Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trong khuôn khổ WTO, thông qua các vòng đàm phán về lộ trình cắt giảm

thuế quan, thuế suất ràng buộc sẽ được đưa vào danh mục thuế quan của mỗi quốc

gia và được công bố rộng rãi. WTO từ khi thành lập đã có 22500 trang danh mục

thuế quan cam kết của các nước đối với một số loại hàng hóa cụ thể được thỏa

thuận trong khuôn khổ WTO, nhất là những cam kết giảm thuế và mức thuế trần

đối với hàng hóa nhập khẩu. Mức thuế trần chính là những cam kết không tăng

thuế vượt quá một mức đã được xác định, được gọi là mức “trần”, thường là mức

thuế đang được áp dụng trên thực tế. Có nhiều mức thuế “trần” khác nhau và đa số

các nước đang phát triển có mức thuế “trần” cao hơn một chút so với các mức thuế

đang áp dụng. Những cam kết về thuế quan có giá trị ràng buộc đối với các thành

viên. Để đảm bảo kết quả đàm phán về thuế cũng như mở rộng thương mại ổn

định, WTO cấm các nước thành viên đánh thuế cao hơn mức thuế mà họ đã cam

kết và không cho phép các thành viên tự ý thay đổi mức thuế này.

Tuy nhiên, trong trường hợp nền sản xuất trong nước gặp khó khăn do lượng

nhập khẩu tăng đột biến là hệ quả của việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan, tự do hóa

thương mại, cùng với đó là có những thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho nền

sản xuất trong nước mà nước đó đã có tiến hành điều tra theo luật định thì nước

nhập khẩu có quyền áp dụng biện pháp thuế quan như một biện pháp tự vệ khi có

đủ căn cứ áp dụng. Mức thuế tăng và phải tính toán trong một thời gian hợp lý sau

đó sẽ dỡ bỏ dần. Mục đích là để tạm thời hạn chế nhập khẩu, tranh thủ thời gian

phục hồi sản xuất, khắc phục thiệt hại, thích nghi với môi trường cạnh tranh để dần

lấy lại thị trường chú không nhằm mục đích nào khác ( đặc biệt không được nhằm

mục đích chính trị, phân biệt đối xử…)

ii.



Biện pháp phi thuế quan (hạn chế định lượng)



Hạn chế định lượng là một trong những biện pháp để bảo vệ sản xuất trong

nước. Biện pháp hạn chế định lượng bao gồm các hình thức: hạn ngạch; giấy phép;

cấm xuất khẩu, nhập khẩu… do một nước thành viên áp dụng nhằm hạn chế lượng



nhập khẩu từ nước thành viên khác. Điều XI, Hiệp đinh GATT 1994 quy định:

“Không một sự cấm hay hạn chế nào khác ngoại trừ thuế quan và các khoản thu

khác, dù mang hình thức hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu hay xuất khẩu hoặc các

biện pháp khác sẽ được bất cứ một bên ký kết nào định ra hay duy trì nhằm vào

việc nhập khẩu từ lãnh thổ của bất kỳ bên ký kết nào hay nhằm vào việc xuất khẩu

hay bán hàng để xuất khẩu đến lãnh thổ của bất kỳ bên ký kết nào.”

Về nguyên tắc, biện pháp hạn chế định lượng bị cấm trong WTO. Tuy nhiên,

ngoại lệ trong trường hợp khi ngành sản xuất trong nước bị thiệt hại khi nhập khẩu

ồ ạt thì có thể áp dụng biện pháp hạn chế định lượng là một biện pháp tự vệ đế cứu

vãn sản xuất trong nước. Trong những trường hợp khác, biện pháp hạn chế định

lượng cũng được WTO cho phép như một biện pháp trả đũa đối với thành viên

không tuân thủ nghĩa vụ trong một chừng mực nhất định. Ngoài ra, hạn chế định

lượng cũng được cho phép sử dụng với mục đích bảo vệ cán cân thanh toán của

một quốc gia và một số ngoại lệ chung như: bảo vệ sức khỏe con người, động vật,

bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên.

Khoản 1, Điều 5, Hiệp định SG quy định: “Nếu một biện pháp hạn chế định

lượng được sử dụng, thì biện pháp này sẽ không làm giảm số lượng nhập khẩu

dưới mức nhập khẩu trung bình của 3 năm đại diện gần nhất có số liệu thống kê,

trừ khi có sự biện minh rõ ràng rằng cần có một mức khác để ngăn ngừa hoặc

khắc phục thiệt hại nghiêm trọng. Các Thành viên sẽ chọn biện pháp thích hợp

nhất để thực hiện được các mục tiêu này.”

