Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PhÇn V. c¸c dù ¸n ph¸t triÓn

PhÇn V. c¸c dù ¸n ph¸t triÓn

Tải bản đầy đủ - 0trang

lượng di truyền của cá rô phi vằn thông qua các tổ hợp lai khác nhau, kết quả là đã

tạo ra được dòng cá Nila Jica có tốc độ sinh trưởng cao trong điều kiện môi trường

nuôi của Indonesia (nguồn www.dkp.go.id). Chọn giống nâng cao tốc độ sinh

trưởng đã bắt đầu được thực hiện tại Malawi với kết quả thu được tốc độ tăng

trưởng tăng khoảng 7,2% sau mỗi thế hệ (Maluwa and Gjerde, 2005). Chọn giống

theo tính trạng nâng cao tỷ lệ phi lê được thực hiện tại Hà Lan trong những năm

gần đây, kết quả cho thấy có thể chọn lọc để nâng cao tỷ lệ phi lê của cá rô phi

(Rutten et al., 2005). Schwark và Langholz (1998) đã cơng bố kết quả nghiên cứu

cho thấy có thể chọn giống để làm chậm quá trình phát dục ở cá rơ phi. Ngồi ra,

chọn giống theo tính trạng chậm thành thục sinh dục và chậm sinh sản được thực

hiện tại Trung Quốc, Ai Cập. Chọn giống để tăng khả năng chịu lạnh đã được thực

hiện tại Israel. Qua các kết quả nghiên cứu cho thấy một số tính trạng quan trọng

của cá rô phi đã được quan tâm và có những đầu tư nghiên cứu nhất định trên thế

giới.

Ngoài phương pháp chọn giống truyền thống đang được áp dụng rộng rãi trên

thế giới để nâng cao phẩm giống theo tính trạng mà ta mong muốn thì việc sử

dụng công nghệ di truyền phân tử (ADN) cũng bắt đầu được sử dụng. Việc kết hợp

công nghệ di truyền phân tử với chọn giống truyền thống của công ty Genomar đã

tạo ra dòng cá rơ phi GST1 và GST3 có tốc độ tăng trưởng cao hơn (khoảng 20%)

sau mỗi thế hệ, hệ số thức ăn thấp hơn, tỷ lệ sống đạt cao và giảm tỷ lệ cận huyết

xuống dưới 3% ở mỗi thế hệ (Hans Magnus, 2004). Các nhà khoa học Mỹ và

Israel đã phối hợp và tìm ra 2 marker liên quan đến tính trạng chịu lạnh và 3

marker liên quan đến tính trạng tăng trưởng của cá rơ phi lai O. aureus x O.

mossambicus (Craani và ctv, 2000) Do đó đây là một phương pháp chọn giống

hiện đại và có tính thực tiễn cao sẽ được áp dụng nhiều trong thời gian tới.

Cá rô phi đã được biết ở nước ta từ những năm 1950, đó là dòng cá rô phi đen

(Oreochrromis mossambicus) những năm tiếp theo cá này đã được ni với hình

thức quảng canh khơng đầu tư nhiều. Nhưng do cá chậm lớn sinh sản dày dẫn đến



89



đàn cá này không được người nuôi quan tâm. Những năm 1970, chúng ta đã nhập

đàn cá rô phi vằn, dòng cá này có nhiều ưu điểm hơn đàn cá rô phi đen nhưng do

công tác giữ và sản xuất giống không tốt dẫn đến chất lượng giống suy giảm

nhanh, người nuôi không chấp nhận. Phong trào nuôi cá rô phi ở nước ta chỉ mới

khôi phục lại sau những năm 1990s, sau khi một số dòng cá rơ phi vằn có chất

lượng được nhập vào nước ta như dòng Đài Loan, dòng Thái Lan, dòng GIFT và

cá rơ phi hồng. Hiện nay các dòng cá rơ phi vằn này vẫn đang được sản xuất ở

nước ta.

Vai trò của công tác chọn giống và chất lượng giống đáp ứng cho nhu cầu

ni ngày càng tăng của người dân có vai trò quan trọng. Nghiên cứu chọn giống

để nâng cao chất lượng di truyền của cá rô phi đã được quan tâm thực hiện ở Việt

Nam. Cá rơ phi dòng GIFT thế hệ thứ 5 ngay sau khi nhập vào nước ta đã được sử

dụng làm vật liệu ban đầu cho chương trình chọn giống nhằm nâng cao tốc độ sinh

trưởng ở nước ta. Sau 3 năm nghiên cứu với phương pháp chọn lọc gia đình đã

cho hiệu quả chọn lọc ở thế hệ thứ 2 tăng thêm khoảng 20% về tốc độ tăng trưởng

(Nguyễn Công Dân và ctv, 2001). Trong khn khổ dự án NORAD chương trình

chọn giống vẫn được thực hiện đến nay đã thu được 7 thế hệ chọn giống về tốc độ

tăng trưởng trong môi trường nước ngọt và tính trạng chịu lạnh cũng đã bắt đầu

được nghiên cứu. Tốc độ tăng trưởng của cá chọ giống đã tăng khoảng trên 40%

và sức sống cũng được cải thiện đáng kể. Đàn cá chọn giống nâng cao tốc độ sinh

trưởng này đã được cung cấp cho 61 tỉnh thành trong cả nước làm cá bố mẹ sản

xuất giống cung cấp cho người ni. Ngồi ra hàng năm nhiều cơ sở đã chủ động

thay thế đàn cá bố mẹ bằng các thế hệ chọn giống mới nhất. Nhờ có được định

hướng phát triển của ngành và giống cá rô phi đã được chọn lọc nâng cao chất

lượng đã đưa sản lượng cá rô phi nuôi của nước năm 2005 đạt trên 54.000 tấn (Số

liệu điều tra quy hoạch cá rơ phi, 2005). Ngồi ra do u cầu phát triển nuôi cá rô

phi trong môi trường nước lợ mặn ở các vùng nước ven biển, chương trình chọn

giống nhằm nâng cao tốc độ tăng trưởng của cá rô phi trong môi trường này đã bắt



90



đầu được thực hiện. Sau năm 2006 hy vọng chúng ta sẽ tìm ra được quần đàn cá

có tốc độ sinh trưởng ưu việt trong môi trường nước lợ ở nước ta để tiếp tục chọn

