Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
V. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

V. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Cá rô phi vằn Đài Loan: Cá được nhập từ Đài Loan vào các tỉnh phía

Nam nước ta từ đầu những năm 1970, sau đó được chuyển ra Bắc và lưu giữ tại

Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I từ năm 1977.

- Cá rơ phi xanh dòng Philippine : Nhập năm 1988.

5.3. Ao, giai và các vật dụng thí nghiệm

Ao thí nghiệm: Sử dụng 3 ao diện tích ao 2000 - 2500m 2 với việc bố trí như

trong Bảng 2.

Bảng 2. Số lượng cá và giai thí nghiệm

Cơng

Số lượng

Số lượng cá

Công thức lai

thức

giai ghép

(đực x cái)

1

O. niloticus-I x O. aureus-I

15

15 x 90

2

O. niloticus-TQ x O. aureus-I

15

15 x 90

3

O. niloticus-DL x O. aureus-I

15

15 x 90

4

O. niloticus-I x O. aureus-Ph

6

6 x 36

5

O. niloticus-TQ x O. aureus-Ph

6

6 x 36

6

O. niloticus-DL x O. aureus-Ph

6

6 x 36

7

O. niloticus-I x O. aureus-TQ

6

6 x 36

8

O. niloticus-TQ x O. aureus-TQ

6

6 x 36

9

O. niloticus-DL x O. aureus-TQ

6

6 x 36

Ghi chú: I: Israel; TQ: Trung Quốc; DL: Đài Loan; Ph: Philippine.

Tại viện 2 bố trí theo bảng 3.

Bảng 3: Số lượng và giai cá thí nghiệm

STT

1

2

3



Cơng thức lai

Đực (xanh) × cái (vằn)

Đực (xanh) × cái (xanh)

Đực (vằn) × cái (vằn)



Số lượng giai ghép

2

2

2



Số lượng cá

28 đực × 56 cái

30 đực × 60 cái

30 đực × 60 cái



- Giai giữ và cho cá bố mẹ sinh sản, giai ương cá bột rộng 5m2.

- Khay ấp trứng.

- Các vật dụng thu trứng cá.

- Số Pit Tag, máy đọc số và dụng cụ bắn số.

- Hoá chất (Aceto-carmine) nhuộm xác định giới tính cá.

- Kính hiển vi và các vật dụng thí nghiệm khác.



11



5.4. Bố trí thí nghiệm

Sử dụng 9 cơng thức (CT) thí nghiệm lai giữa các dòng cá rơ phi với nhau,

tỷ lệ ghép cho mỗi giai 5m2 để thu các gia đình là 1đực : 6cái.

Bảng 4. Sơ đồ thí nghiệm





O. niloticus

Israel

O. niloticus

Trung Quốc

O. niloticus

Đài Loan

O. aureus

Israel



O. aureus

Israel

CT 1

O. niloticus I x

O. aureus I

CT 2

O. niloticus TQ

x O. aureus I

CT 3

O. niloticus DL

x O. aureus I

O. aureus

Israel x O.

aureus

Israel



O. aureus

Philippine

CT 4

O. niloticus I x

O. aureus Ph

CT 5

O. niloticus TQ x

O. aureus Ph

CT 6

O. niloticus DL x

O. aureus Ph



O. aureus

Trung Quốc

CT 7

O. niloticus I x

O. aureus TQ

CT 8

O. niloticus TQ

x O. aureus TQ

CT 9

O. niloticus DL

x O. aureus TQ



-



-



O. niloticus

Israel

O. niloticus

Israel x O.

aureus

Israel



Ghi chú: I: Israel; TQ: Trung Quốc; DL: Đài Loan; Ph: Philippine.

Do các dòng O. niloticus và O. aureus Israel là cá thuần mới được nhập về

nên thí nghiệm bố trí tăng số lần lặp 15 lần (15 giai/công thức) ở các công thức

CT3, CT6, CT9 để tăng độ tin cậy của công thức lai.

Theo Bạch Thị Tuyết (1999) cho thấy tỷ lệ đực thấp và có sự biến động lớn

giữa các gia đình trong cùng cơng thức, ở những cơng thức còn lại đã bố trí 6

giai/công thức.

5.5. Phương pháp thu trứng và bắn số đánh dấu cá bố mẹ

Ở các Công ty, tiến hành ghép cá bố mẹ trong ao và thu trứng ấp con lai

khác lồi.

Tại các Viện: trước khi đưa vào ni ghép cá đực đều được bắn số điện tử.

Đối với cá cái chỉ tiến hành bắn số ngay khi thu được trứng.

