Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Phần I. Hiện trạng Phát triển nuôi cá rô phi

Phần I. Hiện trạng Phát triển nuôi cá rô phi

Tải bản đầy đủ - 0trang

30oC. ở thành phố Hồ Chí Minh, nhiệt độ chênh lệch giảm dần

dao động giữa 26 - 29.8 oC. Những tháng 6,7, 8 ở Bắc và Trung

bộ là tháng nóng nhất. Khi đó ở Nam bộ nhiệt độ điều hòa hơn.

Mùa xuân, mùa hạ, ma nhiều, lợng nớc ma trong năm có khi lên rất

cao: Hà Nội năm 1926 là 2.741 mm, Huế lợng ma trung bình là

2.900 mm, thành phố Hồ Chí Minh trung bình là 2.000 mm mỗi

năm.

Việt Nam có tiềm năng phát triển nuôi trồng thuỷ sản ở

khắp mọi miền đất nớc cả về nuôi biển, nuôi nớc lợ và nuôi nớc

ngọt. Đến năm 2005, diện tích sử dụng nuôi trồng thuỷ sản là

971.490 ha, trong đó 626.914 ha nớc mặn, lợ và 344.576 ha nớc

ngọt.

Theo số liệu của Tổng Cục Thống kê, GDP của ngành Thuỷ

sản giai đoạn 1995 - 2003 tăng từ 6.664 tỷ đồng lên 24.125 tỷ

đồng. Ngành Thuỷ sản có tốc độ tăng trởng rất nhanh so với các

ngành kinh tế khác. Tỷ trọng GDP của ngành Thuỷ sản trong tổng

GDP toàn quốc liên tục tăng. từ 2.9% (năm 1995) lên 3.4% (năm

2000) và đạt 3.93% vào năm 2003. Năm 2005, giá trị xuất khẩu

thuỷ sản đạt 2,76 tỷ USD, tăng gần 13% so với 2004, đa Việt

Nam lên vị trí thứ 7 trong danh sách các nớc xuất khẩu thuỷ sản

lớn nhất thế giới.

Bảng 1. Diện tích mặt nớc và diện tích nuôi trồng thủy sản

theo vùng sinh thái

Vùng/Khu

vực

Toàn quốc

Đ.B.Sông



Diện tích mặt nớc (ha)

Lợ/mặ

Tổng

Nớc ngọt

n

1.852.0 891.30 960.753

61

8

191.682 53.986



137.696



Diện tích NTTS (ha)

Tổng



Lợ/mặn



Nớc ngọt



971.49



626.91



344.576



0

90.923



4

22.315



68.608



4



Hồng

Đông



99.470 16.883



82.587



61.015



8.255



52.760



Bộ

Tây Bắc Bộ 46.081

Bắc Trung 144.858 39.045



46.081

105.813



14.457

50.815



17.820



14.457

32.995



69.950 40.535



29.415



23.128



14.293



8.835



Bộ

Tây Nguyên 38.040

Đông

Nam 192.522 61.354



38.040

131.168



7.021

54.317



18.562



7.021

35.755



Bộ

Đ.B.Cửu



389.953 669.814 545.669



124.145



Bộ

Nam



Long



Bắc



Trung



1.069.4 679.50

58



5



Trong các hoạt động của ngành, nuôi trồng thuỷ sản đang

ngày càng có vai trò quan trọng hơn khai thác thuỷ sản cả về sản

lợng. chất lợng cũng nh tính chủ động trong sản xuất. Điều này tất

yếu dẫn đến sự chuyển đổi về cơ cấu sản xuất - u tiên phát

triển các hoạt động kinh tế mũi nhọn. đem lại hiệu quả kinh tế

cao.

