Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Tác động qua lại giữa nuôi tôm và môi trường.

2 Tác động qua lại giữa nuôi tôm và môi trường.

Tải bản đầy đủ - 0trang

đến 1-2 ppm tơm có khả năng bị chết ngạt. Hoặc nếu hàm lượng Ca 2+ trong nước thấp

tạo cơ hội xảy ra bệnh mềm vỏ thường xuyên ở tôm sú (Nguyễn Đình Trung, 2004).

Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Thọ (2003), về giá trị NO 2- (3 ngày)/ giá trị NO2(ban đầu) ký hiệu là KNO2- và giá trị BOD5/giá trị COD ký hiệu là KBOD/COD cho

thấy như Bảng 1 sau:

Giá trị

Dấu hiệu bệnh tôm

KBOD/COD

K = 1,15 ± 0,29



Chưa xảy ra bệnh.



Giá trị KNO2K = 1,14 ± 0,91



Dấu hiệu bệnh tơm

Chưa xảy ra bệnh.



K = 0,48 ± 0,16



Có biểu hiện bệnh MBV, K = 13,6 ± 10,21

vi khuẩn Vibrio.



Có biểu hiện bệnh MBV,

vi khuẩn Vibrio.



K = 1,93 ± 0,49



Biểu hiện đốm trắng, K < 0,1

nhiều protozoa, ít vibrio.



Biểu hiện đốm trắng,

nhiều protozoa, ít vibrio.



K = 1,88 ± 0,25



Biểu hiện bệnh đầu K = 12,46 ± 4,99

vàng, có nhiều protozoa,

nhiều vibrio.



Biểu hiện bệnh đầu

vàng, có nhiều protozoa,

nhiều vibrio.



Bảng 1: Giá trị KNO2- và giá trị KBOD/COD ảnh hưởng đến tôm sú nuôi.

Theo Bảng 1, nếu các yếu tố môi trường vượt ra ngồi ngưỡng cho phép, tơm sẽ

có dấu hiệu bệnh. Chính vì vậy, để tơm sú được sinh trưởng và phát triển một cách

bình thường, người ni phải “ni nước”, phải khống chế các yếu tố môi trường sao

cho chúng nằm trong giới hạn cho phép.



1.2.1.2 Những yếu tố môi trường liên quan chặt chẽ đến đời sống của tôm.

Trong q trình ni, thức ăn dư thừa, phân tơm là ngun nhân chính khiến cho

mơi trường ao ni bị ơ nhiễm. Môi trường bị ô nhiễm khiến cho tôm không phát

triển được và thậm chí bị chết. Do vậy, Theo P. Chanratchakool (1993), quản lý ao

ni tơm sú có hiệu quả cần phải có thơng tin đặc trưng của mơi trường như nhiệt độ,

pH, độ trong, độ mặn, DO, H2S, NH3, PO4,…. được đo hàng ngày và hàng tuần.





Yếu tố nhiệt độ:



Nhiệt độ nước phụ thuộc vào cường độ chiếu sáng của mặt trời và nhiệt độ khơng

khí. Nhưng nhờ nước có khả năng giữ nhiệt tốt nên nhiệt độ nước thường không thay

đổi lớn như bức xạ mặt trời và nhiệt độ khơng khí. Nhiệt độ là yếu tố quan trọng liên

quan mật thiết đến hàm lượng oxy hoà tan trong nước, độc tính NH 3. Ngồi ra nhiệt



độ còn làm phân tầng nước và ảnh hưởng đến việc bắt mồi của tôm. Nếu nhiệt độ cao

hơn 320C – 330C hay thấp hơn 250C thì mức độ bắt mồi có thể giảm 30% – 50%.

Thơng thường, nhiệt độ nước trong các thuỷ vực thấp nhất vào buổi sáng lúc 2-5

giờ, cao nhất vào buổi chiều lúc 14-16 giờ. Biên độ dao động của nhiệt độ nước trong

ngày đêm lớn hay nhỏ phụ thuộc vào tính chất của thủy vực: các thuỷ vực nhỏ và

nơng có biên độ dao động nhiệt độ ngày đêm lớn hơn các thủy vực lớn và sâu. Do

tôm là động vật biến nhiệt nên yếu tố nhiệt độ ảnh hưởng nhiều đến sự sinh trưởng và

phát triển của chúng. Chính vì thế, khi ni tơm ở các ao nông, nếu nhiệt độ nước

thay đổi đột ngột 30C hoặc 40C có thể làm tơm chết.

