Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.5: Đồ thị thể hiện top 5 thị phần của các thương hiệu bột giặt tại ba vùng miền Bắc, Trung , Nam ở Việt Nam năm 2016

Hình 2.5: Đồ thị thể hiện top 5 thị phần của các thương hiệu bột giặt tại ba vùng miền Bắc, Trung , Nam ở Việt Nam năm 2016

Tải bản đầy đủ - 0trang

Phân tích hành vi tiêu dùng sản phẩm bột giặt tại thị trường Việt Nam



Ở miền Bắc , sự thay đổi thường xem là tích cực nên những mặt hàng mới, chất

lượng cao được đặt giá rất cao vì nó tượng trưng cho sự thay đổi. Nhưng ở miền Nam

thay đổi có thể đựơc xem là khơng tốt, một mức giá cao hơn cho sản phẩm mới

thường chỉ làm sản phẩm trở nên quá đắt cho người tiêu dùng bình thường. Khác với

người tiêu dùng miền Bắc, người miền Nam có xu hướng mua sắm nhanh và tùy

hứng. Khơng bị áp lực bởi tâm lý khẳng định bản thân, thể hiện đẳng cấp và cũng

khơng có thói quen tiết kiệm để chi trả cho các sản phẩm đắt tiền nên họ có khuynh

hướng mua các sản phẩm rẻ tiền hơn và mua sắm cũng thoải mái hơn. Theo báo cáo

được thực hiện bởi Q&Me được đăng tải trên Brands Vietnam còn cho thấy rõ

khoảng cách về sự khác biệt này giữa người miền Nam và miền Bắc khi xem một

đoạn quảng cảo bột giặt về Tết. 37% (Rất hứng thú = 17%, Hứng thú = 20%) người

miền Bắc thể hiện sự quan tâm thích thú, trong khi đó, con số này lên tới 50% đối

với người miền Nam (Rất hứng thú = 26%, Hứng thú = 24%). Trong khi đó, 75%

người miền Bắc cho rằng họ thích các quảng cáo độc đáo, vui nhộn và 49% cho rằng

họ cảm thấy thoải mái với sản phẩm có nhiều quảng cáo. Thực tế cho thấy sản phẩm

bột giặt cũng hưởng ứng tích cực các hoạt động tết cổ truyền người Việt Nam như

“Omo vé tết đoàn viên”, “Aba quà tặng tết cho mọi nhà”,… nhằm thu hút, khuyến

khích, kích thích nhu cầu mua bột giặt vào ngày tết. Khơng những thế hình thức

khuyến mãi giảm giá được ưu chuộng tại miền Bắc hơn, trong khi các hoạt động

marketing áp dụng nhiều loại hình khuyến mãi nhằm hấp dẫn người tiêu dùng miền

Nam hơn. Mỗi nền văn hố sẽ có những hành động khác nhau, các nền văn hố khác

nhau sẽ có cách ứng xử khác nhau phù hợp với nền văn hoá của họ.

Đặc biệt nói đến thương hiệu bột giặt trong những năm 2013 – 2015, người

tiêu dùng đều biết đến thông tin cuộc cạnh tranh giữa bột giặt ngoại và nội. Điều này

ảnh hưởng rất lớn đến hành vi tiêu dùng bột giặt của người Việt Nam. Hành vi mua

của người Việt Nam đối với hàng nội, hàng ngoại đang trở thành chủ đề nóng. Trong

bối cảnh tồn cầu hóa, Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới.

người tiêu dùng Việt có xu hướng dùng hàng ngoại vì chất lượng và thương hiệu. Vì

SVTH: Hồ Ngọc Kim Uyên



21



Phân tích hành vi tiêu dùng sản phẩm bột giặt tại thị trường Việt Nam



vậy các mặt hàng bột giặt ngoại được người Việt Nam tin dùng rất nhiều như Omo,

Tide,… và mặt hàng bột giặt nội như Lix, Net chưa được quan tâm nhiều. Do đó sự

giao lưu và biến đổi văn hóa cũng ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng hàng nội và hàng

ngoại.

2.2.2.



Yếu tố xã hội

Đối với sản phẩm bột giặt là sản phẩm mà mọi tầng lớp xã hội đều sử dụng và



quan tâm, nhưng mỗi tầng lớp quan tâm đến mỗi yếu tố khác nhau. Tầng lớp thượng

lưu là những người giàu có, có địa vị cao trong xã hội và có hành vi tiêu dùng gần

như giống nhau thích hình thức sản phẩm giá cao và hàng hóa có thương hiệu… Vì

thế, đối với sản phẩm bột giặt họ quan tâm về mặt uy tín, tính cơng nghệ cao, thương

hiệu,…Và họ thường sử dụng những thương hiệu bột giặt mới có tính năng vượt trội,

giá cao, áp dụng công nghệ mới,… Gần với tầng lớp thượng lưu, tầng lớp trung lưu

(chủ yếu bao gồm cơng chức, viên chức, nhân viên) thích hàng hóa tốt mặc dù hơi

đắt, có chất lượng, có thương hiệu và đặc biệt trung thành với thương hiệu ưa thích.