Trong 8 vùng sinh thái thì vùng Đồng bằng sông Cửu Long là

vùng có tiềm năng phát triển lĩnh vực khai thác và nuôi trồng thủy

sản mạnh nhất cả nớc, sau đó đến các vùng nh Nam Trung Bộ,

Bắc Trung Bộ và đồng bằng sông Hồng. Tốc độ tăng trởng GDP

lĩnh vực khai thác và nuôi trồng thủy sản nhìn chung không

đồng đều giữa các vùng. Vùng có tốc độ tăng trởng cao về phát

triển thủy sản là vùng Đồng bằng sông Cửu Long là 15.9% và đây

cũng là vùng có sản luợng cao nhất về thủy sản.

Ngành thuỷ sản với sự phát triển nhanh đã tạo ra hàng loạt

việc làm, thu hút một lực lợng lao động đông đảo tham gia vào

tất cả các công đoạn sản xuất, góp phần giảm sức ép thiếu việc



5



làm trên phạm vi cả nớc.Thuỷ sản đợc đánh giá là nguồn cung cấp

chính đạm động vật cho ngời dân.



Bảng 2. Cơ cấu GDP và tốc độ tăng trởng thủy sản năm

2001 theo các vùng

Các vùng/khu vực



Cơ cấu GDP



Tốc độ tăng tr-



Đồng bằng sông Hồng

Đông Bắc Bộ

Tây Bắc Bộ

Bắc Trung Bộ

Duyên hải Nam Trung



0.80

0.55

0.50

2.14

6.21



ởng

5.185

3.813

1.969

-0.790

0.997



Bộ

Tây Nguyên

Đông Nam Bộ

Đồng bằng sông Cửu



0.31

0.66

8.57



-11.20

11.062

15.936



Long



Năm 2002. mức tiêu thụ thuỷ sản của mỗi ngời dân Việt

Nam trung bình là 13.6 kg thấp hơn mức tiêu thụ trung bình sản

phẩm thịt lợn (17,1 kg/ngời) và cao hơn mức tiêu thụ thịt gia cầm

(3,9 kg/ngời). Cũng giống nh một số nớc châu á khác. thu nhập

tăng đã khiến ngời dân có xu hớng chuyển sang tiêu dùng nhiều

hơn mặt hàng thuỷ sản. Có thể nói ngành thuỷ sản có đóng góp

không nhỏ trong việc bảo đảm an ninh thực phẩm quốc gia.

Bảng 3. Mức tiêu thụ thủy sản năm 2002 ở các vùng nông thôn nớc

ta

Vùng/khu vực



Mức tiêu thụ (Kg/ngời/năm)



Đồng bằng sông Hồng

7,5



6



Đông Bắc Bộ

5,8

Tây Bắc Bộ

3,7

Bắc Trung Bộ

10,2

Duyên hải Nam Trung Bộ

16,7

Tây Nguyên

18,0

Đông Nam Bộ

7,4

Đồng bằng sông Cửu Long

26,4

Toàn quốc



13,6



Mức tiêu thụ khẩu phần thức ăn thủy sản bình quân toàn

quốc năm 2005 theo ớc tính đạt 22 Kg/ngời/năm. Mức tiêu thụ

thủy sản có sự dao động khá rõ rệt theo vùng sinh thái: vùng ven

biển Bắc Trung Bộ. duyên hải Nam Trung Bộ. và Đồng Bằng sông

Cửu Long mức tiêu thụ khá lớn. Ngợc lại ở một số vùng trung du

miền núi nh Tây Bắc. Tây Nguyên, Đông Bắc do sản lợng thủy

sản không nhiều, địa hình phức tạp, giá cả cao và lu thông mặt

hàng thủy sản ở những vùng này khó khăn. Do đó mức tiêu thụ

thủy sản bình quân theo đầu ngời ở các vùng này rất thấp và

đây cũng là vùng có tỷ lệ ngời dân thiếu dinh dỡng cao nhất.