Rowland (1986) cho rằng khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự sống sót và sinh sản

của nhiều lồi cá, tơm thì rất rộng những khoảng nhiệt độ thích hợp cho tăng trưởng

cực đại thì rất hẹp. Ví dụ: tơm sú có khả năng chịu đựng được khoảng nhiệt độ từ

120C - 360C, trong đó khoảng sống tốt nhất là 28 0C - 300C (Nguyễn Trọng Nho, 19911994). Nếu nhiệt độ giảm xuống dưới 100C - 120C, tôm phát triển không tốt và có thể

chết. Theo nghiên cứu của TS. Bùi Quang Tề, tơm sinh trưởng kém hoặc có thể

ngừng sinh trưởng khi nhiệt độ dưới 180C và trên 360C.

Nhiệt độ cũng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tôm nuôi cụ thể là nhiệt độ nước ao

là 350C thì tỷ lệ sống của tôm sú là 100%, nhiệt độ 37,50C tỷ lệ sống còn 60% và tỷ lệ

này chỉ còn 40% khi nhiệt độ nước là 400C (TS. Bùi Quang Tề).

Vũ Thế Trụ (1993), nghiên cứu mối quan hệ giữa nhiệt độ với sự phát triển của

tôm sú thấy: trong khoảng 280C – 300C, tôm sú phát triển tốt, nếu nhiệt độ trên 30 0C

tôm lớn nhanh nhưng rất dễ mắc bệnh đặc biệt là MBV (Monodon Baculovirus), còn

dưới 280C tơm tăng trưởng tương đối chậm.





Yếu tố oxy hoà tan (DO):



Oxy là chất khí quan trọng nhất trong số các chất khí hồ tan trong mơi trường

nước, rất cần thiết đối với đời sống của thuỷ sinh vật. Oxy hoà tan trong nước thường

thấp hơn trong khơng khí do hệ số khuếch tán của oxy trong khơng khí cao hơn trong

nước (Krogh 1919). Oxy hoà tan trong nước 10 cm 3/l so với 200 cm3/l oxy hồ tan

trong khơng khí (Gilbert Barnabé, Régime Barnabé-Quet, 2000).

DO có trong mơi trường nước nhờ q trình quang hợp của thực vật thủy sinh

hoặc do khuếch tán từ khơng khí vào. Oxy hồ tan trong mơi trường nước được tiêu



thụ do q trình hơ hấp của thủy sinh vật tham gia vào q trình oxy hố các hợp chất

vô cơ, hữu cơ trong nước hoặc nền đáy thủy vực, khuếch tán ra ngồi khơng khí.

Nồng độ oxy hoà tan trong nước thiên nhiên ở các thuỷ vực thay đổi theo thời tiết,

ngày đêm, độ sâu, độ mặn, nhiệt độ.

Theo Hutchinson (1957), ở nồng độ oxy hoà tan bão hồ, pH nước = 7 thì điện

thế oxy hoá-khử của nước ở 250C là 0,80 V. Khi hàm lượng oxy hồ tan trong nước

càng thấp thì điện thế oxy hố khử của nước càng giảm. Do đó khi hàm lượng oxy

hồ tan trong nước thấp, mơi trường nước xuất hiện những chất độc hại đối với thủy

sinh vật như NO2-, NH3+ và H2S …

Hàm lượng oxy hoà tan > 4 mg/l là thích hợp cho sự phát triển và sinh trưởng của

tôm sú. Nếu nồng độ oxy < 4mg/l, tơm vẫn bắt mồi nhưng khơng tiêu hố được thức

ăn (Chanratchakool, 1995). Nếu hàm lượng oxy trong khoảng 2-3 mg/l, tôm ngừng

bắt mồi, và nếu < 2mg/l tôm bị chết ngạt.





