Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trung Quốc. Một số công thức lai cho đàn con có tỷ lệ cá đực cao. Tuy nhiên tỷ

lệ phần trăm cá đực ở thế hệ con lai F1 của một số công thức lai không ổn định,

ngay cả cùng công thức lai tỷ lệ cá đực ở con lai thay đổi theo nguồn gốc địa lý

của cá bố mẹ. Việc lai khác lồi u cầu cơng tác lưu giữ được dòng bố, mẹ

thuần một cách nghiêm ngặt.

Đầu những năm 1960, Hicking tiến hành lai Tilapia mossambica với T.

hornorum cho tỷ lệ cá đực ở thế hệ con gần đạt 100%. Bằng các phép lai phân

tích ơng đã đưa ra kết luận về cặp nhiễm sắc thể/gen quy định giới tính của cá rơ

phi rất phức tạp. Sau đó có nghiên cứu đã tiến hành lai khác lồi cá rơ phi với

nhau, để tạo ra con lai đơn tính. Theo một số tác giả, những công thức lai sau

được coi là cho thế hệ con có tỷ lệ giới tính đực cao tới gần 100%:

T. nilotica x T. hornorum (Pruginin & Kanyike, 1965)

T. nilotica x T. aureus (Fishelson, 1962)

Tuy nhiên qua nhiều nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ cá đực ở thế hệ con lai

không ổn định. Pruginin (1975) tiến hành cho lai lồi O. niloticus với O. aureus

được ni ở các vùng địa lý khác nhau, kết quả thu được ở thế hệ con lai có tỷ lệ

cá đực 52 – 100%. Majumdar & McAndrew (1993) đã thực hiện 41 phép lai và

chỉ có T. mossambicus x T. macrochir là cho 100% cá đực ở thế hệ con. Tỷ lệ cá

đực ở thế hệ con thu được từ các cơng thức lai xa phụ thuộc nhiều vào các dòng

cá khác nhau của cùng 1 loài được sử dụng (Hulata và CTV., 1983). Theo

Loshin (1982) kết quả sản xuất cá đơn tính đực bằng phương pháp lai xa thường

khơng ổn định bởi rất khó giữ được cá bố mẹ thuần chủng làm nguyên liệu sản

xuất ban đầu.

Gần đây phương pháp lai xa được quan tâm bởi nhiều ưu điểm của con lai

về sinh trưởng và khả năng thích nghi mà chúng được thừa hưởng từ cá bố mẹ

(Mires, 1977; 1983; Hulata & CTV., 1993; Lahav, 1990; McAndrew, 1993 và

Wohlfarth, 1994).



5



Pruginin và CTV. (1995); Hulata và CTV. (1983) đã tìm một vài cặp lai

giữa cá rô phi cái O. niloticus với cá rô phi đực O. aureus tạo thế hệ con lai tồn

đực.

Theo một số kết quả đã cơng bố, thế hệ con lai tồn đực có thể được tạo ra

một cách ổn định từ các công thức lai xa giữa cá cái O. niloticus và cá đực O.

aureus (Lahav, 1990; Wohlfarth, 1994). Trong đó cơng thức lai xa giữa cá rô phi

cái O. niloticus và cá đực O. aureus đã được ứng dụng ở phạm vi nhất định tại

một số trang trại ở Israel và Đài Loan (Liao và Chen, 1983; Kissil, 1996).

Nhưng do vấn đề thuần chủng của cá bố mẹ nên phần lớn các cặp lai giữa cá rô

phi cái O. niloticus và cá đực O. aureus chưa tạo được thế hệ con lai 100% cá

đực, tỷ lệ cá đực thay đổi từ 59% đến 81% (Wohlfarth, 1994).

