến khả năng nuôi sống và khả năng sinh sản có ưu thế lai cao

nhất. Các tính trạng có hệ số di truyền thấp thường có ưu thế lai cao, vì vậy để cải

tiến các tính trạng này, so với chọn lọc, lai giống là một biện pháp nhanh hơn, hiệu

quả hơn.

Một số tính trạng ở lợn có ưu thế lai khác nhau: số con đẻ ra/ổ có ưu thế

lai cá thể là 2%, ưu thế lai của mẹ là 8%; số con cai sữa có ưu thế lai cá thể 9%,

ưu thế lai của mẹ là 11%; khối lượng cả ổ ở 21 ngày tuổi có ưu thế lai cá thể

12%; ưu thế lai của mẹ 18% (Richard, 2000).

- Sự khác biệt giữa bố và mẹ

Ưu thế lai phụ thuộc vào sự khác biệt giữa hai giống đem lai, hai giống

càng khác biệt với nhau về di truyền bao nhiêu thì ưu thế lai thu được khi lai giữa

chúng càng lớn bấy nhiêu. Nếu các giống hay các dòng đồng hợp tử đối với một

tính trạng nào đó thì mức dị hợp tử cao nhất ở F1, với sự phân li của các gen

trong các thế hệ sau mức độ dị hợp tử sẽ giảm dần.

Các giống càng xa nhau về điều kiện địa lý thì ưu thế lai càng cao. Ưu thế

lai của một tính trạng nhất định phụ thuộc đáng kể vào ngoại cảnh. Có nhiều yếu

tố ngoại cảnh ảnh hưởng đến gia súc, cũng như ảnh hưởng đến biểu hiện của ưu

thế lai.



6



2.2. CÁC CHỈ TIÊU SINH SẢN VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG

SUẤT SINH SẢN CỦA LỢN NÁI

2.2.1. Các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái

Một yêu cầu quan trọng của chăn nuôi lợn nái là phải tăng khả năng sinh sản

nhằm đáp ứng yêu cầu cả về số lượng và chất lượng lợn cho khâu sản xuất lợn thịt.

Người ta thường quan tâm tới một số tính trạng năng suất sinh sản nhất

định, đây cũng là các chỉ tiêu quan trọng trong chăn ni lợn nái sinh sản.

Các tính trạng phản ánh năng suất sinh sản có hệ số di truyền thấp. Để

đánh giá một cách đúng đắn năng suất sinh sản của lợn cái cần phải xác định được

các chỉ tiêu cơ bản, quan trọng, lấy đó làm cơ sở, thước đo để định ra thời gian sử

dụng lợn cái hiệu quả. Các chỉ tiêu này cần phải được tính chung trong toàn bộ thời

gian sử dụng lợn cái từ lứa đẻ đầu tiên đến lứa đẻ cuối cùng. Thảo luận về vấn đề

này các chuyên gia có nhiều ý kiến khác nhau:

Vandersteen (1986) cho rằng các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu

cho phép đánh giá lợn nái bao gồm: tuổi động dục lần đầu, tỷ lệ thụ thai, số

con/ổ, thời gian động dục trở lại. Kết quả của một số nghiên cứu cho thấy các

tính trạng năng suất sinh sản có hế số di truyền thấp.

Kết quả các nghiên cứu khác cho rằng, các chỉ tiêu ảnh hưởng đến số

lượng lợn con cai sữa của 1 nái/1 năm là: tính đẻ nhiều con (số lợn sơ sinh), tỷ lệ

chết của lợn con từ sơ sinh đến cai sữa, thời gian bú sữa, tuổi đẻ lứa đầu và thời

gian từ cai sữa đến khi thụ thai lứa sau (Legault, 1980).

Theo Ducos (1994), các thành phần đóng góp vào chỉ tiêu số con còn sống

khi cai sữa gồm: Số trứng rụng, tỷ lệ sống khi sơ sinh và tỷ lệ lợn con sống tới

lúc cai sữa.

