Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 3. GIÁ TRỊ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC

Chương 3. GIÁ TRỊ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tiếp đến, ĐDSH nhất là các loài thực vật cả ở trên cạn và dưới nước

được xem là “lá phổi xanh” của hành tinh chúng ta tham gia vào việc điều

hòa khí hậu

Mỗi năm con người thải vào khơng khí khoảng 27 tỷ tấn CO 2, trong đó

thảm thực vật rừng, nhất là rừng nhiệt đới hấp thụ khoảng 9 tỷ tấn, đại

dương hấp thụ khoảng 11 tỷ tấn, số còn lại ước tính khoảng 7 tỷ tấn tồn lưu

hàng chục năm trong khơng khí gây hiệu ứng nhà kính.

Thảm thực vật rừng nhiệt đới còn có vai trò che chở bức xạ Mặt trời,

làm giảm lượng nhiệt độ nhất định trong mùa nắng và che chắn các hướng

hoàn lưu khí áp, tạo nên từng vùng khí hậu ơn hòa .



ĐDSH trên cạn đã tham gia tích cực vào duy trì chế độ tuần hồn

nguồn nước tự nhiên.

Trong cơ thể các loài động vật và thực vật thường chiếm hơn 90% khối

lượng là nước, nguồn nước này sẽ bốc hơi vào mùa nắng nóng tạo ra những

vùng khí hậu thích hợp và giảm bớt nhiệt độ khắc nghiệt xung quanh.

Khi trời mưa, các tán cây rừng nhiều tầng, thảm thực vật mặt đất sẽ che

chắn, làm cho nước mưa không tác động trực tiếp xuống mặt đất, chống

được bào mòn, rửa trôi gây lũ lụt, đồng thời tạo điều kiện cho nước mưa

mao dẫn theo lá, cành, thân cây, rễ đưa nước vào lòng đất nhờ đó mà túi

nước ngầm trong đất dâng lên, tăng khả năng dự trữ nguồn nước để điều tiết

cho mùa Hè.



ĐDSH có vai trò rất quan trọng trong việc cải tạo làm giàu

chất khoáng, độ mùn cho đất canh tác, đất nông, lâm nghiệp và

đất tự nhiên.

Đất tự nhiên được xem là một HST, ở đó rất phong phú về

thành phần lồi động vật, thực vật và vi sinh vật. Các loài vi sinh

vật ở trong đất được phân biệt làm ba nhóm cơ bản:

- Đa số lồi thuộc nhóm chuyển hóa celluloz thành các chất

khống vơ cơ từ các xác động, thực vật hay các sản phẩm dị hóa

của chúng.

- Một số khác tham gia vào phân giải khống, chuyển hóa

những chất vơ cơ khó tan thành những phần tử dễ tan cho thực

vật tái hấp thu.

- Số vi sinh còn lại có vai trò cố định đạm. Đó là những vi

khuẩn cộng sinh trong một số lồi thực vật. Các nhà khoa học

tính được rằng, chỉ riêng nhóm vi khuẩn cố định đạm hàng năm

cung cấp cho đất một lượng đạm (NH4OH) khoảng 5.108 tấn



Tham gia cải tạo đất còn nhiều lồi động vật như Giun đất …

Giun đất là nhóm động vật dị dưỡng, ăn xác vụn hữu cơ góp

phần làm tăng đáng kể độ tơi xốp, độ thơng khí của đất, cải thiện

khả năng dẫn nước và giữ độ ẩm trong đất.

Giun đất còn tham gia trực tiếp vào q trình phân hủy cơ

học xác vụn thực vật, phân hủy celluloz, chuyển hóa chất hữu cơ

và các chất khống.

Giun đất là những lồi đào thải rất lớn. Nếu trung bình cứ

một mét vng mặt đất có được 150 con giun, thì hàng năm một

ha đất loại này sẽ được lượng giun sinh sống cung cấp cho

khoảng 120 tấn phân giun, trong đó có 20 tấn được đùn lên trên

mặt đất.



Sau cùng vai trò sinh thái của ĐDSH còn thể hiện ở vấn đề phát tán và

làm sạch mơi trường.

Các lồi nấm, vi sinh vật và vi khuẩn đóng vai trò đặc biệt quan trọng

trong những q trình phân giải này.

Trong mơi trường đất ẩm, đất ngập nước, các nhóm vi khuẩn và nấm

chuyển hóa các chất hữu cơ từ các nguồn phế thải khác nhau thông qua việc

sống hoại sinh, phân giải hiếu khí và kỵ khí để trả lại cho mơi trường những

vật chất vơ cơ trong chu trình vật chất là con đường tự làm sạch môi trường

cơ bản nhất của ĐDSH.



Trong môi trường nước, đặc biệt là nền đáy các thủy vực, nơi có nhiều

phế thải chứa đựng các chất hữu cơ, vô cơ theo các hướng khác nhau. Phần

đơng trong nhóm này là các vi sinh vật yếm khí (kỵ khí) chúng chuyển hóa

các chất hữu cơ phức tạp thành metan (CH 4) và tham gia chuyển hóa các

dạng acid thành metan và carbondioxit (CO2), phần khác là những vi sinh

vật hiếu khí sống trong tầng nước sử dụng chất hữu cơ từ các nguồn ô nhiễm

để sinh trưởng, sinh sản và phát triển tạo sinh khối và làm sạch mơi trường.