Việc sử dụng con lai khác lồi trong ni cá rơ phi vẫn có rất nhiều thuận

lợi. Năm 1983, Guerrero đã tiến hành nghiên cứu tốc độ tăng trưởng của cá O.

niloticus thuần và con lai của cá cái O. niloticus với cá đực O. aureus. Kết quả

cho thấy, tốc độ tăng trưởng của con lai F1 (lai giữa hai loài) cao hơn hẳn so với

thế hệ con sinh ra từ bố mẹ cùng loài. Theo Phạm Anh Tuấn (1997), áp dụng

phương pháp lai xa sẽ tránh được hiện tượng lai cận huyết giữa các cá thể cùng

lồi và sự ơ nhiễm mơi trường do hc mơn chuyển giới tính gây ra. Mặt khác

thế hệ con lai có thể kết hợp các ưu điểm của cá bố và cá mẹ như tốc độ sinh

trưởng nhanh của cá rô phi vằn O. niloticus và khả năng chịu đựng nhiệt độ thấp

của cá rô phi xanh O. aureus. Nhưng hiệu quả của các công thức lai xa phụ

thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như yếu tố di truyền của cá bố mẹ, các yếu tố

môi trường và sự tương tác giữa các yếu tố môi trường và yếu tố di truyền

(Hulata & CTV.1993).



6



Bảng 1. Tỷ lệ cá đực ở thế hệ con một số công thức lai xa (Muir & Robert, 1993).

Cá đực

O. niloticus

O. niloticus

O. aureus

O. hornorum



Cá cái

O. aureus

O. hornorum

O. hornorum

O. aureus



Tỷ lệ cá đực (%)

52-100

100

100

97



2.2. Giải pháp tạo đàn cá rô phi đơn tính đực trên ở Việt Nam

Ở nước ta, năm 1995 và 1996 nghiên cứu ứng dụng công nghệ chuyển

giới tính tạo cá rơ phi tồn đực đã được thực hiện có kết quả, Viện nghiên cứu

ni trồng thuỷ sản 1 đã làm chủ cơng nghệ chuyển giới tính cá rơ phi, có thể

chủ động sản xuất hàng loạt cá rơ phi đơn tính với tỷ lệ cá đực là 95-100%. Đến

tháng 6 năm 2004 công nghệ sản xuất cá rơ phi đơn tính đã được chuyển giao tới

15 trại sản xuất giống trên toàn quốc. Theo thống kê không đầy đủ năm 2003 cả

nước đã sản xuất khoảng 120 triệu cá rơ phi đơn tính bằng cơng nghệ chuyển

giới tính. Tuy cơng nghệ dễ áp dụng, đáp ứng kịp thời nhu cầu con giống, nhưng

những lo ngại về ảnh hưởng xấu của hc mơn đến người tiêu dùng và mơi

trường là điều đáng quan tâm, tính bền vững của ứng dụng cơng nghệ chuyển

giới tính trong tương lai gần phải được tính đến, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu

sản phẩm sạch, an tồn và tính cạnh tranh thương mại trên thị trường thế giới

ngày càng gay gắt.

Nghiên cứu tạo cá rô phi siêu đực đã tiến hành tại Viện nghiên cứu nuôi

trồng thuỷ sản 1 (1997-2000) trên cá rơ phi vằn dòng Thái lan, cá siêu đực đã

được tạo ra, nhưng tỷ lệ đực ở đàn con còn thấp và khơng ổn định, do vậy cơng

nghệ chưa thể áp dụng được trong sản xuất.

Năm 1970 thử nghiệm lai xa trên cá rơ phi đã được Trần Đình Trọng tiến

hành đầu tiên (Bạch Thị Tuyết & CTV., 1998) khi lai giữa cá rô phi vằn O.

niloticus với cá rô phi đen O. mossambicus, cho tỷ lệ cá đực đạt 60 - 70%. Tiến

hành lai giữa cá rô phi cái O. niloticus dòng Egypt-AIT với cá rơ phi đực O.

aureus dòng Phillipine; cá rơ phi cái O. aureus với cá siêu đực O. niloticus dòng

7



Egypt-Swansea đã được Bạch Thị Tuyết & CTV. (1998) thí nghiệm, nhưng tỷ lệ

cá đực trên hai công thức lai chưa đạt kết quả như mong muốn. Tỷ lệ cá đực

trung bình trong 2 cơng thức lai trên lần lượt là: 65,4% (giao đông 37% - 96%)

và 67,2% (giao động 34,2% - 100%). Theo các tác giả thì tỷ lệ cá đực thấp và

khơng ổn định ở thế hệ con lai thuộc hai công thức trên chịu ảnh hưởng bởi

nhiều nguyên nhân khác nhau như nguồn gốc của hai dòng cá được sử dụng, độ

thuần chủng của cá bố mẹ, ảnh hưởng của các yếu tố môi trường và tỷ lệ sống

của đàn con.

