Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ

Điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ngoài ra, một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi đã

tiến hành điều tra và chứng minh được sự tồn tại đồng thời các điều kiện sau:

Thứ nhất, hàng hoá liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng

Câu hỏi đặt ra là khi nào hàng hoá nhập khẩu được coi là tăng đột biến đến

mức có thể áp dụng biện pháp tự vệ? Đây là một câu hỏi xuất hiện đầu tiên đối với

nước nhập khẩu trước khi quyết định có áp dụng biện pháp tự vệ hay không đối với

một mặt hàng nhất định. Để áp dụng biện pháp tự vệ, sự gia tăng đột biến về số

lượng của hàng hoá phải đáp ứng các điều kiện sau:





Sự gia tăng này là gia tăng tuyệt đối (ví dụ, số lượng hàng hoá nhập

khẩu tăng gấp 2 lần) hoặc tương đối so với sản xuất trong nước (ví dụ,

lượng hàng nhập khẩu dường như không tăng, nhưng cùng thời điểm

đó lượng hàng sản xuất trong nước lại giảm mạnh).







Sự gia tăng về số lượng phải mang tính đột biến (diễn ra đột ngột,

nhanh và tức thời).



Cũng cần lưu ý ở đây rằng, vẫn theo các điều kiện chung thì sự gia tăng

nhập khẩu này phải thuộc diện không dự đoán được vào thời điểm nước nhập khẩu

đàm phán tham gia Hiệp định về áp dụng biện pháp tự vệ. Thêm nữa, chú ý ba yếu

tố sau đây khi xem xét điều kiện này: sự gia tăng về giá trị nhập khẩu không phải

là yếu tố bắt buộc để điều tra trong vụ việc tự vệ; sự gia tăng lượng nhập khẩu cần

được xem xét theo diễn tiến trong suốt quá trình điều tra chứ không chỉ đơn thuần

là so sánh lượng nhập khẩu thời điểm đầu và cuối của cuộc điều tra; sự thay đổi về

xu hướng thời trang và ảnh hưởng của nó đến cạnh tranh được xem là việc không

thể dự đoán trước bởi các nhà đàm phán.

Thứ hai, ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với

hàng hố đó bị thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại nghiêm trọng.

Một trong các điều kiện để có thể áp dụng biện pháp tự vệ là phải điều tra

chứng minh được rằng ngành sản xuất nội địa phải chịu thiệt hại nghiêm trọng từ



việc hàng nhập khẩu tăng ồ ạt. Vậy xác định yếu tố “thiệt hại nghiêm trọng” như

thế nào? Theo Hiệp định SG quy định tại khoản 1, Điều 4: “Tổn hại nghiêm trọng”

được hiểu là sự suy giảm toàn diện đáng kể tới vị trí của ngành công nghiệp sản

xuất nội địa. “Đe dọa gây tổn hại nghiêm trọng” là tổn hại nghiêm trọng rõ ràng sẽ

xảy ra. Việc xác định nguy cơ tổn hại nghiêm trọng phải dựa trên cơ sở thực tế chứ

không phải là phỏng đoán, viện dẫn hoặc khả năng xa. Cụ thể:





Về hình thức, các thiệt hại này có thể tồn tại dưới hai dạng: thiệt hại

thực tế hoặc nguy cơ thiệt hại (nguy cơ này là rất gần);







Về mức độ, các thiệt hại này phải ở mức nghiêm trọng (tức là ở mức

cao hơn so với thiệt hại đáng kể trong trường hợp các vụ kiện chống

bán phá giá, chớng trợ cấp).







Về phương pháp, các thiệt hại thực tế được xem xét trên cơ sở phân

tích tất cả các yếu tố liên quan đến thực trạng của ngành sản xuất nội

địa (ví dụ tỉ lệ và mức tăng lượng nhập khẩu, thị phần của sản phẩm

nhập khẩu, thay đổi về doanh số, sản lượng, năng suất, nhân công…)



Trong cuộc điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ, việc chứng minh thiệt hại

nghiêm trọng chủ yếu thuộc trách nhiệm của ngành sản xuất nội địa liên quan. Vì

vậy, để đạt được mục tiêu của mình, ngành sản xuất nội địa cần chuẩn bị kỹ về các

số liệu, tập hợp trong một thời gian tương đối dài để có đủ dữ liệu chứng minh.

Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến

và thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại gây ra nói trên.

Sự gia tăng sớ lượng hàng hóa nhập khẩu là hệ quả của chính sách tự do hóa

thương mại và có mối quan hệ nhân quả với những thiệt hại xảy ra. Đề xác định

được mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và thiệt hại

hoặc đe doạ gây thiệt hại, nước nhập khẩu cần phải xác định được ngành sản xuất

liên quan – đối tượng bị thiệt hại. Vậy ngành sản xuất nội địa liên quan là gì?



