Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Theo hệ thống phân hạng nhằm quản lý và phân cấp quản lý rừng đặc dụng của IUCN, 1994 đề xuất hệ thống phân hạng với 4 hạng mục sau:

Theo hệ thống phân hạng nhằm quản lý và phân cấp quản lý rừng đặc dụng của IUCN, 1994 đề xuất hệ thống phân hạng với 4 hạng mục sau:

Tải bản đầy đủ - 0trang

* Hạng 3: Khu bảo tồn các loài sinh cảnh (Species/habitat managament protected): là

một khu vực có diện tích rộng hay hẹp.

Mục đích bảo vệ:

– Bảo vệ một hay nhiều quần thể động, thực vật có nguy cơ bị tiêu diệt và nơi

sống của chúng nhằm duy trì và phát triển loài này lâu dài

– Để bảo vệ các mục tiêu trong khu bảo tồn, con người có thể tiến hành một số

hoạt động cho phép nếu nó khơng ảnh hưởng đến mục tiêu bảo vệ



* Hạng 4: Khu bảo vệ cảnh quan (Protected landscape or seacape): là khu vực có



diện tích trung bình hoặc hẹp.

Mục đích bảo vệ :

– Bảo vệ cảnh quan độc đáo của thiên nhiên hoặc cơng trình văn hóa có giá trị

quốc gia.

– Bảo vệ các rừng cây đẹp, các hang động, thác nước, đảo san hô, miệng núi

lửa.

Theo thống kê của Cục Kiểm lâm, đến tháng 12 năm 2005, Việt Nam đã có 130

khu BTTN với diện tích 2.409.288 ha được phân bố trên các vùng sinh thái

trong cả nước bao gồm:

– 31 Vườn Quốc gia

– 48 khu Dự trữ thiên nhiên

– 12 khu BTLoài /Sinh cảnh

– 39 khu Bảo vệ cảnh quan



Ngoài 4 hạng KBTTN nêu trên, Việt Nam còn được các tổ chức

bảo tồn (IUCN, UNDP) và di sản thế giới (UNESCO) công nhận :

* 3 Quần thể Di sản Thế giới (Huế, Hội An, Mỹ Sơn)

* 2 khu Di sản Cảnh quan Thiên nhiên Thế giới (Vịnh Hạ Long và

Phong Nha - Kẻ Bàng)

* 4 khu Dự trữ Sinh quyển Thế giới (Rừng ngập mặn Cần Giờ, VQG

Cát Tiên, quần đảo Cát Bà và đất ngập mặn ven biển đồng bằng

Sông Hồng),

* 4 khu Di sản Thiên nhiên của Asian (VQG Ba Bể, VQG Hoàng Liên

Sơn, VQG Chư Mom Rây và VQG Kon Ka Kinh)

* 2 khu Ramsar (VQG Xuân Thuỷ và khu ĐNN Bàu Sấu thuộc VQG Cát

Tiên).

Như vậy, hiện nay diện tích các HST đặc dụng mà tính ĐDSH

được bảo tồn trong các hệ thống KBTTN ở Việt Nam chiếm tới

7,71% tổng diện tích lãnh thổ. Mặc dù vậy, Việt Nam cũng chỉ mới

đứng thứ 5 về tỷ lệ bảo tồn ĐDSH trên lãnh thổ so với các nước

trong vùng Đơng Nam Á và đạt dưới mức trung bình (8,69%) của các

nước Đông Nam Á.



* Bảo tồn ngoại vi hay chuyển vị ( Ex situ )

Trong trường hợp đặc biệt như đối với các loài đặc biệt quý hiếm, có số

lượng cá thể q ít thì bảo tồn ngun vị chưa phải là giải pháp khả thi trong

điều kiện áp lực của cộng đồng ngày càng tăng. Trong những trường hợp như

vậy, giải pháp duy nhất để ngăn cho loài khỏi bị tuyệt chủng là bảo tồn các cá

thể của quần thể trong những điều kiện nhân tạo dưới sự giám sát của con

người gọi là bảo tồn ngoại vi.