Ở tầng lớp trung lưu người tiêu dùng chọn lựa thương hiệu bột giặt dựa vào chất

lượng là chủ yếu. Cuối cùng là tầng lớp bình dân, chủ yếu người dân lao động, cơng

nhân có thu nhập thấp,… Họ quan tâm mặt hàng có giá vừa phải, phù hợp túi tiền.

Để đáp ứng nhu cầu bột giặt cho tầng lớp bình dân, thương hiệu bột giặt phải có giá

cả hợp lý. Song song đó chức năng chính mà người tiêu dùng bình dân cần ở bột giặt

là tầy trắng, sạch bẩn. Mỗi tầng lớp có một hành vi khác nhau, quan tâm đến mỗi yếu

tố khác nhau của sản phẩm bột giặt. Hiện nay để đáp ứng từng nhu cầu khả năng

khác nhau của mọi tầng lớp xã hội, các thương hiệu bột giặt rất đa dạng về khối

lượng, giá sản phẩm. Điển hình với thương hiệu bột giặt Omo, hiện nay Omo có bao

bì gói lớn nhỏ khác nhau 400g, 800g, 3kg, 4,5 kg, 6kg,.. với mức giá tương ứng

17.500đ, 35.000đ, 125.000đ, 187.000đ, 235.000đ. So với thương hiệu bột giặt Ariel

bao bì hoặc khá nhỏ hoặc khá lớn điển hình bao bì 720g, 2,5kg, 4,1kg với mức giá

tương ứng 36.000đ, 119.500đ, 189.000đ.



SVTH: Hồ Ngọc Kim Uyên



22



Phân tích hành vi tiêu dùng sản phẩm bột giặt tại thị trường Việt Nam



2.2.3.



Yếu tố tâm lý

Trước khi người tiêu dùng quyết định mua một thương hiệu bột giặt họ sẽ bị



ảnh hưởng bởi một số người khác. Từ trước đến nay người Việt Nam đã sống như

một tập thể, gắn bó nhau, trao đổi giúp đỡ lẫn nhau. Vì thế trong mọi hoạt động hành

vi mua sắm mọi người đều có thể trao đổi thơng tin với nhau. Có thể là bạn bè trao

đổi, những người thân trong gia đình, đồng nghiệp, hàng xóm láng giềng trao đổi. Họ

chia sẽ thơng tin hiểu biết của mình về một thương hiệu bột giặt nào đó mà họ quan

tâm hay họ đang trải nghiệm. Những thơng tin chia sẽ đó có thể là sự hài lòng về

những ưu điểm của thương hiệu hay cũng có thể là những phản hồi tiêu cực về

thương hiệu. Người tiêu dùng được chia sẽ họ sẽ tiếp nhận rất nhiều thông tin, thông

tin theo hiểu biết của bản thân, thông tin được chia sẽ,… Theo tâm lý của nhóm

người tiêu dùng dễ thay đổi quan điểm của mình thì họ sẽ thay đổi hành vi tiêu dùng.

Họ sẽ phân vân giữa nhiều lựa chọn và thường quyết định mua thương hiệu bột giặt

nào mà số đông sử dụng. Vì họ tự tin tin tưởng vào số đơng hơn. Trái lại đối với

người tiêu dùng có tâm lý khó thay đổi quyết định, họ không dễ dàng thay đổi hành

vi tiêu dùng cũng như thói quen tiêu dùng thương hiệu bột giặt của mình. Mặc dù họ

tiếp nhận lượng thông tin khá đa dạng về nhiều thương hiệu bột giặt nhưng họ tin

tưởng những thông tin họ hiểu biết hơn là thông tin đến từ người tiêu dùng khác. Ở

người tiêu dùng có tâm lý dễ thay đổi thương hiệu bột giặt thì họ có xu hướng dùng

thử đối với sản phẩm mới. Sản phẩm bột giặt mới đem lại cảm giác tò mò, kèm theo

thơng tin của những người xung quanh dễ hình thành hành vi mua sắm dùng thử.

Còn ở người tiêu dùng có tâm lý khó thay đổi thì họ sẽ quan tâm đến chứng minh

khoa học về sản phẩm đó hay những những trải nghiệm thực tế của bản thân. Và bản

thân những người tiêu dùng này có sức ảnh hưởng khá lớn đối với mọi người xung

quanh. Bởi vì chính những lòng tin của họ có căn cứ có cơ sở. Tuy nhiên đối với

người tiêu dùng có tâm lý dễ thay đổi hay khơng thì lòng tin vào thương hiệu bột giặt

vẫn rất quan trọng.