Ngành sản xuất nội địa liên quan trong vụ việc tự vệ là ngành sản xuất sản phẩm

tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm nhập khẩu bị điều tra (rộng hơn

khái niệm ngành sản xuất sản phẩm tương tự nội địa trong các vụ điều tra chống

bán phá giá hay chống trợ cấp). Qua đây cũng xin làm rõ khái niệm sản phẩm

tương tự và khái niệm sản phẩm cạnh tranh trực tiếp:





Sản phẩm tương tự được hiểu là sản phẩm giống hệt hoặc nếu không

có sản phẩm giống hệt thì là sản phẩm tương đồng về tính chất, thành

phần, chất lượng và mục đích sử dụng ći cùng;







Sản phẩm cạnh tranh trực tiếp là những sản phẩm có thể thay thế sản

phẩm nhập khẩu bị điều tra ở một mức độ nhất định trên và trong các

điều kiện của thị trường nước nhập khẩu.



Ngoài ra, để xác định được sản phẩm nào là sản phẩm cạnh tranh trực tiếp

hoặc sản phẩm tương tự, chúng ta cần căn cứ vào một số yếu tớ sau:





Hai loại sản phẩm có tác đợng khác nhau đến sức khoẻ con người khó

có thể coi là sản phẩm tương tự (vụ các quy định đối với chất Amiăng

và sản phẩm có chứa Amiăng – EC).







Khi xem xét tính chất có thể thay thế nhau của các sản phẩm tương tự

cần lưu ý đến cả cách thức các sản phẩm này được quảng cáo và tiêu

thụ/sử dụng (vụ th́ đới với đờ ́ng có cờn - Nhật Bản).







Những sản phẩm có dây chuyền sản xuất tương tự nhau hoặc được sản

xuất bởi các chủ thể có cùng lợi ích kinh tế không nhất thiết là sản

phẩm tương tự (vụ Đèn của Hoa Kỳ).

Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ



5.





Ngun tắc khơng phân biệt đới xử.



Theo đó, các quốc gia không được phân biệt đối xử đối với hàng hóa nhập

khẩu từ các nước khác nhau. Các quốc gia khác nhau đều bình đẳng trước pháp



luật, không gây ra sự phân biệt từ các hàng hóa, công dân của nước này với nước

khác, nói cách khác họ phải đều được hưởng chế độ đãi ngộ quốc dân. Tức là, biện

pháp tự vệ khi được áp dụng lên một loại hàng hóa nhập khẩu sẽ không phân biệt

nguồn gốc xuất xứ của loại hàng hóa đó. Như vậy khác với biện pháp chống bán

phá giá và biện pháp chống trợ cấp (chỉ áp dụng đối với nhà xuất khẩu từ một hoặc

một số nước xuất khẩu nhất định bị điều tra), biện pháp tự vệ áp dụng cho tất cả

các nhà sản xuất, xuất khẩu của tất cả các nước xuất khẩu đang xuất mặt hàng đó

sang nước nhập khẩu.

Tuy nhiên, nguyên tắc này cũng có ngoại lệ nhất định. Theo quy định tại

khoản 2a, Điều 5, Hiệp định SG: “Trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ

giữa các nước xuất khẩu, Thành viên áp dụng hạn chế này có thể tìm kiếm một

thỏa thuận liên quan tới việc phân bổ hạn ngạch cho tất cả các Thành viên có lợi

ích cung cấp chính yếu đối với sản phẩm. Trong trường hợp không áp dụng được

phương pháp này, Thành viên nhập khẩu sẽ phân bổ cho các Thành viên có lợi ích

cung cấp chủ yếu đối với sản phẩm này theo thị phần, tính theo tổng giá trị hay số

lượng sản phẩm được nhập từ các Thành viên này trong một thời gian đại diện

trước đó và có tính đến bất cứ một yếu tố đặc biệt nào đã hoặc có thể ảnh hưởng

đến thương mại hàng hóa này.”

Như vậy, trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ giữa các nước xuất

khẩu, khi áp dụng biện pháp tự vệ thương mại, nước áp dụng phải thỏa thuận với

các nước có hàng hóa xuất khẩu về phân bổ hạn ngạch đối với từng nước này.

Trong trường hợp không áp dụng được phương pháp trên, nước nhập khẩu sẽ phân

bổ cho các nước xuất khẩu thị phần, tính theo tổng giá trị hay số lượng sản phẩm

được nhập từ các nước đó trong một khoảng thời gian đại diện và có tính đến một

số yếu tố khác. Tóm lại trong trường hợp này sẽ có sự chênh lệch nhất định về thị

phần xuất khẩu hàng hóa giữa các quốc gia xuất khẩu cho nên trường hợp này

được coi là ngoại lệ của nguyên tắc không phân biệt đối xử.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×