Như vậy bảo tồn ngoại vi là sự di chuyển khỏi nơi sống một số cá thể của

một vài quần thể quý hiếm có giá trị ĐDSH nhất định nào đó đến vùng sinh thái

nhân tạo để chăm sóc, quản lý và bảo tồn nguồn gen của chúng.

Có thể ni trồng nhiều động, thực vật hoang dã trong điều kiện nhân tạo

như vườn thú, vườn bách thảo, trang trại, thủy cung và các chương trình nhân

giống, lưu trữ nguồn gen, lai tạo khác.

Ưu điểm của phương pháp là bảo vệ tốt nguồn gen của các lồi có nguy

cơ tuyệt chủng ngồi thiên nhiên, đồng thời chúng giữ vai trò dự trữ nguồn

nguyên liệu, nguồn gen phục vụ cho việc đưa sinh vật trở lại với thiên nhiên

hoang dã của chúng. Mặt khác phương pháp tạo ra nguồn lưu trữ vật liệu di

truyền (ngân hàng gen) quan trọng cho các chương trình cải tạo giống trong

tương lai.



Bằng các ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại, nhất là công

nghệ sinh học, công nghệ gen để lưu trữ hạt giống, phôi, trứng, tinh

trùng và gen góp phần phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau.

Phương pháp bảo tồn chuyển vị còn có giá trị trong việc giáo dục

cộng đồng có ý thức bảo vệ các lồi, các nguồn gen q hiếm thơng

qua các hoạt động tham quan, du lịch, học tập và nghiên cứu.

Ở những vùng ni trồng các lồi q hiếm sẽ là những điểm

hẹn khoa học, văn hóa cho các hoạt động nghỉ dưỡng, hoạt động

khám phá tự nhiên của con người, từ đó có thể tạo nguồn thu trong

hoạt động kinh doanh.

Bảo tồn chuyển vị là một bộ phận quan trọng trong chiến lược

tổng hợp nhằm bảo vệ các lồi đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, do

đó bảo tồn chuyển vị và nguyên vị là những cách tiếp cận có tính

chất bổ sung cho nhau. Những cá thể từ các quần thể được bảo tồn

chuyển vị sẽ đựơc thả định kỳ ra ngoài thiên nhiên nhằm tăng cường

cho các quần thể được bảo tồn nguyên vị. Đồng thời khi nghiên cứu

quần thể chuyển vị có thể sẽ giảm bớt việc phải bắt các cá thể trong

tự nhiên để nghiên cứu các đặc tính sinh học, sinh thái, tập tính của

chúng.



Trên Thế giới, hiện nay có khoảng 1.500 vườn thực vật đang

trồng ít nhất là 35.000 lồi cây, chiếm khoảng 15% lồi thực vật đã

được mơ tả trên tồn cầu. Vườn thực vật lớn nhất Thế giới là vườn

thực vật Hồng Gia tại Kew (Anh) có khoảng 25.000 lồi thực vật

đang được gieo trồng, chiếm 10% loài trong giới thực vật. Trong đó

có 2.700 lồi đang bị đe dọa tuyệt chủng.

Các vườn thú trên Thế giới hiện nay nuôi giữ khoảng 700.000 cá

thể đại diện cho 3.000 loài thú, chim, bò sát, ếch nhái q hiếm và có

giá trị. Tuy nhiên các vườn thú hầu như chỉ trưng bày những con thú

lớn đầy quyến rũ như gấu trúc, voi, hổ,... Trong khi đó bỏ qua một số

lượng khơng nhỏ các động vật quý hiếm khác có nguy cơ bị tuyệt

chủng như côn trùng, cá, động vật không xương sống mà giá trị

ĐDSH, giá trị nguồn gen của chúng đang đứng trên bờ tuyệt duyệt.

Để ngăn chặn hiểm họa đối với các loài thủy sinh, những chuyên

gia về cá, thú biển và san hơ đã kêu gọi các chính phủ, các tổ chức

mơi trường Quốc tế cần có chương trình bảo tồn thủy cung các loài

đe dọa bị tuyệt chủng. Hiện nay có khoảng 580.000 cá thể của nhiều

lồi cá q hiếm có nguy cơ tuyệt chủng đang được ni trong bể

kính.