Năm 2002-2003 trong khn khổ "Chương trình giống thuỷ sản", Trung

tâm giống thuỷ sản Hưng Yên đã thực hiện dự án nhập cơng nghệ cá rơ phi đơn

tính bằng phương pháp lai khác lồi từ Trung Quốc, đàn cá rơ phi vằn và cá rô

phi xanh đã được nhập nội từ Trung Quốc. Thơng qua chọn lọc dựa theo các đặc

điểm hình thái, một số cá bố mẹ đã được chọn lọc để sản xuất cá đơn tính cho tỷ

lệ đực khá cao (>95%), tuy nhiên tỷ lệ cá bố mẹ chọn lọc được chỉ đạt 5% từ

đàn cá nhập, tỷ lệ này là rất thấp so với mong đợi từ công nghệ lai khác loài; mặt

khác dự án chưa tạo ra được đàn cá rô phi vằn và rô phi xanh thuần chủng (đàn

cá ơng bà) để có thể sản xuất đại trà cá bố cá rô phi xanh O. aureus và cá mẹ cá

rô phi vằn O. niloticus cung cấp cho các cơ sở sản xuất cá rô phi đơn tính đực.

Kết quả nghiên cứu đã được nhiều tác giả trong và ngồi nước tiến hành

cho thấy cơng nghệ lai xa ở cá rô phi, lai cá cái rô phi vằn O. niloticus với cá

đực rô phi xanh O. aureus, là cơng nghệ rất có triển vọng ứng dụng trong sản

xuất cá rơ phi đơn tính đực. Để sớm có công nghệ ứng dụng trong sản xuất cho

kết quả như mong muốn cần kết hợp nhập vật liệu/giống tốt có sẵn từ nước

ngoài và tiến hành những nghiên cứu tiếp tục, gắn kết nỗ lực của các cơ quan

nghiên cứu với các cơ sở sản xuất trong nước là hết sức cần thiết.



III. MỤC TIÊU CỦA DỰ ÁN

Dự án phải đạt được các mục tiêu chủ yếu sau đây:

8



1. Phát triển cơng nghệ lai khác lồi phục vụ nhanh, kịp thời sản xuất đại

trà với số lượng lớn cá rô phi tồn đực.

2. Xây dựng được quỹ gen cá rơ phi phong phú, đáp ứng đủ nhu cầu vật

liệu di truyền cho công tác nghiên cứu nâng cao chất lượng giống cá rô phi ở

nước ta.

3. Đào tạo, tập huấn cán bộ kỹ thuật của các đơn vị sản xuất giống cá rô

phi trong cả nước về công nghệ sản xuất giống cá rơ phi đơn tính đực bằng

phương pháp lai khác loài.



IV. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

4.1. Xây dựng tập đồn các giống cá rơ phi

Nhập nội có chọn lọc một số giống cá rơ phi, đó là cá rơ phi vằn O.

niloticus, cá rô phi xanh O. aureus từ Israel và Trung Quốc.

Các đàn cá nhập nội sẽ được thử nghiệm, đánh giá so sánh một số tính

trạng kinh tế của chúng với một số dòng cá rơ phi hiện có, từng bước thu hút các

đặc tính tốt của đàn nhập nội và tạo giống cá rô phi chất lượng ở nước ta.

4.2. Tạo đàn cá rô phi vằn O. niloticus và đàn cá rô phi xanh O. aureus sản

xuất đại trà cá rơ phi đơn tính đực

Dựa trên hai đàn cá rô phi vằn và cá rô phi xanh nhập từ Trung Quốc và

Israel tiến hành lai phân tích (đánh giá tỷ lệ giới tính thế hệ con), đánh giá đặc

trưng hình thái và 1 số marker phân tử để lựa chọn được đàn cá rô phi vằn và

đàn cá rô phi xanh đảm bảo sản xuất đại trà 25.000 con cá bố O. aureus và

25.000 con cá mẹ O. niloticus cung cấp cho các cơ sở sản xuất giống cá rơ phi

đơn tính đực. Tỷ lệ cá đực đạt từ 95-100%. Tỷ lệ cá giống làm ông bà qua tuyển

chọn đạt 5%, và tỷ lệ tuyển chịn cá giống làm cá bố mẹ đạt từ 10-15%.



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×