Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bộ Dendrochiota(Tua phân nhánh) Họ Cucumaridae Cucumaria sp.

Bộ Dendrochiota(Tua phân nhánh) Họ Cucumaridae Cucumaria sp.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Cucumaria fallax



Ophiothrix angulata



3. Đa dạng Hệ sinh thái

Đa dạng HST là sự phong phú về các kiểu HST khác nhau ở

cạn cũng như ở nước tại một vùng nào đó.

HST là hệ thống bao gồm sinh vật và môi trường tác động lẫn

nhau mà ở đó thực hiện vòng tuần hồn vật chất, năng lượng và

trao đổi thơng tin.

Đa dạng HST thể hiện bằng sự khác nhau của các kiểu quần

xã sinh vật tạo nên. Các cơ thể sinh vật và các điều kiện sống của

chúng (đất, nước, khí hậu, địa hình,…) nằm trong mối quan hệ

tương hỗ và tác động hữu cơ lẫn nhau tạo thành các HST.



Trong một HST, các quần xã sinh vật thường có mối

quan hệ tương hỗ lẫn nhau

Trong một quần xã sinh vật, một số lồi có vai trò

quyết định khả năng tồn tại, phát triển của một số loài

khác. Những loài quan trọng này thường có ảnh hưởng đến

cấu trúc quần xã được gọi là loài chủ yếu

Các loài thú săn mồi bậc cao trong chuỗi thức ăn là

những loài như vậy. Chúng là yếu tố quan trọng kiểm soát

số lượng quần thể của những loài động vật ăn cỏ. Sự suy

giảm dù chỉ một ít động vật săn mồi bậc cao hoặc sinh khối

của chúng bị suy giảm, rất có thể sẽ gây ra những thay đổi

lớn với các loài thực vật và gây mất mát lớn cho ĐDSH).



Bên cạnh những loài chủ yếu, trong quần xã thường hình

thành các lồi ưu thế. Thuật ngữ này đánh giá mức độ giàu có

của loài và tương quan số lượng cá thể giữa các lồi.

Ví dụ, trong một quần xã có 10 lồi chim, tổng số chim trong

quần xã này là 60 con: Nếu như các lồi có số lượng đồng đều thì

mỗi lồi chim có 6 cá thể, nhưng nếu số lượng cá thể giữa các

lồi khơng đồng đều thì có thể có 5 lồi, trong số đó mỗi lồi có 2

cá thể trong khi lồi thứ 6 lại có đến 50 cá thể. Trong trường hợp

thứ nhất khơng có lồi nào được coi là có ưu thế về số lượng, còn

trong trường hợp thứ hai thì lồi thứ 6 được coi là lồi có ưu thế

trong quần xã.



Người ta thường đưa ra chỉ số tính tốn mức độ ĐDSH cho

những vùng khác nhau về địa lý.

Tổng số loài của một quần xã thường được mô tả như là sự

đa dạng Alpha. Chỉ số đa dạng Alpha rất gần với khái niệm về

sự giàu có của lồi và có thể so sánh tổng số loài trong các HST

khác nhau.

Khái niệm về chỉ số đa dạng Beta mô tả mức độ dao động

thành phần lồi khi các yếu tố mơi trường thay đổi. Tính đa dạng

Beta cao, ví dụ như thành phần lồi của quần xã bướm đêm thay

đổi về cơ bản theo độ cao và theo độ dốc của sườn núi, nhưng

tính đa dạng Beta sẽ thấp nếu như chỉ có một lồi sống trên cả

một vùng sườn núi.

Sau cùng là chỉ số đa dạng Gamma áp dụng cho những khu

vực rộng lớn hơn về mặt địa lý.

Trong thực tế ba chỉ số đa dạng này thường liên quan chặt

chẽ với nhau. Những quần xã thực vật ở vùng Amazon có chỉ số

đa dạng Alpha, Beta, Gamma đều cao (Gentry, 1986 ).



Trong nghiên cứu nhằm tìm hiểu mức độ thay đổi cấu trúc

thành phần loài của SV (giữa các vùng nghiên cứu ở các địa điểm

khác nhau) bằng cách sử dụng công thức tính hệ số giống nhau

của Sorensen (1948):

S = 2C / (A + B)

Trong đó:

S là hệ số giống nhau.

A là số lượng loài trong mẫu hay địa điểm A.

B là số lượng loài trong mẫu hay địa điểm B.

C là số loài chung cho cả A và B.

Khi giá trị của S càng tiến tới 1, cấu trúc của quần xã giữa các

vùng nghiên cứu càng giống nhau (ít có sự khác nhau).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bộ Dendrochiota(Tua phân nhánh) Họ Cucumaridae Cucumaria sp.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×