Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đa dạng di truyền của loài Keo má trắng Platycercus eximius (ở Úc) thể hiện qua màu sắc và đốm thân. Sơ đồ còn chỉ ra các vùng phân bố của chúng

Đa dạng di truyền của loài Keo má trắng Platycercus eximius (ở Úc) thể hiện qua màu sắc và đốm thân. Sơ đồ còn chỉ ra các vùng phân bố của chúng

Tải bản đầy đủ - 0trang

2. Đa dạng Loài

Định nghĩa: “Loài là tập hợp các cá thể của quần thể gần giống

nhau về mặt hình thái, cùng chung một nguồn gốc và khi giao phối

với nhau sẽ cho thế hệ con hữu thụ và được cách ly sinh sản với các

nhóm quần thể khác”.

Đa dang loài là sự phong phú về hàng triệu loài sinh vật và dạng

sống của chúng trên Trái đất.

Những năm đầu của thế kỷ XXI, các nhà khoa học đã nghiên cứu

thành phần loài dưới đáy biển sâu của Đại dương, những lồi cơn

trùng sống trên tán lá rậm rạp ở các tầng cao vùng rừng nhiệt đới… có

dự đốn số loài sống trên Trái đất phải đạt đến con số 100 triệu loài!

Tuy nhiên, các nhà phân loại học trên Thế giới chỉ mới mơ tả hơn

1,7 triệu lồi và hàng năm chỉ mơ tả được khoảng hơn 11.000 lồi, nếu

phân loại hết số loài hiện sống được dự kiến, các nhà khoa học phải

mất đến 9.090 năm mới kiểm kê hết được 98,3 triệu lồi còn lại



Ước tính số lồi hiện sống trên Trái đất

(100Triệu lồi)



Các nhóm phân loại có số lồi cao trên Trái đất

STT



Σ



Tên Taxon



Các lồi đã mơ tả

(làm tròn)



Số lồi ước tính

Cao nhất



Hiện có



1



Virus



5.000



500.000



500.000



2



Vi khuẩn



4.000



3.000.000



400.000



3



Nấm



70.000



1.500.000



1.000.000



4



Động vật ngun sinh



40.000



100.000



200.000



5



Tảo



40.000



10.000.000



200.000



6



Thực vật hạt kín



250.000



500.000



300.000



7



Động vật có xương sống



45.000



50.000



50.000



8



Giun đất



15.000



1.000.000



500.000



9



Thân mềm



70.000



180.000



200.000



10



Giáp xác



40.000



150.000



150.000



11



Nhện



75.000



1.000.000



750.000



12



Cơn trùng



950.000



100..000.000



8.000.000



1.604.000



117.980.000



12.250.000



Hiện nay, hàng năm vẫn còn phát hiện được nhiều loài mới

cho khoa học từ các loài động vật lớn, động vật bậc cao như cá,

bò sát, chim, thú.

Trung bình mỗi năm có 3 lồi chim, 5 lồi bò sát, 4 lồi thú

và 15 lồi cá mới được mơ tả cho khoa học.

Tuy nhiên hiện còn 40% lồi cá nước ngọt ở Nam Mỹ chưa

được mô tả.

Gần đây khu rừng mưa nhiệt đới vùng Bắc Trường Sơn nằm

ở biên giới Việt – Lào vừa mới được các nhà khoa học phát hiện

5 loài thú mới cho khoa học. Đó là các lồi: Sao la (Pseudoryx

nghetinhensis), Mang lớn (Megamuntiacus vuguangensis), Mang

Trường sơn (Muntiacus truongsonensis), Mang lá (Muntiacus

rooseveltorum) và Thỏ sọc Trường Sơn (Nesolagus timminski)



Những loài thú mới được phát hiện ở Việt Nam

Mang lá (Muntiacus

rooseveltorum)



Mang Trường Sơn (Muntiacus truongsonensis)



Được các nhà khoa học

đònh danh lần đầu tiên

vào năm 1997



Được các nhà khoa học phát

hiện vào tháng 4 năm 1997

trên dãy Trường Sơn



Sao La (Pseudoryx nghetinhensis)



Được phát hiện lần đầu

tiên ở Việt Nam năm

1992. Sau đó người ta

cũng phát hiện loài

này ở Lào.



Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis)



Được các nhà khoa học

phát hiện lần đầu tiên

vào năm 1994 trên dãy

Trường Sơn, biên giới Việt

Nam và Lào. Người ta

cũng tìm thấy loài này ở

đòa phận Campuchia



Heo rừng Việt Nam (Sus bucculentus)



Được khám phá vào

năm 1937, sự phân

bố của loài này

hiện nay rất hạn chế

với số lượng khoảng



Heo được mô tả lần đầu tiên vào

năm 1892 từ bộ xương được tìm

thấy ở miền nam Việt Nam. Vào

tháng giêng năm 1995, một bộ

xương không hoàn chỉnh nhưng lại

được tìm thấy ở dãy Trường Sơn

bên Lào, gần biên giới Việt Nam

Bò Bouprey (Bos sauveli)



Thỏ sọc

(Nesolagus

sp)



Cũng được tìm thấy trên dãy Trường Sơn,

biên giới của Việt Nam và Lào. Được

phát hiện vào năm 1999 và là 1 loài

thỏ hoang dại mới



Hiện nay trên thế giới, sự ĐDSH loài thể hiện rõ nhất ở

vùng nhiệt đới. Rừng nhiệt đới chỉ chiếm 7% diện tích thế

giới, nhưng có tới trên 50% số loài của toàn cầu.

Những nghiên cứu về ĐDSH của vùng rừng nhiệt đới còn

bị hạn chế bởi các lồi Chân khớp (Arthropoda), nhất là nhóm

cơn trùng (Insecta) có số lồi chiếm đại đa số Số lồi cơn trùng

có thể ước tính chiếm tới 90% số lồi hiện có trên Thế giới và

chúng chủ yếu tập trung ở rừng nhiệt đới

Khoảng 30% các loài chim trên toàn thế giới gồm 1.300

loài ở vùng châu Mỹ, 4.000 loài ở vùng châu Phi và 900 loài ở

cùng châu Á, tất cả cũng phân bố tập trung chủ yếu ở vùng

nhiệt đới

Đối với nhóm cây có mạch ở châu Mỹ đã mơ tả khoảng

86.000 lồi, châu Phi có tới 38.000 lồi và châu Á nhiệt đới

45.000 lồi. Con số đó chiếm 2/3 trong tổng số 250.000 loài

cây trên Thế giới và trên 100.000 lồi có ở rừng nhiệt đới.



Các lồi sinh vật sống nổi (plankton) và sống đáy

(benthos) ở biển cũng có xu thế hướng số lồi đơng về

vùng xích đạo. Ở vùng biển gần cực, các lồi Thân

mềm có vỏ (Bivalvia và Gastropoda) chỉ có 103 lồi,

trong khi ở vùng nhiệt đới có tới 600 lồi.

Cho đến nay, khoảng 700 lồi san hơ tạo rạn đã

được ghi nhận trên Thế giới với tính đa dạng lồi khác

nhau giữa các vùng biển. Trong đó vùng đa dạng nhất

là nhiệt đới Tây Thái Bình Dương.

Nếu xét trên cùng một đơn vị diện tích thì rạn san

hơ được xem là nơi ĐDSH nhất về thành phần giống

loài sinh vật.



Để thấy rõ những nước có tính ĐDSH lớn nhất trên

Thế giới, có thể lấy thực vật hạt kín của các nước khác

nhau làm ví dụ

Các lồi thực vật hạt kín của 16 nước có mức độ ĐDSH

cao được chia làm 5 nhóm sau:

- Trên 50.000 lồi chỉ có Brazin;

- Từ 30.000 – 40.000 lồi bao gồm Colombia, Trung

Quốc;

- Từ 20.000 – 30.000 loài bao gồm Mêxicơ, Nga,

Indonexia, Việt Nam;

- Từ 15.000 - 20.000 lồi có ở Úc, Vênêzuêla, Mỹ,

Inda, Bolivia

- Từ 10.000 - 15.000 có Pêru, Mã Lai, Thái Lan, Cơng

Gơ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đa dạng di truyền của loài Keo má trắng Platycercus eximius (ở Úc) thể hiện qua màu sắc và đốm thân. Sơ đồ còn chỉ ra các vùng phân bố của chúng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×