lọc để nâng cao phẩm giống cho người nuôi. Đặc biệt hơn trong chương trình chọn

giống này kỹ thuật di truyền phân tử đã được áp dụng để hỗ trợ q trình chọn lọc.

Cá rơ phi ngày càng chiếm vị trí quan trọng trong tập đồn cá ni ở nước ta

hiện nay. Mức độ đầu tư cũng như nhu cầu con giống ngày càng tăng, nhất là con

giống có chất lượng cao cho người ni. Đa dạng hố các mơ hình ni và tận

dụng các loại hình mặt nước khác nhau do đó cần có những nghiên cứu tiếp tục để

đưa ra được các dòng cá rơ phi có tính ưu việt cho các điều kiện sinh thái khác

nhau. Hiện nay đối với điều kiện sinh thái khác nhau chúng ta cần tạo ra được các

phẩm giống có tốc độ sinh trưởng nhanh trong điều kiện môi trường nước ngọt,

khả năng phát triển trong điều kiện khí hậu lạnh và phát triển trong mơi trường

nước lợ, mặn. Ngồi ra trong thời gian tới việc xuất khẩu cá rô phi cũng sẽ phát

triển do đó đầu tư nghiên cứu nâng cao chất lượng và sản lượng cá phi lê cũng cần

được đẩy mạnh.

Chọn giống là biện pháp duy trì và nâng cao chất lượng phẩm giống trong

những điều kiện môi trường ni nhất định do đó đây là một việc làm cần phải

duy trì thường xuyên. Để đảm bảo cung cấp đủ số lượng giống có chất lượng cho

người ni và thực hiện được mục tiêu sản xuất khoảng 300 ngàn tấn cá rơ phi

thương phẩm vào năm 2015 thì việc nghiên cứu các chương trình chọn giống và

áp dụng cơng nghệ di truyền để tạo ra các phẩm giống cá rô phi sinh trưởng trong

các điều kiện môi trường khác nhau, có tỷ lệ phi lê cao là cần thiết và có tính thực

tiễn cao ở nước ta.

2. QUAN ĐIỂM VÀ MỤC TIÊU DỰ ÁN

2.1 Các quan điểm

Dựa trên các quan điểm về quy hoạch và phát triển rô phi ở nước ta cho thấy,

việc xây dựng các chương trình chọn giống là cần thiết. Cung cấp cho người nuôi



91



con giống có chất lượng phù hợp với các điều kiện nuôi khác nhau sẽ làm giảm rủi

ro đầu tư của người nuôi, tăng hiệu quả kinh tế, đảm bảo an ninh lương thực, xố

đói giảm nghèo và tạo cơng ăn việc làm ổn định cho người dân.

Sản xuất hàng hoá có chất lượng khơng chỉ đa dạng hố các sản phẩm mà còn

tăng tính cạnh tranh của các sản phẩm cá rô phi nước ta trên thị trường thế giới.

Sản phẩm cá rơ phi có tốc độ sinh trưởng nhanh và tỷ lệ phi lê cao là một trong

những lợi thế cạnh tranh. Đồng thời cá rơ phi có khả năng chịu lạnh sẽ giúp đồng

bào ở các khu vực có khí hậu lạnh có thể ni cá rơ phi để tăng thu nhập và cải

thiện đời sống.

Khép kín quy trình chọn giống và cung cấp giống cá rơ phi đến các nông hộ

sẽ làm giảm rủi ro cho môi trường sinh thái, đảm bảo phát triển bền vững có quy

hoạch và tiến tới các kết quả nghiên cứu sẽ mang tính thực tiễn cao hơn. Thơng

qua các chương trình nghiên cứu sẽ nâng cao trình độ kỹ thuật, chuyên môn của

cán bộ nghiên cứu trong chọn giống và quản lý chất lượng giống cá rơ phi nói

riêng và các giống lồi thuỷ sản nói chung.

2.2 Mục tiêu

Sử dụng các công nghệ di truyền chọn giống với sự trợ giúp của các chỉ thị

phân tử để tạo ra các phẩm giống cá rơ phi có tốc độ sinh trưởng nhanh, chịu mặn,

chịu lạnh và tỷ lệ phi lê cao thích hợp với các điều kiện ni, mục đích khác nhau

(ni ở phía Bắc, phía Nam, vùng nước ngọt, lợ, mặn và chế biến xuất khẩu) ở

nước ta.

3. NỘI DUNG DỰ ÁN

Dự án thực hiện bao gồm 3 nội dung nghiên cứu chính sau đây:

-



Chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ phi lê cá rô phi (O.

niloticus) nuôi trong môi trường nước ngọt.



-



Chọn giống nâng cao tốc độ sinh trưởng và tỷ lệ sống của cá rô phi (O.

niloticus) trong điều kiện khí hậu lạnh ở Việt Nam.



92



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PhÇn V. c¸c dù ¸n ph¸t triÓn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×