Theo Marby et al. (1997), các tính trạng năng suất sinh sản chủ yếu của

lợn nái bao gồm: Số con sơ sinh/ổ, số con cai sữa/ổ, khối lượng toàn ổ ở 21 ngày

tuổi và số lứa đẻ/nái/năm. Các tính trạng này ảnh hưởng lớn đến lợi nhuận của

người chăn nuôi lợn nái.

Gordon (2004) cho rằng, trong các trang trại chăn nuôi hiện đại, số lượng

con cai sữa do một nái sản xuất trong 1 năm là chỉ tiêu đánh giá đúng đắn nhất

khả năng sinh sản của lợn nái.

Theo Trần Đình Miên (1977), việc tính tốn và đánh giá sức sinh sản của



7



lợn nái phải xét đến các mặt: chu kỳ động dục, tuổi thành thục sinh dục, tuổi có

khả năng sinh sản, thời gian chửa, số con sơ sinh/lứa.

Ở Việt Nam, Tiêu chuẩn nhà nước về lợn giống (TCVN 1980 – 1981 –

TCVN 1982 – 1981) đề ra 4 chỉ tiêu giám định lợn nái tại các cơ sở giống nhà

nước là: Số con sơ sinh sống/ổ, khối lượng toàn ổ lúc 21 ngày, khối lượng toàn ổ

lúc 60 ngày, tuổi đẻ lứa đầu đối với lợn nái đẻ lứa 1 hoặc khoảng cách lứa đẻ đối

với nái đẻ từ lứa thứ 2 trở đi.

Theo Nguyễn Khắc Tích (2002), khả năng sinh sản của lợn nái chủ yếu

được đánh giá dựa vào chỉ tiêu số lợn con cai sữa/nái/năm. Chỉ tiêu này lại phụ

thuộc vào 2 yếu tố là Số con sơ sinh và số lứa đẻ/nái/năm.

Năng suất sinh sản của lợn nái được cấu thành bởi nhiều yếu tố, do đó cũng

có nhiều chỉ tiêu để đánh giá năng suất sinh sản của lợn nái. Trong thực tế người ta

thường quan tâm đến một số chỉ tiêu quan trọng về năng suất mà qua đó có thể đánh

giá được khả năng cũng như năng suất sinh sản của lợn nái như:

- Tuổi động dục lần đầu (ngày): là thời gian từ sơ sinh đến khi lợn cái hậu

bị động dục lần đầu. Tùy theo từng giống và điều kiện chăm sóc, ni dưỡng

khác nhau mà tuổi dộng dục khác nhau. Lợn ngoại có tuổi động dục muộn hơn

lợn nội, chăm sóc, ni dưỡng khơng hợp lý thì tuổi động dục cũng muộn hơn

chăm sóc và ni dưỡng hợp lý.

- Tuổi phối giống lần đầu (ngày): thông thường người ta phối giống lần

đầu vào lần động dục thứ 2 hoặc thứ 3 vì ở lần động dục đầu cơ thể phát triển

chưa đầy đủ, chưa tích lũy đủ dinh dưỡng ni bào thai và trứng rụng ít, chưa

đều nên thường bỏ qua khơng phối giống.

- Tuổi đẻ lứa đầu (ngày): là tuổi khi lợn nái đẻ lứa thứ nhất. Tuổi đẻ lứa

đầu nói lên tuổi thành thục về tính, thể vóc đảm bảo về khối lượng của lợn nái

khi đưa vào phối giống.

- Số con đẻ ra/ổ (con): là tổng số con đẻ ra trong một ổ bao gồm cả số

con đẻ ra còn sống và số con đẻ ra chết. Chỉ tiêu này phản ánh khả năng đẻ

nhiều hay đẻ ít của lợn nái, khả năng nuôi con của lợn nái đồng thời đánh giá

được kỹ thuật chăm sóc lợn nái trong thời gian mang thai và kỹ thuật phối giống.