SVTH: Hồ Ngọc Kim Uyên



23



Phân tích hành vi tiêu dùng sản phẩm bột giặt tại thị trường Việt Nam



2.2.4.



Nhận thức cá nhân

Ngoài sự ảnh hưởng của những người xung quanh thì cá nhân của mỗi người



cũng có những ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng bột giặt. Trước hết là nhận thức của

người tiêu dùng hay nói cách khác là sự hiểu biết cũng ảnh hưởng đến quá trình mua

sản phẩm bột giặt. Những người có nhận thức cao thì thái độ của họ đối với những

sản phẩm khác biệt so với những người có nhận thức chưa cao. Đối với người tiêu

dùng có nhận thức chưa cao họ chỉ quan tâm đến công dụng của bột giặt. Và thường

họ sẽ có hành vi dùng thử sản phẩm, họ chưa có lòng tin về chất lượng, hiệu quả của

bột giặt trong thời gian sử dụng ban đầu. Họ dễ dàng thay đổi thương hiệu bột giặt,

dễ bị ảnh hưởng bởi chiến lược giá, khuyến mãi, sản phẩm mới. Trái ngược lại,

người tiêu dùng có nhận thức cao sẽ quan tâm đến sản phẩm nhiều hơn về thành

phần bột giặt, công nghệ sản xuất, công dụng của bột giặt, tác dụng phụ sau khi

dùng. Theo khảo sát của công ty nghiên cứu thị trường Q&Me năm 2016 người tiêu

dùng họ khơng thích các sản phẩm bột giặt / nước giặt hiện tại vì nó làm da tay trở

nên q khơ khi giặt tay hoặc như họ khơng thích sản phẩm bột giặt / nước giặt chứa

quá nhiều thành phần chất tẩy. Theo trang web tư vấn Review đối với các thương

hiệu bột giặt hiện tại trên thị trường Việt Nam cho rằng đa phần bột giặt có chứa

nhiều hoạt chất khác nhau nhưng chủ yếu là các chất hoạt động bề mặt, enzyme và

chất tẩy trắng. Các chất hoạt động bề mặt chiếm 50% thành phần bột giặt, có chức

năng làm sạch quần áo. Hai thành phần khác là enzyme và chất tẩy trắng. Enzym

giúp đẩy nhanh quá trình phân hủy những vụn thức ăn bám lại trên quần áo, chất tẩy

trắng có chứa peroxide giúp các sợi vải trắng sáng hơn. Chất tạo bọt là những thành

phần hóa chất thúc đẩy việc tạo bọt và giữ cho bong bong khó vỡ. Theo chuyên gia

sức khỏe cộng đồng của EPA (cơ quan bảo vệ môi sinh Hoa Kỳ), bột giặt có khả

năng tẩy trừ chất bẩn bám trên quần áo, nhưng đồng thời cũng lưu lại chất hóa học có

độc. Nếu trên thành phần bột giặt ghi là có Polyethylene, Polyethylene glycol,

Polyoxyethylene thì đều có khả năng có Dioxane - một chất gây ung thư. Do đó tùy



SVTH: Hồ Ngọc Kim Uyên



24



Phân tích hành vi tiêu dùng sản phẩm bột giặt tại thị trường Việt Nam



thuộc vào sự hiểu biết của mỗi người tiêu dùng họ sẽ có những quyết định mua

thương hiệu bột giặt khác nhau.

2.2.5.



Thói quen giặt quần áo

Khơng chỉ có sự hiểu biết mà thói quen giặt quần áo cũng làm ảnh hưởng đến



hành vi tiêu dùng bột giặt. Theo khảo sát của Q&Me về thói quen giặt quần áo năm

2016 của phụ nữ, có 65% phụ nữ Việt Nam giặt quần áo mỗi ngày. Do thói quen giặt

mỗi ngày nên khối lượng sản phẩm bột giặt cũng như bao bì đóng gói bột giặt có

dung lượng lớn thường được lựa chọn nhiều hơn nhằm tiết kiệm chi phí. Khảo sát tại

bảy thành phố lớn của Việt Nam năm 2015 cho thấy phụ nữ bị tác động mạnh hơn so

với nam giới trong các tác động tiêu dùng và họ gây ảnh hưởng trực tiếp lên hành vi

tiêu dùng hàng ngày. Và họ có thể điều chỉnh chi tiêu rất nhanh chóng sau các thơng

tin tiêu cực từ truyền thông; họ thường cho điểm thấp hơn nam giới trước các câu hỏi

về sự lạc quan tài chính gia đình. Khi được hỏi bạn sử dụng phương pháp nào để giặt

quần áo hầu hết họ dùng máy giặt để giặt quần áo (56%). Tuy nhiên vẫn còn 42%

người chỉ giặt quần áo bằng tay hoặc giặt tay trước khi bỏ vào máy.