Một số lồi Thân mềm (Mollusca) mà đặc biệt là nhóm hai mảnh vỏ

(Bivalvia), thực vật ở nước như bèo tây, bèo cái, lau lách,… đều có khả

năng hấp thụ kim loại độc.

Những nghiên cứu gần đây cho thấy, mỗi cá thể lồi Trìa mỡ (Merretrix

merretrix), sống ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai (Thừa Thiên Huế), chỉ có

kích thước bằng ngón tay cái (35 - 40 mm), mỗi ngày đêm chúng lọc được

khoảng 20 lít nước mà dĩ nhiên trong đó nhiều tảo và chất ô nhiễm.



Trong ao nuôi cá nước ngọt hiện nay ở miền Bắc nước ta,

người nuôi thường tập trung vào bốn đối tượng chính để khép kín

sinh thái dinh dưỡng trong ao nuôi.

- Cá Trắm cỏ (Ctenopharyngodon idellus) là đối tượng ni

chính. Thức ăn cơ bản của chúng là thực vật thủy sinh hoặc cây

cỏ trên cạn với hệ số thức ăn dao động từ 35 – 41 tùy theo từng

vùng. Lượng thực vật mà chúng ăn hàng ngày đúng bằng lượng

phân hay mùn bã hữu cơ mà cá thải ra trong ao nuôi, dĩ nhiên sẽ

gây ô nhiễm nguồn nước ao ni.

-Vì vậy, để giải quyết bài tốn sinh thái này, người ta ni các

lồi cá Rơ phi (Oreochromis spp). Cá Rô phi sinh trưởng nhanh,

mắn đẻ, đẻ sớm và đẻ tự nhiên tạo nên mật độ cao trong ao. Cá rơ

phi là lồi ăn mùn bã hữu cơ nên chúng sẽ sử dụng toàn bộ mùn

bã từ phân cá Trắm cỏ thải ra.



- Ngoài hai đối tượng cơ bản trên, người ta còn ni các lồi cá Mè

trắng (Hypophthalmichthys harmadi) và cá Mè hoa (Arichthichthys nobilis)

là những đối tượng ăn thực vật và động vật ăn phù du ở tầng mặt, giữa.

- Trong thủy vực, nền đáy chứa nhiều phế thải hữu cơ nhất. Đó chính là

nguồn dinh dưỡng đáng kể cho các động vật đáy, đặc trưng cho các dạng ao

nuôi. Việc sử dụng các đối tượng “dọn đáy” ăn tạp ở tầng đáy như cá Chép

(Cyprinus carpio) hay cá Trơi (Labeorohita sp.)góp phần tham gia vào việc

chuyển hóa các phế thải hữu cơ vừa tham gia xử lý môi trường ao nuôi.

Như vậy, các tầng nước giữa, tầng mặt và tầng đáy trong ao nuôi đã

được tận dụng tốt nguồn dinh dưỡng theo các tổ sinh thái của từng nhóm cá.

Nhờ đó mà các chất ơ nhiễm được tái sử dụng, khép kín chu trình xử lý và

tự làm sạch được môi trường ao nuôi .



II. VAI TRÒ KINH TẾ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC

1- Cung cấp lương thực và thực phẩm cho nhân loại

An ninh lương thực - thực phẩm là vấn đề sống còn của nhân loại.

Cho đến nay, chưa có cơng nghệ nào có thể sản xuất được nguồn lương

thực - thực phẩm nhân tạo thay thế cho nguồn tài nguyên ĐDSH.

Tài nguyên ĐDSH là nguồn lương thực - thực phẩm toàn diện, thể hiện

ở đầy đủ các sản phẩm hữu cơ từ Lipid, Gluxit đến hàm lượng Protein.

Các nguồn lương thực - thực phẩm này chứa đầy đủ 20 loại axit amin có

trong tự nhiên, trong đó có đủ các loại axit amin mà con người không tự

chế tạo ra được phải lấy từ động vật, thực vật, vi sinh vật. Đó là những

axit amin không thay thế.



Trên Thế giới người ta đã thống kê có hơn 3.000lồi/250.000 lồi cây

được coi là nguồn thức ăn quan trọng (lương thực - thực phẩm, rau màu)

nuôi sống con người.

Khoảng 75% chất dinh dưỡng cho con người lấy

từ các lồi lúa mỳ, ngơ, khoai lang, khoai tây, lúa mạch và sắn.

Những năm gần đây, hàng chục loài cây lương thực - thực phẩm mới

được phát hiện và được đánh giá cao ở một số vùng. (Tảo xoắn (Spirulina)

chứa 70% protein và có hàm lượng vitamin rất cao);

Nhiều loài cỏ biển được sử dụng làm thực phẩm ở châu Âu và Bắc Mỹ.

Nhiều nước như Trung Hoa, Nhật Bản,… đánh giá rất cao thức ăn lấy từ các

loài thực vật biển.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3. GIÁ TRỊ CỦA ĐA DẠNG SINH HỌC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×