Nó có ảnh hưởng tới một số chỉ tiêu khác như số con đẻ ra/nái/năm, số con

còn sống tới 24 giờ, khối lượng sơ sinh/ổ, … Do đó, đây là chỉ tiêu quan trọng

đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái. Thông thường số con đẻ ra/ổ khác



8



nhau qua các lứa đẻ và tuân theo một quy luật, lứa đầu thường khơng cao sau

đó tăng lên ở lứa thứ 2, tương đối ổn định ở các lứa tiếp theo đến lứa 6 - 7 sau

đó giảm dần.

- Số con đẻ ra còn sống (con): là số con đẻ ra sống được đến khi lợn mẹ

đẻ ra con cuối cùng. Đây là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng vì nó phản ánh

đúng khả năng đẻ sai hay đẻ ít con của giống đồng thời phản ánh cả chất lượng

đàn con đẻ ra.

- Tỷ lệ sơ sinh còn sống (%): Tỷ lệ này không đảm bảo đạt 100% do nhiều

nguyên nhân như lợn con chết khi đẻ ra, thai gỗ, thai non...

- Số con cai sữa/ lứa (con): Đây là chỉ tiêu quan trọng thể hiện trình độ

chăn ni lợn nái sinh sản. Nó quyết định năng suất và ảnh hưởng rất lớn tới hiệu

quả kinh tế của quá trình chăn ni. Thời gian cai sữa tuỳ thuộc vào trình độ chăn

ni bao gồm kỹ thuật chăm sóc ni dưỡng, vệ sinh thú y, phòng chống dịch bệnh.

Số lợn con cai sữa/lứa đẻ tuỳ thuộc kỹ thuật chăn nuôi lợn nái nuôi con, kỹ thuật

nuôi dưỡng lợn con theo mẹ cũng như khả năng tiết sữa của lợn mẹ và sức đề kháng

và khả năng phòng chống bệnh của lợn con.

Mặt khác số con cai sữa/lứa phụ thuộc vào số con để ni. Người ta có thể

tiêu chuẩn hố số con để nuôi/lứa là từ 8- 10 con. Nếu số con nhiều hoặc ít hơn cần

có sự điều phối giữa các lợn nái và phải làm muộn nhất là 48 giờ sau khi đẻ. Đơn

giản nhất là chuyển lợn đực từ ổ đơng con sang ổ ít hơn 8 con, cần ghi rõ số hiệu

của mẹ nuôi. Khi lợn đạt 21 ngày tuổi cần ghi chép số con nuôi sống/ổ, khối lượng

tồn ổ kể cả những con ni ghép. Việc “chuẩn hố” số con cho mỗi nái có ý

nghĩa quan trọng trong việc đánh giá lợn nái sinh sản. Số lượng lợn con/ổ có ảnh

hưởng đến khả năng sinh sản của chính các con đó sau này. Những lợn nái từng

được nuôi trong ổ đông con sau này sẽ đẻ ra những con cái nhẹ cân hơn, ảnh

hưởng này có ý nghĩa kinh tế lớn hơn các ổ đẻ trên 10 con. Việc tiêu chuẩn hoá số

con đẻ ra/ổ là 8-10 con sẽ giảm bớt ảnh hưởng tiêu cực đó, giúp cho việc xác định

giá trị giống chính xác hơn, vì sau khi được chuẩn hố và được ni dưỡng trong

cùng một môi trường nên khả năng làm mẹ, tiết sữa ni con của lợn nái được

đánh giá chính xác hơn qua số đo về khối lượng của lợn con lúc 21 ngày tuổi.