Vườn thú



Các chương trình gây giống cho các lồi thú biển, thân

mềm, san hơ,... đang có nguy cơ tuyệt chủng mới ở giai

đoạn sơ khai, thí điểm. Còn việc ni nhiều lồi cá voi, tạo

rạn san hơ, các lồi ốc đẹp,… được xem là phát triển kinh

tế du lịch biển và thương mại hóa ĐDSH vùng ven bờ

Chính vì vậy, muốn bảo tồn được những giá trị ĐDSH,

cần phải tăng cường chăm sóc các lồi sinh vật hiện sống

trong thiên nhiên hoang dã, cần có quy chế và kiểm sốt

được việc đưa các động vật q hiếm vào ni nhốt.

Thành cơng có được của việc ni nhốt hiện nay ở các

vườn thú là góp phần giáo dục các thế hệ trong cộng đồng

yêu mến thiên nhiên, có ý thức bảo tồn ĐDSH, cung cấp

các thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu, tham quan, du

lịch, giải trí và bảo tồn vốn gen quý hiếm trong các dữ liệu

ngân hàng gen.



* Kiểm sốt ơ nhiễm

Ơ nhiễm có tác động nhiều mặt đến suy thối ĐDSH. Ơ nhiễm

khơng khí như biến đổi khí hậu, mưa xít, hiện tượng đảo nhiệt, ơ

nhiễm nguồn nước như tồn lưu nhiều hóa chất bảo vệ thực vật, các

chất kim loại nặng, tăng các vi sinh vật gây bệnh, thối hóa đất, bạc

màu và sa mạc hóa đất đều tác động đến nguồn gen, suy giảm các

cá thể của loài và dẫn đến tuyệt chủng cục bộ từng chủng quần sinh

vật ở các HST.

Vì vậy, kiểm soát và làm giảm thiểu sự tác động của các loại ô

nhiễm là một trong những giải pháp quan trọng nhất cần phải được

thực hiện trong chiến lược bảo tồn ĐDSH.

Muốn có một mơi trường trong sạch, chống được các nguồn gây

ô nhiễm cần thiết phải quan trắc, dự báo, xử lý và quản lý tốt các

nguồn thải, chất thải ra mơi trường chung.

Bên cạnh những biện pháp tích cực nêu trên, cũng phải áp dụng

tốt các chế độ kiểm tra nghiêm ngặt đối với tất cả các nhà máy, khu

công nghiệp, vùng sản xuất lâm nghiệp, khu dân cư và các hoạt

động phát triển khác.



Mỗi một khu vực, từng quốc gia và liên quốc gia phải

đưa ra những tiêu chuẩn xả thải theo giới hạn môi trường

nền khác nhau để làm thước đo cho việc quan trắc, xử lý

làm sạch mơi trường.

Ví dụ, ở Việt Nam đã đưa ra các tiêu chuẩn xả thải

công nghiệp, thủ công nghiệp, nông nghiệp và một số tiêu

chuẫn sản xuất khác cho chất lượng các thành phần mơi

trường khí, đất và nước (TCVN -1995). Năm 2002, đã công

bố bổ sung nhiều chỉ tiêu mới về chất lượng mơi trường

Việt Nam. Nhờ đó chất lượng môi trường Việt Nam đã từng

bước được cải thiện, sự suy giảm ĐDSH đang được giảm

thiểu.

Việc bảo vệ môi trường trong sạch chống được nạn ơ

nhiễm khơng chỉ có giá trị về bảo tồn và phát triển ĐDSH

mà còn đảm bảo cho việc phát triển bền vững. Điều đó

khơng những có giá trị ở từng quốc gia hay khu vực riêng

lẻ mà còn có ý nghĩa quan trọng trong sự sống còn và phát

triển của Nhân loại Tồn cầu.