1.2 Tình hình nuôi cá rô phi

1.2.1 Tình hình nuôi cá rô phi trên thế giới

Cá rô phi có nguồn gốc Châu phi, nhng đợc di giống và nuôi

rộng rãi trên thế giới, hiện có hơn 100 nớc đang nuôi cá rô phi. Cá

rô phi hiện là đối tợng nuôi quan trọng thứ hai, chỉ đứng sau

nhóm cá chép. Sản lợng cá rô phi nuôi trên thế giới tăng nhanh,



7



trong 20 năm gần đây sản lợng cá rô phi nuôi trên thế giới tăng

gần 8 lần, từ 200.000 tấn năm 1980, đến 400.000 tấn năm 1991

và đạt gần 1,6 triệu tấn năm 2003, giá trị ớc tính khoảng 2,5 tỷ

USD, dự đoán năm 2010 tổng giá trị cá rô phi nuôi toàn cầu đạt

4 tỷ USD. Trong khi đó sản lợng cá rô phi khai thác từ tự nhiên

trong nhiều năm ổn định ở mức 500.000 tấn/năm. Châu á là

nơi nuôi nhiều cá rô phi nhất trên thế giới, tập trung chủ yếu ở các

nớc vùng Đông á và Đông Nam á. Năm 2003 sản lợng cá rô phi nuôi ở

Châu á chiếm 80% sản lợng toàn cầu, 20% còn lại là từ các nớc

Châu Phi, Trung- nam Mỹ (Fitzsimmon, 2004).

Trung Quốc là nớc có sản lợng cá rô phi tăng lên nhanh chóng,

năm 1980 sản



lợng cá rô phi nuôi là 9.000 tấn, năm 1985 là



29.000 tấn, năm 1995 là 320.000 tấn chiếm khoảng 45% tổng

sản lợng cá rô phi nuôi ở Châu á (FAO, 1997; Lisifa, 1997), năm

2002 đạt sản lọng cá rô phi nuôi 706.585 tấn. Trung Quốc nuôi cá

rô phi theo các hình thức khác nhau: nuôi ghép, nuôi đơn, nuôi

trong ao hồ, trong ruộng lúa, trong lồng và chủ yếu nuôi ở các

vùng nớc ngät.



8



2 ,0 0 0

1 ,8 0 0

S a ûn l ư ơ ïn g ( n g h ì n t a án )



1 ,6 0 0

1 ,4 0 0

1 ,2 0 0

1 ,0 0 0

800

600

400

200



2004



2003



2002



2001



2000



1999



1998



1997



1996



1995



1994



1993



1992



1991



1990



0



N a ờm



Hình 1. Sản lợng cá rô phi nuôi giai đoạn 1991-2004 trên thế

giới

Philippine là một trong những nớc nuôi khá nhiều cá rô phi,

năm 2003 nuôi cá rô phi ở 230.000 ha, đạt sản lợng 135.996 tấn.

Nuôi cá rô phi trong ao và lồng. Nuôi cá trong cả vùng nớc ngọt và

nớc lợ. Sản lợng cá rô phi nuôi ao nớc ngọt chiếm khoảng 56%, nuôi

lồng nớc ngọt là 37% và nuôi ao nớc lợ là 7% tổng sản luợng cá rô

phi nuôi.

Các nớc Châu Mỹ bắt đầu quan tâm đến nuôi cá rô phi

trong vòng hơn 10 năm gần đây, đặc biệt sau các rủi ro của

nghề nuôi tôm do dịch bệnh gây ra. Các nớc vùng Trung-nam Mỹ

nh Mêhicô, Braxil, Ecuador là những nớc sản xuất rô phi chủ yếu ở

khu vực này.

Cá rô phi có nguồn gốc từ Châu Phi, tuy nhiên nghề nuôi cá

rô phi lại chỉ mới bắt đầu phát triển ở châu lục này. Ai Cập là



9



nhà sản xuất cá rô phi lớn nhất ở Châu Phi, năm 2003 đạt sản lợng

200.000 tấn , chiếm 90% sản lợng cá rô phi nuôi của châu lục.