- Tỷ lệ nuôi sống đến cai sữa (%): tỷ lệ nuôi sống từ sơ sinh đến cai sữa

chịu ảnh hưởng của một số yếu tố như ỉa chảy 10,8%; bệnh đã biết 9,8%; bệnh

chưa biết 13,1%; bị đói 19,9%; bị mẹ đè 43,2%; nguyên nhân khác 3,2%. Lợn con



9



trước cai sữa thường bị chết với các nguyên nhân và tỷ lệ khác nhau như di truyền

4,5%; nhiễm khuẩn 11,1%; mẹ đè, thiếu sữa 50%; dinh dưỡng kém 8%; nguyên

nhân khác 26,4%. Theo Nguyễn Khắc Tích (2002) tỷ lệ lợn con chết sau khi sinh ở

mỗi giai đoạn có sự khác nhau: ngày 1 là 28%; ngày 2: 24%; ngày 3: 11%; từ ngày

4- 7: 10%; từ ngày 8- 14: 15%; từ ngày 15- 21: 6%; từ ngày 22 trở đi: 6%.

- Khối lượng sơ sinh toàn ổ (kg): là khối lượng cân sau khi lợn con đẻ ra,

lau khô, cắt rốn, bấm răng nanh và chưa cho bú sữa đầu. Đây là chỉ tiêu nói lên

khả năng nuôi dưỡng thai của lợn mẹ, kỹ thuật chăn nuôi, chăm sóc, quản lý và

phòng bệnh cho lợn nái chửa của cơ sở chăn nuôi. Khối lượng sơ sinh cao hay

thấp ảnh hưởng đến các giai đoạn sau này.

- Khối lượng cai sữa/ổ (kg): Khối lượng cai sữa của lợn con chịu ảnh

hưởng và có liên quan chặt chẽ với khối lượng sơ sinh. Khối lượng sơ sinh càng

cao thì khả năng khối lượng cai sữa càng lớn. Trong chăn ni lợn nái chửa, việc

chăm sóc ni dưỡng tốt để có khối lượng sơ sinh lớn là cần thiết, làm tiền đề

cho khối lượng cai sữa cao.

- Thời gian cai sữa (ngày): tuỳ thuộc vào trình độ chăn ni bao gồm kỹ

thuật chăm sóc ni dưỡng, vệ sinh thú y, phòng bệnh.

- Thời gian động dục trở lại sau cai sữa (ngày): là thời gian từ lúc cai sữa

đến lúc động dục trở lại. Chỉ tiêu này phụ thuộc vào giống lợn, thể trạng, chế độ

dinh dưỡng trong giai đoạn nuôi con và sau cai sữa. Chỉ tiêu này đánh giá được

tỷ lệ hao hụt của lợn nái, trình độ kỹ thuật, chăm sóc ni dưỡng lợn nái ni con

và lợn nái chờ phối.

- Khoảng cách 2 lứa đẻ (ngày): khoảng cách 2 lứa đẻ là thời gian từ lứa đẻ

này đến lứa đẻ tiếp theo, bao gồm thời gian nuôi con + thời gian chờ phối + thời

gian mang thai. Trong đó, thời gian mang thai thường cố định hoặc biến đổi rất

nhỏ nên khoảng cách hai lứa đẻ phụ thuộc vào thời gian nuôi con và thời gian

chờ phối.

2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

Năng suất sinh sản của lợn nái có mối liên quan chặt chẽ và phụ thuộc vào

2 yếu tố: di truyền và ngoại cảnh. Yếu tố di truyền phụ thuộc vào đặc tính con

giống, các giống lợn khác nhau thì có tính năng sản xuất khác nhau. Yếu tố ngoại

cảnh bao gồm thức ăn dinh dưỡng, vệ sinh thú y, chuồng trại. Mặt khác năng suất

sinh sản của lợn nái được thể hiện qua nhiều chỉ tiêu như: số trứng rụng, tỷ lệ thụ



10



thai, số con đẻ ra còn sống, số con cai sữa/lứa, thời gian chờ phối... Các chỉ tiêu

này có hệ số di truyến thấp nên chúng chịu sự tác động mạnh mẽ của các điều kiện

ngoại cảnh.

2.2.2.1. Yếu tố di truyền

Giống là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái

(Đặng Vũ Bình, 1999), Trần Tiến Dũng và cs., (2002).

