Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ

Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ

Tải bản đầy đủ - 0trang

luật, không gây ra sự phân biệt từ các hàng hóa, công dân của nước này với nước

khác, nói cách khác họ phải đều được hưởng chế độ đãi ngộ quốc dân. Tức là, biện

pháp tự vệ khi được áp dụng lên một loại hàng hóa nhập khẩu sẽ không phân biệt

nguồn gốc xuất xứ của loại hàng hóa đó. Như vậy khác với biện pháp chống bán

phá giá và biện pháp chống trợ cấp (chỉ áp dụng đối với nhà xuất khẩu từ một hoặc

một số nước xuất khẩu nhất định bị điều tra), biện pháp tự vệ áp dụng cho tất cả

các nhà sản xuất, xuất khẩu của tất cả các nước xuất khẩu đang xuất mặt hàng đó

sang nước nhập khẩu.

Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ nhất định. Theo quy định tại

khoản 2a, Điều 5, Hiệp định SG: “Trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ

giữa các nước xuất khẩu, Thành viên áp dụng hạn chế này có thể tìm kiếm một

thỏa thuận liên quan tới việc phân bổ hạn ngạch cho tất cả các Thành viên có lợi

ích cung cấp chính yếu đối với sản phẩm. Trong trường hợp không áp dụng được

phương pháp này, Thành viên nhập khẩu sẽ phân bổ cho các Thành viên có lợi ích

cung cấp chủ yếu đối với sản phẩm này theo thị phần, tính theo tổng giá trị hay số

lượng sản phẩm được nhập từ các Thành viên này trong một thời gian đại diện

trước đó và có tính đến bất cứ một yếu tố đặc biệt nào đã hoặc có thể ảnh hưởng

đến thương mại hàng hóa này.”

Như vậy, trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ giữa các nước xuất

khẩu, khi áp dụng biện pháp tự vệ thương mại, nước áp dụng phải thỏa thuận với

các nước có hàng hóa xuất khẩu về phân bổ hạn ngạch đối với từng nước này.

Trong trường hợp không áp dụng được phương pháp trên, nước nhập khẩu sẽ phân

bổ cho các nước xuất khẩu thị phần, tính theo tổng giá trị hay số lượng sản phẩm

được nhập từ các nước đó trong một khoảng thời gian đại diện và có tính đến một

số yếu tố khác. Tóm lại trong trường hợp này sẽ có sự chênh lệch nhất định về thị

phần xuất khẩu hàng hóa giữa các quốc gia xuất khẩu cho nên trường hợp này

được coi là ngoại lệ của nguyên tắc không phân biệt đối xử.







Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ trong phạm vi và mức

độ cần thiết



Theo khoản 1, Điều 5, Hiệp định SG: “Một Thành viên sẽ chỉ áp dụng biện

pháp tự vệ trong giới hạn cần thiết để ngăn cản hay khắc phục tổn hại nghiêm

trọng và để tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh”. Điều này là hoàn toàn hợp lý vì

mục đích chính của biện pháp tự vệ là nhằm tạo điều kiện, thời gian cho ngành sản

xuất nội địa khắc phục thiệt hại, hợp lý hóa sản xuất để có thể cạnh tranh sòng

phẳng với hàng hóa xuất khẩu sau khi dỡ bỏ biện pháp tự vệ. Bởi toàn bộ thời gian

áp dụng một biện pháp tự vệ kể cả thời gian áp dụng biện pháp tạm thời, thời gian

bắt đầu áp dụng và bất kỳ sự gia hạn nào không được vượt quá 8 năm. Đối với các

nước đang phát triển thì thời hạn này có thể là tối đa 10 năm. Trong thời kỳ áp

dụng, nếu những căn cứ để áp dụng biện pháp tự vệ không còn thì nước áp dụng

phải tiến hành dỡ bỏ hay đình chỉ áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hóa đó.

Đồng thời, nước áp dụng phải tiến hành rà soát các biện pháp tự vệ để đảm bảo

quyền và lợi ích cho nước bị áp dụng.





Nguyên tắc ưu tiên cho các nước đang phát triển



Các thành viên của WTO phần nhiều vấn là các nước đang phát triển nên

WTO đã có những chính sách ưu tiên nhằm khuyến khích các nước đó phát triển

kinh tế dần bắt kịp các nước phát triển. Cụ thể, tại Điều 9, Hiệp định SG có quy

định riêng về chế độ đãi ngộ đối với các nước đang phát triển. “Các biện pháp tự

vệ không được áp dụng để chống lại hàng hóa có xuất xứ từ một Thành viên đang

phát triển, nếu thị phần hàng hóa có liên quan được nhập từ Thành viên này không

vượt quá 3%, với điều kiện là tổng số thị phần nhập khẩu từ các Thành viên đang

phát triển, có thị phần nhập khẩu riêng lẻ nhỏ hơn 3%, không vượt quá 9% tổng

kim ngạch nhập khẩu nhập khẩu của hàng hóa liên quan”. Hơn nữa, như đã nói ở

trên, một thành viên đang phát triển có thể kéo dài thời hạn áp dụng biện pháp tự



vệ thêm 2 năm so với các thành viên phát triển tức là kéo dài thời hạn từ 8 năm lên

10 năm.