12



Số điện tử được bắn vào xoang bóng hơi hoặc cơ lưng bằng dụng cụ bắn số.

Tất cả các gia đình thu được cá bột đều được đánh số quy định theo số PIT Tag

của cá bố mẹ để thuận tiện cho việc truy xuất nguồn gốc của thế hệ con sau này.

Thu 200 con cá bột từ mỗi gia đình ương riêng rẽ trong giai cước 5m 2 mắc

trong ao đất, khi cá đạt cỡ khoảng 3-5g/con, thu 100 con mổ để xác định tỷ lệ

giới tính theo từng gia đình.

Để thu được kết quả lai giữa các cá thể khác nhau, sau khi những gia đình

đã tham gia sinh sản và có được cá bột từ 2 lần trở lên thì tiến hành đảo cá đực

giữa các gia đình để có thêm những thơng tin về ảnh hưởng của bố mẹ đến tỷ lệ

giới tính đực của thế hệ con.

5.6. Phương pháp xác định giới tính

5.6.1. Pha hố chất

Cân 0,5g Carmine vào 100ml dung dịch gồm 45ml axit axetic đậm đặc và

55ml nước cất, lắc đều.

Đun sôi dung dịch khoảng 2 – 4 phút, để nguội sau đó dùng giấy lọc loại

bỏ hết cặn và được bảo quản trong lọ thủy tinh tối màu.

5.6.2. Soi tuyến sinh dục

Khi cá đạt kích cỡ khoảng 3-5g/con, tiến hành mổ cá lấy tuyến sinh dục

nằm sát xương sống (hai dải có màu trắng đục), cắt một đoạn nhỏ đưa lên lam có

sẵn thuốc nhuộm Aceto – carmine. Chờ một vài phút cho thuốc nhuộm ngấm,

sau đó dùng lam khác ép giải sinh dục giàn đều mỏng và đưa lên kính hiển vi

quan sát (Guerrero và Shelton, 1974).

- Cá đực: Quan sát trên tiêu bản thấy có những chấm nhỏ.

- Cá cái: Quan sát thấy những vòng tròn nhỏ xếp sít nhau thành từng khối.



13



5.6.3. Xác định một số chỉ tiêu hình thái ngoài của cá bố mẹ

Tiến hành đo đếm và quan sát một số chỉ tiêu hình thái nhằm tìm ra được

mối quan hệ giữa các chỉ tiêu hình thái của cá bố mẹ với tỷ lệ giới tính đực ở thế

hệ con gồm:

- Chiều dài thân L, Lo.

- Số vẩy dọc đường bên.

- Số tia vây cứng.

- Khoảng cách tử ngọn vây bụng đến lỗ hậu môn.

- Ước lượng khoảng cách vây ngực đến vây bụng (gần hay xa).

- Xuất phát tia vây cứng so với cung nắp mang (trước, sau hay xuất phát

bằng).

5.7. Chế độ chăm sóc và quản lý

- Cho cá bố mẹ ăn hàng ngày một lần vào buổi chiều, với khẩu phần bằng

2% trọng lượng thân.

- Cá bột được cho ăn bột cá và bột cám gạo mịn 3 lần/ngày vào 07:00h 11:00h - 15:00h.

5.8. Phương pháp thu thập và phân tích số liệu

5.8.1. Thu thập số liệu

- Giới tính của con lai ở các cơng thức thí nghiệm.

- Xác định các chỉ tiêu hình thái ngoài của cá bố mẹ cho tỷ lệ giới tính đực

thế hệ con cao: Màu sắc, L, Lo, số vẩy đường bên...

5.8.2. Phân tích số liệu

Sử dụng phần mềm Microsoft Office Excel phân tích số liệu. Tỷ lệ cá đực

ở thế hệ con của từng gia đình được phân tích so sánh với tỷ lệ lý thuyết 1:1

(đực : cái) bằng phương pháp 2 theo Gomez (1984) với mức ý nghĩa P<0,05.



14



VI. KẾT QUẢ THỰC HIỆN DỰ ÁN

6.1 Sản phẩm của dự án

Dự án đã lưu giữ và sản xuất được quỹ gen phong phú, đáp ứng đủ nhu

cầu vật liệu di truyền cho công tác nghiên cứu (mục 6.3).

Dự án đã sản xuất được 4.700.000 con cá rô phi đơn tính đực bằng

phương pháp lai xa, với con số này không đạt mục tiêu của dự án. Do trong q

trình thực hiện chúng tơi đã gặp rất nhiều khó khăn: Thiên tai, lũ lụt và nhiễm

mặn nặng vùng nước gây thiệt hại cả về cơ sở vật chất và lượng đàn cá bố mẹ

cũng như cá giống nên không thể tiếp tục sản xuất giống để đạt được mục tiêu

đưa ra.