Theo Legault (trích từ Rothschild và cs., 1998), căn cứ vào khả năng sinh

sản và sức sản xuất thịt, các giống lợn được chia làm bốn nhóm chính như sau:

- Các giống đa dụng như Yorkshire, Landrace và một số dòng ngun

chủng được xếp vào loại có khả năng sản xuất thịt và sinh sản khá.

- Các giống chuyên dụng "dòng bố" như Pietrain, Landrace của Bỉ, Hampshire,

Poland China có khả năng sinh sản trung bình nhưng khả năng sản xuất thịt cao.

- Các giống chuyên dụng "dòng mẹ", đặc biệt một số giống chuyên sản của

Trung Quốc như Taihu (điển hình là Meishan) có khả năng sinh sản đặc biệt cao

nhưng khả năng cho thịt kém.

- Các giống địa phương có đặc tính chung là khả năng sinh sản và sức sản

xuất thịt kém, song có khả năng thích nghi tốt với mơi trường.

- Các giống "dòng bố" thường có khả năng sinh sản thấp hơn so với các

giống đa dụng, ngồi ra chúng có chiều hướng hơi kém về khả năng nuôi con, tỷ

lệ lợn con chết trước khi cai sữa của các giống này cao hơn so với Landrace và

Large white (Blasco et al., 1995).

Năng suất sinh sản của lợn nái chịu ảnh hưởng của giống và cá thể, mỗi

một giống có một đặc tính sản xuất gắn liền với năng suất và hiệu quả kinh tế của

nó, giống khác nhau thì có năng suất khác nhau.

2.2.2.2. Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của lợn nái như: Chế độ

nuôi dưỡng, tuổi, phương thức phối, lứa đẻ, mùa vụ, nhiệt độ môi trường, thời

gian chiếu sáng, bệnh tật... (Martinez, 2000).

- Chế độ nuôi dưỡng

Dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng để đảm bảo khả năng sinh sản

của lợn nái. Lợn nái và lợn cái hậu bị có chửa cần được cung cấp đủ về số và

chất lượng các chất dinh dưỡng để có kết quả sinh sản tốt.



11



Yamada et al. (1998) nhận thấy nuôi dưỡng hạn chế đối với lợn cái trong

giai đoạn hậu bị sẽ làm tăng tuổi động dục lần đầu, tăng tỷ lệ loại thải so với nuôi

dưỡng đầy đủ. Ni dưỡng tốt lợn nái trước khi động dục có thể làm tăng số

lượng trứng rụng, tăng số phôi sống.

Lợn nái ăn gấp đôi lượng thức ăn ở giai đoạn trước khi phối giống và ở

ngày phối giống so với bình thường có tác dụng làm tăng số lượng trứng rụng và

số con đẻ ra/ổ. Nuôi dưỡng lợn nái với mức cao ở thời kỳ chửa đầu có thể làm

tăng tỷ lệ chết phôi ở lợn nái mới đẻ.

Theo Gordon (2004) cho biết tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết

sữa ở giai đoạn đầu và giữa chu kỳ tiết sữa sẽ có tác dụng giảm thời gian động dục

trở lại hơn là tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn cuối,

tăng lượng thức ăn thu nhận cho lợn nái tiết sữa ở giai đoạn giữa và cuối chu kỳ

tiết sữa sẽ có tác dụng tăng khối lượng cai sữa hơn là tăng ở giai đoạn đầu.

Nuôi dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức protein thấp

trong khẩu phần sẽ làm tăng thời gian động dục trở lại. Mức dinh dưỡng protein

thấp trong thời kỳ chửa cuối sẽ làm cho lợn nái phải huy động dinh dưỡng của cơ

thể để ni thai, do đó làm giảm khả năng sống của thai và lợn con khi đẻ cũng

như sau khi đẻ làm giảm khả năng tiết sữa của lợn mẹ, do đó dẫn đến lợn nái sinh

sản kém.