Yếu tố độ mặn:



Độ mặn là yếu tố sinh thái có quan hệ mật thiết với đời sống của động vật thuỷ

sinh ưa nước lợ, mặn. Mỗi lồi có giới hạn độ mặn riêng, cụ thể như

Penaeus.vannamei thích hợp với độ mặn 15‰ - 25‰ nhưng có thể sống ở độ mặn

0,5‰ - 1‰. Còn P.monodon có thể sống và sinh trưởng ở độ mặn 5‰ - 31‰, và

P. merguiensis thích hợp với độ mặn 25‰ - 28‰. Độ mặn ảnh hưởng đến chu kỳ

lột xác của tôm sú. Khi ao có độ mặn trong khoảng 32‰ - 40‰, thời gian của một

chu kỳ lột xác dài hơn trong ao có độ mặn 15‰ – 20‰ (Manick, 1979).

Độ mặn cao quá cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất tôm nuôi do chu

kỳ lột xác bị kéo dài. Theo nghiên cứu của GS.Nguyễn Trọng Nho, năng suất tơm

ni trung bình ở đầm Nại, tỉnh Ninh Thuận là 945 kg/ha/vụ và 771 kg/ha/vụ tương

ứng với độ mặn trung bình là 17‰ -25‰ và 30‰ - 34‰.

Ngồi ra, độ mặn càng cao càng làm tăng khả năng nhiễm bệnh ở tôm do các vi

khuẩn gây bệnh ưa sống ở độ mặn cao gây ra.

Độ mặn ao ni thích hợp cho tôm sú là 18‰ - 20‰ và độ mặn biến thiên trong

ngày không nên quá 5‰/ ngày.







Yếu tố độ trong:

Độ trong suốt của nước là khả năng ánh sáng mặt trời xuyên qua nó, khả năng



cản những tia nắng mặt trời của nước là độ vẩn đục. Hai tính chất này của nước tỷ lệ

nghịch với nhau và phụ thuộc vào lượng keo khoáng, vật chất hữu cơ lơ lửng, sự phát

triển của các vi tảo, sóng gió thuỷ triều và lượng nước mưa đổ vào thuỷ vực. Nguyên

nhân gây ra độ đục ở ao thường do các chất khơng hồ tan, các chất keo có nguồn gốc

vơ cơ, hữu cơ có trong nước và sự phát triển của các vi tảo. Chính vì thế, độ trong

phản ánh mật độ tảo trong nước.

Độ trong suốt và độ vẩn đục của nước có ảnh hưởng đến cường độ chiếu sáng của

mặt trời vào thuỷ vực nên có ảnh hưởng đến cường độ quang hợp của thực vật phù

du. Khi độ trong thấp lượng ánh sáng xâm nhập vào thủy vực ít ⇒ cường độ quang

hợp của thực vật phù du giảm. Khi độ trong cao – nước nghèo dinh dưỡng, sinh vật

phù du phát triển kém khiến cho các thành phần thức ăn tự nhiên của tôm bị hạn chế

và tảo đáy phát triển. Do đó độ trong ảnh hưởng trực tiếp đến sự biến động của hàm

lượng oxy hoà tan và gián tiếp ảnh hưởng đến giá trị pH, hàm lượng BOD, COD.

Độ trong ao nuôi biến đổi do hai nguyên nhân chính là: do thực vật phù du phát

triển và do lượng các chất lơ lửng trong nước. Độ trong cao, tảo không phát triển, ánh

sáng mặt trời xâm nhập nhiều hơn vào tầng nước sẽ gây sốc cho tơm. Chính vì vậy,

phải cung cấp đủ muối dinh dưỡng cho nước ao ni bằng cách bón phân đạm, lân…

Độ trong trở nên có ý nghĩa thích đáng với năng suất sơ cấp hay quá trình tổng

hợp cacbonhydrat. Độ đục cao không chỉ gây ra bởi sự phân rã của các thành phần đất

phù sa và đất sét, đôi khi còn trực tiếp bởi q trình trao đổi chất của tôm. Độ trong

phù hợp với sự sinh trưởng và phát triển của tôm vào khoảng 25 - 45 cm.