Do đàn cá Israel nhập về khá nhỏ, cần phải có thời gian ni thành cá bố

mẹ và đến cuối năm 2007 chúng tôi mới kiểm nghiệm được tính ổn định ở đàn

cá bố mẹ và tỷ lệ đực ở đàn con lai khác loài nên việc phát triển cơng nghệ lai

khác lồi mới chỉ thực hiện ở phạm vi nghiên cứu và triển khai tại 4 đơn vị thực

hiện dự án mà chưa chuyển giao được công nghệ cho các đơn vị sản xuất giống

khác trong nước. Vì vậy, cơng tác đào tạo - tập huấn cán bộ kỹ thuật cho các đơn

vị sản xuất giống trong cả nước về công nghệ sản xuất giống cá rô phi đơn tính

đực bằng phương pháp lai khác lồi chưa thực hiện được. Hiện tại chúng tôi đã

đào tạo được 26 cán bộ tại các đơn vị triển khai dự án. Cụ thể: tại Công ty Thái

Dương được 4 cán bộ; Công ty Hải Thanh được 6 cán bộ; Viện 2 đạt 4 cán bộ;

tại viện 1 đạt 9 cán bộ và Trung tâm Khuyến nông Khuyến ngư Quốc gia 7 cán

bộ.

6.2. Nhập nội và tái sản xuất cá rô phi vằn và cá rô phi xanh thuần từ

Trung Quốc và Israel

Cơng ty Thái Dương được giao trách nhiệm chính trong việc nhập cá rô

phi xanh và rô phi vằn từ Trung Quốc. Số lượng cá nhập được trình bày chi tiết

15



ở bảng 5. Ngồi số lượng cá rơ phi bố mẹ nhập về từ Trung Quốc, Công ty Thái

Dương còn nhập 20.000 con cá rơ phi ơng bà (cá hương 3-5gr/con). Sau khi

thuần dưỡng, cá khoẻ mạnh chúng được chuyển đến các đơn vị phối hợp khác là

Công ty TNHH và Thương mại Hải Thanh và Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ

sản I.

Đàn cá rô phi nhập từ Trung Quốc sau đó được chuyển từ Hà Nội đến

Thành phố Hồ Chí Minh cho Cơng ty TNHH và Thương mại Hải Thanh (Công

ty Hải Thanh) bằng đường bộ, phương pháp vận chuyển hở, mật độ 200

con/thùng nhựa 400 lít có sục khí và thay nước trên đường vận chuyển. Do

quãng đường và thời gian vận chuyển dài nên cá chết khá nhiều, số lượng cá còn

sống và được Cơng ty Hải Thanh nhận gồm 1.684 con rô phi vằn và 612 con cá

rô phi xanh (tổng số cá vận chuyển là 3.036 con cá rô phi vằn và 1.000 con cá rơ

phi xanh dòng Trung Quốc).

Cơng ty Thái Dương đã nhập đàn cá rô phi bố mẹ và ông bà dòng Trung

Quốc về Việt Nam gồm cả cá cỡ lớn 4.000 con (200-400gr/con) và cá cỡ nhỏ

20.000 con (3-5gr/con). Cá được nuôi lớn đến cỡ cá hậu bị và cá bố mẹ, sau đó

mới chuyển đến các cơ quan phối hợp để cùng thực hiện nghiên cứu. Cá rô phi

nhập từ Trung Quốc sau đó cũng đã được chuyển từ Công ty Thái Dương đến

Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I, Bắc Ninh. Số lượng cá chuyển cho Viện

nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I gồm 4.000 con cá bố mẹ và 400 con cá ông bà.

Tại Viện I và Viện II nhập cá rô phi vằn và rô phi xanh thuần dòng Israel:

Do quãng đường vận chuyển dài, chi phí vận chuyển lớn nên dự án đã nhập cá

hương rơ phi dòng Israel, cỡ cá nhập trung bình khoảng 0,5g/con. Cá rô phi

xanh và cá rô phi vằn đã được nhập đủ số lượng từ Israel về Việt Nam và được

chuyển cho 2 viện. Do thời gian vận chuyển dài nên số lượng cá bị hao hụt đáng

kể, sau khi đến Việt Nam thì cá đã được vận chuyển đến Viện nghiên cứu nuôi

trồng thuỷ sản I và Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản II để phục vụ nghiên

cứu và thử nghiệm.

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

V. PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×