Châu Phi có một sản lợng đáng kể cá rô phi đợc khai thác từ tự

nhiên. Các quốc gia Ghana, Nigiêria, Kenya, Uganda, Tanzania,

Môzămbic, Namibia, Botswana, Angola đều có sản lợng cá rô phi

nuôi không đáng kể và các quốc gia này cũng đang có kế hoạch

phát triển nuôi cá rô phi.

Bảng 4. Sản lợng cá rô phi nuôi ở một số nớc trên thế giới



(Fitzsimmons, 2004)

Đông á



Sản lợng



Năm



Châu Mỹ



706.585



2002



Mêhicô



Đài Loan



90.000



2002



Philippin



122.277



Thái Lan



Trung Quốc



( tấn)



Sản lợng

(tấn)



Năm



110.000



2003



Braxil



75.000



2003



2002



Côlômbia



40.000



2003



100.000



2003



Cuba



39.000



2001



Indônêsia



50.000



2002



Êcuado



27.000



2002



Việt Nam



25.000



2002



Costa Rica



17.000



2002



Malaysia



15.000



2001



Honduras



13.000



2002



Myanma



4.000



2003



Hoa Kỳ



9.200



2003



Hàn Quốc



1.000



2003



Jamaica



5.200



2001



Trung Đông

Ai Cập



Châu Phi

52.755



2001



Zimbabiwe



5.000



2001



Israel



7.000



2001



Nigêria



4.471



2000



Jordan



1.000



2001



Kênya



1.000



2001



Sản lợng cá rô phi nuôi ở châu Âu không đáng kể do có

nhiệt độ thấp không thuận lợi để nuôi cá rô phi. Theo thống kê

của FAO, sản lợng cá rô phi nuôi của châu âu là 270 tấn vào năm

10



1999. Hiện nay, Bỉ là nớc nuôi nhiều cá rô phi nhất với sản lợng

đạt khoảng 300 tấn/năm. Cá rô phi cũng đợc nuôi ở Hà Lan, Thụy

Sỹ, Tây Ban Nha, Pháp và Anh. Hiện nay nhu cầu tiêu thụ cá rô

phi ở các quốc gia này tăng lên, cá rô phi đợc bày bán ở nhà hàng

và hệ thống siêu thị nhằm phục vụ cho một bộ phận dân c có

nguồn gốc từ châu á (Roderick, 2003).

Công nghệ nuôi cá rô phi trên thế giới rất đa dạng, tuỳ thuộc

điều kiƯn kinh tÕ x· héi cđa tõng níc. C¸c hƯ thống nuôi bán

thâm canh phổ biến ở Philippine và vùng đông bắc Thái lan kết

hợp tận dụng thức ăn tự nhiên với bổ sung thức ăn tự chế. Các hệ

thống nuôi thâm canh trong ao, bể, lồng bè trên sông hồ khá phổ

biến ở Trung quốc, Đài loan, Thái Lan, và Israel... . Nuôi thâm

canh với mật độ cao (5-20 con/m 2), cho ăn thức ăn viên nổi, cho

năng suất 15-50 tấn/ha. Năng suất cá rô phi nuôi lồng dao động từ

40-300kg/m3 tuỳ thuộc vào kích thớc lồng và trình độ thâm

canh. Lồng có kích thớc nhỏ sẽ cho năng suất cao hơn lồng nuôi có

kích thớc lớn do khả năng trao đổi nớc trong và ngoài lồng cao

hơn. Lồng nuôi cá rô phi có kích thớc giới hạn từ 5-20m3 là phù hợp

nhất (Schmittou và ctv. 1998). Công nghệ nuôi cá rô phi trên thế

giới ngày càng đợc phát triển nhằm thu đợc năng suất cao và tạo

ra lợng sản phẩm tập trung.