* Phát triển bền vững

Phát triển bền vững là giải pháp chiến lược duy nhất tạo cơ hội, điều kiện

cho nguồn tài nguyên tái tạo được phục hồi và phát triển nhằm đáp ứng nhu

cầu nhiều mặt, ngày càng cao cho thế hệ hiện nay và cả những thế hệ mai

sau. Bởi vậy, muốn phát triển bền vững thì phải bảo tồn ĐDSH và muốn bảo

tồn được ĐDSH thì phải phát triển bền vững . Đây là hai mặt của một vấn đề

trong chiến lược mơi trường mang tính hữu cơ, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát

triển.

Để phát triển bền vững, trước hết trong từng nhà máy, xí nghiệp, khu vực

sản xuất và mỗi quốc gia phải nâng tầm sản xuất lên nền cơng nghiệp hóa,

hiện đại hóa nền kinh tế. Phải áp dụng các thành tựu của nền khoa học – công

nghệ tiên tiến, công nghệ siêu sạch. Áp dụng nền nông nghiệp, lâm nghiệp,

ngư nghiệp sinh thái. Thiết kế nền sản xuất không xả thải, nền sản xuất sạch.

Để đạt được điều đó phải tính đến việc hồn thiện các chiến lược về môi

trường, đánh giá tác động môi trường. Sau nữa, các hoạt động phát triển phải

có nghĩa vụ kinh tế bằng trách nhiệm thu nộp thuế cho sự tác động, khai thác

mơi trường. Có như vậy, mơi trường tự nó sẽ được cải thiện và thúc đẩy sự

phát triển.

Trên cơ sở phát triển bền vững trong từng Quốc gia, khu vực, cần phải

xây dựng thể chế xã hội bền vững trong sự liên minh phát triển của tồn cầu.

Nhân loại phải có trách nhiệm sống hài hòa với nhau và hài hòa (thân thiện)

với thiên nhiên – mơi trường.



* Khuyến khích kinh tế, giáo dục cộng đồng

Cộng đồng là người hưởng lợi từ ĐDSH, nhưng cũng là người gây sức ép

khai thác quan trọng cho ĐDSH. Vì thế giải pháp chiến lược bảo tồn ĐDSH

nhất thiết phải gắn liền với cộng đồng, dựa vào cộng đồng.

Để đạt được điều này người quản lý và các nhà khoa học phải có trách

nhiệm tuyên truyền, phổ biến những vai trò, ý nghĩa của nguồn tài nguyên

ĐDSH đối với đời sống của cộng đồng, đồng thời làm cho họ nhận thức được

trách nhiệm phải bảo tồn ĐDSH.

Một trong những giải pháp phát triển ĐDSH dựa vào cộng đồng là dùng

lợi ích kinh tế để khuyến khích người dân địa phương tham gia bảo tồn ĐDSH.

Vd hỗ trợ kinh tế cho trồng rừng, khoanh nuôi và bảo vệ rừng, bảo vệ mặt

nước nuôi trồng thủy sản, bồi thường những thiệt hại do các loài động vật

hoang dã gây nên, …

Nâng cao đời sống kinh tế của cộng đồng cư dân vùng ven rừng, vùng

biển, vùng đệm bắng cách tạo công việc cho họ, thu hút người dân hoạt động

kinh tế dân sinh theo hướng bảo tồn ĐDSH. Phải tổ chức thành lập các trang

trại, các mơ hình sinh thái “Vườn – Ao – Chuồng” (VAC) và “Vườn – Ao –

Chuồng – Rừng” (RVAC) khuyến khích được người dân yên tâm lao động sản

xuất, khai thác tài ngun của chính mình và có một mức thu nhập hài hòa và

hấp dẫn. Nhờ đó, sẽ giảm được sức ép khai thác tự nhiên, người dân sẽ tự

bảo vệ lấy nguồn tài nguyên vốn có của mình và có ý thức trong việc ni trồng

để bảo tồn vốn gen của các lồi vật ni, cây trồng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Theo hệ thống phân hạng nhằm quản lý và phân cấp quản lý rừng đặc dụng của IUCN, 1994 đề xuất hệ thống phân hạng với 4 hạng mục sau:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×