Ni dưỡng lợn nái trong thời kỳ tiết sữa nuôi con với mức lyzin thấp và

Protein thấp sẽ làm giảm khả năng trưởng thành của tế bào trứng, giảm số con đẻ ra

và số con còn sống trên ổ, tăng tỷ lệ hao hụt của lợn mẹ và giảm tốc độ sinh trưởng

của lợn con (Yang et al., 2000), Podtereba (1997) xác nhận có 9 axit amin cần thiết

đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh sản và trong quá trình phát triển của

phôi. Song mức protein quá cao trong khẩu phần sẽ không tốt cho lợn nái.

- Phương thức nuôi và trình độ kỹ thuật

Phương thức ni và trình độ kỹ thuật có ảnh hưởng tới q trình phát

triển sinh dục của lợn cái. Ở lợn hậu bị nếu nuôi nhốt và cách biệt lợn đực thì

tuổi thành thục sinh dục sẽ dài hơn. Theo Hughes and Jemes (1996) thì có đến

83% lợn cái hậu bị có khối lượng cơ thể trên 90kg động dục lúc 165 ngày tuổi

nếu được tiếp xúc với đực giống 2 lần/ngày, 20-25 phút/lần. Mặt khác tuổi động

dục lần đầu của lợn nái sẽ bị chậm ít nhất một tháng nếu điều kiện chuồng ni

khơng đảm bảo mật độ và vệ sinh thú y. Để đạt kết quả tốt thì lợn cái hậu bị phải



12



được ni chung thành nhóm đồng đều về giống, tuổi, khối lượng với mật độ

từng thời kỳ: 3-5 tháng tuổi thì 0,4-0,5m2/con; 6-8 tháng tuổi: 0,5-0,8m2/con (5-6

con/nhóm) sẽ đảm bảo cho lợn động dục lần đầu đúng thời gian.

Kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Vân (1999) cho thấy giai đoạn nuôi

hậu bị, lợn cái nhốt chung sẽ tốt hơn nuôi riêng biệt từng con và phải đảm bảo

diện tích 0,8-1m2/con. Khi lợn đực được 5,5-6 tháng tuổi dắt lợn đực đi qua

chuồng 2 lần/ngày, 10-15 phút/lần.

- Mùa vụ

Mùa vụ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái.

Gaustad -Aas et al. (2004) cho biết mùa vụ có ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ.

Tỷ lệ thụ thai bị ảnh hưởng bởi nhiệt độ và mùa vụ. Lợn nái phối giống

vào các tháng nóng có tỷ lệ thụ thai thấp, làm tăng số lần phối giống, giảm khả

năng sinh sản từ 5-20%.

Nhiều nghiên cứu đã chỉ rõ ảnh hưởng của stress nhiệt đến khả năng sinh

sản của lợn nái. Nhiệt độ cao làm cho tỷ lệ loại thải nái cao (30 - 50%) và làm

thiệt hại về kinh tế trong chăn nuôi nái sinh sản và từ tháng 7 đến tháng 11, lợn

nái dễ dàng không động dục (Gordon, 1997). Số con đẻ ra/ổ khi phối giống vào

mùa hè có thể thấp hơn so với khi phối giống vào mùa thu, mùa đông (Peltoniemi

et al., 2000). Tỷ lệ thụ thai thấp và số con đẻ ra ít vào mùa hè đã được

Dominguez et al.. (1998) xác nhận.

Stress nhiệt có thể làm giảm tỷ lệ thụ thai tới 20%, giảm số phơi sống 20% và

do đó làm giảm thành tích sinh sản của lợn nái (Peltoniemi et al., 2000).

- Tuổi đẻ và lứa đẻ

Tuổi đẻ và lứa đẻ đều là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến số con đẻ ra/ổ.