Nuôi cá rô phi trong lồng bè là rất phổ biến ở Đài Loan,

Indonesia, Phillipines, Malaysia, Thái Lan. Đài Loan đã mở đầu phơng thức nuôi rô phi trong lồng nổi, năng suất đạt 4,35,4tấn/lồng/2 vụ/năm. Lồng nổi cỡ mắt lới 1cm đợc thả cá giống cỡ

20-30g/con, mật độ 4.000-5.000 con/lồng, cho ăn tự động với

thức ăn viên 3 lần/ngày, sau 4-5 tháng cá đạt cỡ thơng phẩm

600g/con. Mô hình nuôi lồng phát triển ở Inđonexia trong hồ nớc

11



ngọt lớn ở Java. Tại đây Công ty Aquafarm Nusantara sản xuất

gần 5.000 tấn/năm. Philippines nuôi cá rô phi vằn trong lồng trên

các hồ chứa. Năm 1999 có 2.000 lồng, sản xuất 31.114 tấn cá. Mật

độ cá thả là 15-45 con/m 2 trong lồng cố định, và 55-80 con/m 2

trong lồng nổi, cỡ cá thả 0,5-2,0g/con, sau 3-5 tháng nuôi đạt

năng suất 4-25kg/m2, cỡ cá 150-250g/con, tỷ lệ sống đạt 80-90%.

Thái Lan nuôi cá rô phi trong lồng phát triển rộng khắp miền

Bắc và Miền Trung. Lồng nuôi cá có kích cỡ 13-62m 3. Cá giống cỡ

25-50g/con, thả 29-97 con/m3. Sau thời gian nuôi 90-120 ngày cá

đạt cỡ 600-700g và 120-150 ngày cá đạt cỡ 800-900g với tỷ lệ

sống 80-90%, hệ số thức ăn là 1,0-1,8. Nuôi cá rô phi trong hệ

thống nớc chảy cho năng suất tơng đơng với nuôi trong lồng bè,

song cần đầu t nhiều về cơ sở hạ tầng và kỹ thuật nên ít đợc ¸p

dơng.

800



S a ûn l ư ơ ïn g ( n g h ì n t a án )



700

600

500

400

300

200

100



K h a ùc



M yõ



C o s ta R i c a



E cua do r



V i e ät N a m



Q u o ác g ia



C uba



C o lo m b ia



I n d o n e s ia



B ra z i l



Ñ a øi l o a n



T h a ùi L a n



M e x ic o



P h ilip in



A i C a äp



T r u n g Q u o ỏc



0



Hình 2. Sản lợng cá rô phi nuôi ở các nớc và vùng lãnh thổ

(Fitzsimmons v Gonzalez, 2005)



12



Nuôi cá rô phi trong ao nuôi tôm cũng phát triển ở nhiều nớc

trên thế giới theo các hình thức: Nuôi luân canh, xen canh và

nuôi lồng. Nuôi ghép xen canh thả cá rô phi nuôi chung với tôm

trong ao. Nuôi luân canh là nuôi vụ cá sau đó là vụ tôm trong

cùng ao. Nuôi lồng là sử dụng lồng nổi hoặc quây đăng lới sát

đáy ao để nuôi cá rô phi, còn tôm thả nuôi trong phần ao còn lại,

dùng quạt nớc hoặc sục khí để lu thông nớc qua lồng.

Kết quả điều tra nuôi ghép tôm-cá rô phi ở 12 tỉnh của

Thái Lan năm 2002 cho thấy cá rô phi nuôi theo các hình thức

chủ yếu sau: nuôi ghép tôm-cá rô phi, nuôi luân canh 1 vụ tôm, 1

vụ cá rô phi. Kết quả ở hệ thống nuôi ghép và nuôi luân canh, lợi

nhuận tăng thêm từ 3.280 đến 5.187 USD/ha/vụ so với nuôi đơn.