3.



SVTH: Hồ Ngọc Kim Uyên



25



Phân tích hành vi tiêu dùng sản phẩm bột giặt tại thị trường Việt Nam



Hình 2.7: Đồ thị thể hiện phương pháp giặt quần áo của người tiêu dùng tại Việt

Nam năm 2016



Phương pháp giặt

56%

42%



2%

Giặt máy



Giặt tay



Sử dụng dịch vụ giặt ủi



Nguồn: Công ty nghiên cứu thị trường Q&Me (2016)



Ngoài ra, bột giặt là sản phẩm được sử dụng nhiều nhất để giặt quần áo (75%). Tuy

nhiên đối với bột giặt phù hợp với từng phương pháp giặt cũng ảnh hưởng đến quá

trình mua sản phẩm bột giặt. Theo đánh giá của người tiêu dùng được đăng tải trên

trang Review năm 2015 họ cho rằng nếu dùng bột giặt tay cho máy giặt, bạn phải

vò trước quần áo để làm sạch các vết bẩn ở cổ tay và cổ áo trước khi cho vào máy

giặt. Do máy giặt sử dụng động cơ để vò và đảo quần áo, giúp làm sạch các vết bẩn

nhờ vào chuyển động xốy của dòng nước kết hợp với bột giặt. Máy giặt không

phân biệt được các vết bẩn ở đâu trên quần áo, nên với một khối lượng nước như

vậy, bạn cần một loại bột giặt được thiết kế riêng cho việc giặt máy để quần áo có

thể được giặt sạch hiệu quả. Ngồi ra bột giặt tay sinh ra quá nhiều bọt xà phòng sẽ

tràn qua lồng giặt, làm ẩm môi trường bên trong máy và mô tơ nên máy dễ hỏng.

Các sản phẩm chuyên dụng cho giặt máy thường ít bọt hơn nhưng lại có sức mạnh

đánh tan vết bẩn này trong máy cao hơn, giúp quần áo mau sạch và tiết kiệm nước

hơn.



SVTH: Hồ Ngọc Kim Uyên



26



Phân tích hành vi tiêu dùng sản phẩm bột giặt tại thị trường Việt Nam



Hình 2.8: Đồ thị thể hiện dạng chất giặt tẩy quần áo của người tiêu dùng tại Việt

Nam năm 2016

Dạng chất giặt tẩy quần áo



24.00%



1.00%



Bột giặt

Nước giặt

Dạng chất tẩy khác



75.00%



Nguồn: Công ty nghiên cứu thị trường Q&Me (2016)



2.2.6. Nhu cầu người tiêu dùng

Ngoài những yếu tố nêu trên tác động đến hành vi tiêu dùng thì nhu cầu của

người tiêu dùng cũng rất quan trọng. Trước hết người tiêu dùng sẽ có nhu cầu giặt

tẩy quần áo, từ nhu cầu đó mới xuất phát động cơ tiêu dùng bột giặt. Hiện tại

thường có sự lẫn lộn giữa các khái niệm nhu cầu và động cơ. Có thể nói nếu nhu

cầu là cảm xúc cần thỏa mãn thì động cơ là hành động làm thỏa mãn cảm xúc đó.

Động cơ người tiêu dùng là cảm xúc đủ mạnh để suy nghĩ và hành động. Việc hiểu

động cơ người tiêu dùng bột giặt giúp chúng ta hiểu được điều gì đã thúc đẩy họ

sử dụng thương hiệu bột giặt này hay thương hiệu bột giặt khác. Và nhu cầu của

người tiêu dùng thì chỉ có một là nhu cầu giặt tẩy nhưng mong muốn thì nhiều và

thường xuyên thay đổi, không ngừng phát triển . Mong muốn là sự ao ước có được

những thứ cụ thể để thoả mãn những nhu cầu sâu xa hơn đó. Đó chính là những ao

ước bột giặt hòa tan nhanh, giặt sạch hơn, trắng hơn, bột giặt có mùi hương thơm

lâu, mềm vải,… Và từ những mong muốn đó người tiêu dùng yêu cầu sản phẩm

SVTH: Hồ Ngọc Kim Uyên



27



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.5: Đồ thị thể hiện top 5 thị phần của các thương hiệu bột giặt tại ba vùng miền Bắc, Trung , Nam ở Việt Nam năm 2016

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×