Lợn nái kiểm định có tỷ lệ thấp hơn so với lợn nái sinh sản, số lượng trứng rụng

thấp nhất ở chu kỳ động dục thứ nhất, tăng đến 3 tế bào trứng ở chu kỳ động dục

thứ hai và đạt tương đối cao ở chu kỳ động dục thứ ba (Koketsu et al., 1998). Số

con đẻ ra tương quan thuận với số lượng trứng rụng (Gordon, 1997).

Lứa đẻ là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái

vì có sự khác nhau về chức năng theo tuổi của lợn nái. Khả năng sinh sản của lợn

nái thường thấp nhất ở lứa đẻ thứ nhất, đạt cao nhất ở lứa đẻ thứ 3, 4, 5 và sau đó

gần như là ổn định hoặc hơi giảm khi lứa đẻ tăng lên.



13



- Phương thức phối giống.

Theo Anon (1993) phối giống kết hợp giữa thụ tinh nhân tạo và nhảy trực

tiếp có thể làm tăng 0,5 lợn con so với phối riêng rẽ (Trích từ Ian Gordon, 1997).

Phối giống bằng thụ tinh nhân tạo, tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra/ổ đều thấp hơn (010%) so với phối giống trực tiếp (Whittemore, 1998).

- Thời gian cai sữa

Gaustad-Aas et al. (2004) cho biết: Phối giống sớm sau khi đẻ, tỷ lệ đẻ và

số con đẻ ra/ổ thấp hơn so với phối giống muộn. Theo Gordon (2004), giảm thời

gian cai sữa từ 15 xuống còn 10 ngày sẽ làm giảm trên 0,2 con trong ổ.

Lợn nái cai sữa ở 28-35 ngày, thời gian động dục trở lại 4-5 ngày có thể phối

giống và có thành tích sinh sản tốt (Whittemore, 1998). Lợn nái cai sữa sớm có tỷ lệ

thụ thai thấp, số phơi sống ít và thời gian động dục trở lại dài (Deckert et al., 1998).

2.3. ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ, SINH TRƯỞNG CỦA LỢN CON VÀ CÁC YẾU

TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NĂNG SUẤT SINH TRƯỞNG

2.3.1. Đặc điểm sinh lý và sinh trưởng phát triển của lợn con

Khả năng sinh trưởng lợn con có liên quan chặt chẽ và ảnh hưởng mang

tính quyết định tới khối lượng cai sữa và khối lượng xuất chuồng sau này.

Thời gian trong thai của lợn trung bình là 114 ngày. Trong thực tế sản

xuất chia giai đoạn này làm 2 thời kỳ: Chửa kỳ 1 (từ khi phối giống có chửa đến

84 ngày) và chửa kỳ 2 (từ ngày thứ 85 đến ngày đẻ). Dựa vào đó để định ra chế

độ chăm sóc ni dưỡng cho phù hợp nhằm đảm bảo cho phôi phát triển tốt mà

lợn mẹ vẫn bình thường.

Sau khi được sinh ra khỏi cơ thể mẹ, lợn con sẽ phải trải qua 4 giai đoạn

(bú sữa, thành thục, trưởng thành và già cỗi). Giai đoạn bú sữa rất quan trọng, nó

ảnh hưởng tới khối lượng lợn con cai sữa. Nếu nuôi dưỡng tốt lợn con ở giai

đoạn này sẽ làm tăng khả năng sinh sản của lợn mẹ và làm cơ sở cho quá trình

sinh trưởng của lợn con những giai đoạn tiếp theo.

Đặc điểm sinh trưởng của lợn con: Lợn con có khả năng sinh trưởng rất

mạnh, thể hiện bằng khả năng tăng khối lượng của cơ thể. Sau khi đẻ ra 1 tuần

khối lượng lợn con gấp 2 lần khối lượng sơ sinh, đến khi cai sữa ở 60 ngày tuổi

gấp 10- 15 lần. Khối lượng cai sữa chịu ảnh hưởng và có liên quan chặt chẽ với

khối lượng sơ sinh. Khối lượng sơ sinh càng cao thì khả năng khối lượng cai sữa



14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×