Êcuađo là nớc điển hình thực hiện thành công nuôi ghép tôm-cá

rô phi, các ao nuôi có độ mặn trung bình 17 và mật độ thả

giống 0,2 con/m2, lãi gộp của các trại nuôi tăng hơn 6 USD/ngày

trong mỗi chu trình nuôi 120 ngày. Năm 2001, trại nuôi tôm El

Rosario có khoảng 700 ha nuôi cá rô phi, đến 2002 nuôi thêm

500ha nhằm đạt sản lợng trên 9.000 tấn cá rô phi.

Nuôi cá rô phi trong các ao nuôi tôm đang phát triển ở các nớc nh Mêhicô, Pê ru . Nuôi ghép cá rô phi trong ao nuôi tôm đợc coi

là biện pháp sinh học quản lí hữu hiệu môi trờng nớc ao nuôi tôm,

nuôi rô phi trong ao sau vụ nuôi tôm có tác dụng làm sạch ao sau

vụ nuôi, hạn chế dịch bệnh tăng cờng tính bền vững của các

vùng nuôi tôm ven biển.

1.2.2 Tình hình nuôi cá rô phi trong nớc

Nuôi cá rô phi ở nớc ta có lịch sử hơn 50 năm, khởi đầu từ

khi nhập nội cá rô phi đen (O. mossambicus) vào nớc ta đầu

13



những năm 1950s. Những thập niên 50 và 60 của thế kỷ trớc cá rô

phi đợc nuôi chủ yếu ở hình thức quảng canh và bán thâm canh,

dùng cá giống hỗn hợp giới tính. Do ảnh hởng của chất lợng giống

nên thời kỳ 1970-1990 cá rô phi ít đợc chú ý nuôi, đặc biệt ở các

tỉnh phía Bắc. Phong trào nuôi cá rô phi đợc khôi phục và phát

triển dần từ những năm đầu của thập kỷ 90. Cá đợc nuôi ở nhiều

địa phơng, nuôi theo các hình thức khác nhau: nuôi đơn, nuôi

ghép, với mức độ thâm canh từ quảng canh, bán thâm canh

đến thâm canh.

Theo thống kê năm 2005 diện tích nuôi cá rô phi của cả nớc

là 29.717 ha chiếm 3% tổng diện tích nuôi trồng thủy sản, trong

đó nuôi nớc lợ, mặn là 5.184 ha và nuôi nớc ngọt là 24.533 ha

(Bảng 5). Tổng sản lợng cá rô phi ớc tính đạt 54.486,8 tấn, chiếm

9,08% tổng sản lợng cá nuôi. Phần lớn diện tích nuôi tập trung ở

đồng bằng sông Cửu Long (14.314 ha chiếm 48.2%), kế đến là

vùng đồng bằng sông Hồng và vùng Đông Bắc bộ. Cả nớc có 16

tỉnh có nuôi cá rô phi trong lồng, với tổng số 2.036 lồng, trong đó

miền Bắc có 748 lồng, kích cỡ lång nhá giao ®éng tõ 12-19m 3,

miỊn Trung cã 158 lång, kÝch cì lång giao ®éng 10-36m 3, miỊn

Nam cã 1.130 lång-bÌ víi tỉng thĨ tÝch kho¶ng 75.000 m 3, các

lồng bè có kích thớc giao động rất lớn, từ 5 - 1.250m3 .

Hiện nay các tỉnh vùng đồng bằng sông Cửu Long và đồng

bằng sông Hồng là hai vùng nuôi cá rô phi chủ yếu, lần lợt chiếm

58,4% và 17,6% tổng sản lợng cá rô phi nuôi toàn quốc. Các tỉnh

vùng núi phía bắc, miền Trung và Tây nguyên chỉ sản xuất một

lợng nhỏ cá rô phi, mỗi vùng hằng năm cung cấp 4,1- 9,1% tổng

sản lợng cá rô phi nuôi (miền núi phía bắc 5,3%, Miền trung;

9,1%, Tây Nguyên; 4,1%). Sản lợng cá rô phi nuôi của cả níc gåm

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Phần I. Hiện trạng Phát triển nuôi cá rô phi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×