Như vậy, khi áp dụng biện pháp hạn chế định lượng thì quốc gia áp dụng

phải đảm bảo rằng biện pháp này không làm giảm số lượng nhập khẩu dưới mức

nhập khẩu trung bình của 3 năm đại diện gần nhất hay một mức khác khi có căn cứ

rằng mức này có thể ngăn ngừa hoặc khắc phục thiệt hại nghiêm trọng. Ngoài ra,

trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ giữa các nước xuất khẩu, khi áp dụng

biện pháp tự vệ thương mại, nước áp dụng có thể thỏa thuận với các nước có hàng



hóa xuất khẩu về phân bổ hạn ngạch đối với từng nước này. Trong trường hợp

không áp dụng được phương pháp trên, nước nhập khẩu sẽ phân bổ cho các nước

xuất khẩu thị phần, tính theo tổng giá trị hay số lượng sản phẩm được nhập từ các

nước đó trong một khoảng thời gian đại diện và có tính đến một số yếu tố khác.

Các hình thức hạn chế định lượng cụ thể:

Hạn ngạch hay quotas là quy định của nhà nước về số lượng hay giá trị hàng

hóa cao nhất được nhập khẩu trong một khoảng thời gian nhất định (thường là một

năm). Có nhiều loại hạn ngạch khác nhau như: hạn ngạch toàn cầu, hạn ngạch song

phương, hạn ngạch theo mùa, hạn ngạch đối với sản phẩm nhạy cảm, hạn ngạch

xuất khẩu (liên quan đến giảm bớt sự khan hiếm lương thực hay nguồn nguyên liệu

nào đó…), hạn ngạch liên quan đến bán hàng hoá trong nội địa…

Giấy phép nhập khẩu được xác định như là các thủ tục hành chính được sử

dụng để thực hiện chế độ cấp phép nhập khẩu, đòi hỏi đệ trình đơn hay các tài liệu

khác (không liên quan tới mục đích hải quan) tới các cơ quan hành chính thích hợp

là điều kiện tiên quyết để được phép nhập khẩu.

Cấm xuất khẩu, nhập khẩu là biện pháp bảo hộ cao nhất, gây ra hạn chế lớn

nhất đối với thương mại quốc tế. Trong thương mại quốc tế có nhiều trường hợp

cấm nhập khẩu như: cấm hoàn toàn, cấm theo mùa, cấm tạm thời, cấm vận, cấm

sản phẩm nhạy cảm, tạm dừng cấp phép nhập khẩu….

2.



Trình tự, thủ tục áp dụng biện pháp tự vệ

a) Trình tự, thủ tục



Khác với trường hợp các vụ kiện chống bán phá giá hay chống trợ cấp,

WTO không có nhiều quy định chi tiết về trình tự, thủ tục kiện áp dụng biện pháp

tự vệ. Tuy nhiên, Hiệp định về Biện pháp tự vệ của WTO có đưa ra một số các

nguyên tắc cơ bản mà tất cả các thành viên phải tn thủ, ví dụ:







Đảm bảo tính minh bạch: Quyết định khởi xướng vụ điều tra tự vệ

phải được thông báo công khai; Báo cáo kết luận điều tra phải được

cơng khai vào ći c̣c điều tra…







Đảm bảo quyền tố tụng của các bên: các bên liên quan phải được đảm

bảo cơ hội trình bày các chứng cứ, lập luận của mình và trả lời các

chứng cứ, lập ḷn của đới phương;







Đảm bảo bí mật thơng tin: đối với thông tin có bản chất là mật hoặc

được các bên trình với tính chất là thông tin mật không thể được công

khai nếu không có sự đồng ý của bên đã trình thơng tin;







Các điều kiện về biện pháp tạm thời phải là biện pháp tăng thuế, và

nếu kết luận cuối cùng của vụ việc là phủ định thì khoản chênh lệch

do tăng thuế phải được hoàn trả lại cho bên đã nộp; không được kéo

dài quá 200 ngày…



Trên thực tế, một vụ điều tra áp dụng biện pháp tự vệ thường theo trình tự

sau đây:

Bước 1: Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ của ngành sản xuất nội địa

nước nhập khẩu.

Bước 2: Khởi xướng vụ điều tra

Bước 3: Điều tra và công bố kết quả điều tra về các yếu tố như: tình hình

nhập khẩu; tình hình thiệt hại; mối quan hệ giữa việc nhập khẩu và thiệt hại.

Bước 4: Ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp tự vệ.

Mặc dù việc điều tra và áp dụng các biện pháp tự vệ có nhiều yếu tố giống

trình tự tố tụng tư pháp (một vụ kiện tại toà án), nhưng bản chất thực tế của nó lại

là một thủ tục hành chính, do một cơ quan hành chính nước nhập khẩu tiến hành để

xử lý một tranh chấp thương mại giữa các nhà xuất khẩu nước ngoài (về nguyên

tắc là từ tất cả các nước đang xuất khẩu hàng hoá liên quan vào nước nhập khẩu)



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×