Nguyên tắc đảm bảo bồi thường tổn thất thương mại







WTO quy định nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường tổn

thất thương mại cho các nước xuất khẩu liên quan (thường là việc nước nhập khẩu

tự nguyện giảm thuế nhập khẩu cho một số nhóm hàng hoá khác đến từ các nước

xuất khẩu đó). Nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ phải tiến hành thương

lượng với các nước xuất khẩu về biện pháp đền bù thương mại thoả đáng. Trường

hợp không đạt được thoả thuận, nước xuất khẩu liên quan có thể áp dụng biện pháp

trả đũa (thường là việc rút lại những nghĩa vụ nhất định trong WTO, bao gồm cả

việc rút lại các nhượng bộ về thuế quan - tức là từ chối giảm thuế theo cam kết

WTO - đối với nước áp dụng biện pháp tự vệ). Tuy nhiên, việc trả đũa không thể

được thực hiện trong 3 năm đầu kể từ khi biện pháp tự vệ được áp dụng (nếu biện

pháp áp dụng tuân thủ đầy đủ các quy định của WTO và thiệt hại nghiêm trọng là

thiệt hại thực tế.



Quy định của pháp luật về biện pháp tự vệ trong thương



II.



mại quốc tế

1.



Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

i.

Biện pháp thuế quan (tăng thuế so với mức thuế trần đã cam kết)



Thuế quan tức thuế xuất nhập khẩu bao gồm: thuế xuất khẩu và thuế nhập

khẩu. Thuế quan được hiểu là khoản thu của nhà nước đánh vào hàng hóa khi hàng

hóa đó di chuyển từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác nhằm tăng

nguồn thu ngân sách quốc gia và bảo hộ hàng hóa tương tự, ngành kinh tế hàng

hóa tương tự trong nước. Những vấn đề quan trọng liên quan đến thuế quan mà các

nước thường quan tâm bao gồm: danh mục thuế quan, mức thuế trần và lộ trình

giảm thuế quan.



Trong khuôn khổ WTO, thông qua các vòng đàm phán về lộ trình cắt giảm

thuế quan, thuế suất ràng buộc sẽ được đưa vào danh mục thuế quan của mỗi quốc

gia và được công bố rộng rãi. WTO từ khi thành lập đã có 22500 trang danh mục

thuế quan cam kết của các nước đối với một số loại hàng hóa cụ thể được thỏa

thuận trong khuôn khổ WTO, nhất là những cam kết giảm thuế và mức thuế trần

đối với hàng hóa nhập khẩu. Mức thuế trần chính là những cam kết không tăng

thuế vượt quá một mức đã được xác định, được gọi là mức “trần”, thường là mức

thuế đang được áp dụng trên thực tế. Có nhiều mức thuế “trần” khác nhau và đa số

các nước đang phát triển có mức thuế “trần” cao hơn một chút so với các mức thuế

đang áp dụng. Những cam kết về thuế quan có giá trị ràng buộc đối với các thành

viên. Để đảm bảo kết quả đàm phán về thuế cũng như mở rộng thương mại ổn

định, WTO cấm các nước thành viên đánh thuế cao hơn mức thuế mà họ đã cam

kết và không cho phép các thành viên tự ý thay đổi mức thuế này.

Tuy nhiên, trong trường hợp nền sản xuất trong nước gặp khó khăn do lượng

nhập khẩu tăng đột biến là hệ quả của việc dỡ bỏ hàng rào thuế quan, tự do hóa

thương mại, cùng với đó là có những thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho nền

sản xuất trong nước mà nước đó đã có tiến hành điều tra theo luật định thì nước

nhập khẩu có quyền áp dụng biện pháp thuế quan như một biện pháp tự vệ khi có

đủ căn cứ áp dụng. Mức thuế tăng và phải tính toán trong một thời gian hợp lý sau

đó sẽ dỡ bỏ dần. Mục đích là để tạm thời hạn chế nhập khẩu, tranh thủ thời gian

phục hồi sản xuất, khắc phục thiệt hại, thích nghi với môi trường cạnh tranh để dần

lấy lại thị trường chú không nhằm mục đích nào khác ( đặc biệt không được nhằm

mục đích chính trị, phân biệt đối xử…)

ii.



Biện pháp phi thuế quan (hạn chế định lượng)



Hạn chế định lượng là một trong những biện pháp để bảo vệ sản xuất trong

nước. Biện pháp hạn chế định lượng bao gồm các hình thức: hạn ngạch; giấy phép;

cấm xuất khẩu, nhập khẩu… do một nước thành viên áp dụng nhằm hạn chế lượng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×