Yếu tố pH.



pH là 1 yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tôm nuôi. pH

máu của các động vật thủy sinh đều gần = 7. pH là một trong những nhân tố quyết

định giới hạn phân bố của các loài thuỷ sinh vật. Ngoài ra pH có ảnh hưởng rất lớn

đến sự phát triển của phơi, q trình dinh dưỡng, sinh trưởng và sinh sản của tôm, ảnh

hưởng gián tiếp đến tôm qua khâu thức ăn. pH thấp sẽ thúc đẩy sự hoà tan của các

muối sắt, nhơm, làm tăng tính độc của khí H 2S, làm tăng sự ảnh hưởng của các ion

này lên thuỷ sinh vật đôi khi khiến cho phụ bộ và mang tôm bị tổn thương, hoặc gây



trở ngại cho việc lột xác và làm tôm mềm vỏ. pH cao làm tăng tính độc của NH 3. Mối

quan hệ giữa pH và sức khoẻ tơm được trình bày trong Bảng 2 sau đây:

Giá trị pH



Biển hiện



< 4,5



Tôm chết



> 10,5



Tôm chết



4,5 < pH < 7



Tôm sinh trưởng chậm, khả năng hấp thụ



Hoặc 8,5 < pH < 10 thức ăn kém. Tơm có thể chết nếu môi trường

như vậy bị kéo dài

Bảng 2: Mối quan hệ giữa pH và sức khoẻ tơm.

Do đó, khi pH của môi trường quá cao hay quá thấp đều không thuận lợi cho đời

sống của thủy sinh vật. Tác động chủ yếu của pH khi quá cao hay quá thấp là làm

thay đổi độ thẩm thấu của màng tế bào ⇒ làm rối loạn quá trình trao đổi muối – nước

giữa cơ thể thủy sinh vật và môi trường ngồi.

Độ pH thích hợp cho ao ni tơm sú từ 7,5 – 8,5 và ở mức pH này thì hàm lượng

NH3 và H2S ở dạng độc là thấp nhất.

pH được biểu thị bằng nồng độ ion H + có mặt trong nước. Ion H+ có trong mơi

trường nước chủ yếu là sản phẩm của q trình oxy hố các hợp chất của sắt và lưu

huỳnh. Ngoài ra, ion H+ có trong mơi trường nước có thể là sản phẩm của quá trình

thuỷ phân các ion Fe3+ và Al3+ trao đổi trong keo đất, quá trình phân ly của CO 2 trong

nước.

Keo đất = Al ⇔ Al3+ + 3 H2O = Al(OH)3 + 3 H+

3 H+ + 3/2 CaCO3 = 3/2 Ca2+ + 3/2 CO2 + 3/2 H2O

Tương tự, Fe ⇔ Fe3+ + 3H2O⇔ Fe(OH)3 + 3H+

3H+ + 3/2 CaCO3 = 3/2 Ca2+ + 3/2 CO2 + 3/2 H2O.

Các ion Ca2+ sinh ra sẽ thế Fe3+ và Al3+ trao đổi trong keo đất.

CO2 + H2O







H+ + HCO3-



HCO3 -







H+ + CO32-



Do đó pH của nước phụ thuộc vào:



-



Tính chất của đất: ở những vùng đất có nhiều Fe và Al (đất phèn) pH của nước

sẽ thấp.



-



Quá trình quang hợp của thực vật thủy sinh: hấp thụ CO 2 làm tăng pH. Q

trình hơ hấp của thủy sinh, q trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ phóng

thích CO2 làm giảm pH. Trong các ao giàu dinh dưỡng, thực vật phù du phát

triển mạnh, đặc biệt vào sau buổi trưa.



-



Nhiệt độ nước, hô hấp của tôm sú và các thuỷ sinh vật có trong ao ni.







Yếu tố H2S:



H2S là một chất khí cực độc đối với thủy sinh vật. Tác dụng độc hại của nó là liên

kết với sắt trong thành phần của Hemoglobine làm cho Hb khơng có khả năng vận

chuyển oxy cung cấp cho các tế bào. Độ độc của H 2S đối với tôm, đặc biệt là tôm sú phụ

thuộc rất nhiều vào các yếu tố như pH, oxy hoà tan và nhiệt độ nước. Nếu pH dao động

trong khoảng 7,5 – 8,5, hàm lượng H2S ở mức thấp nhất.

Khí H2S chỉ được tạo thành khi mơi trường nước ni thiếu oxy cục bộ và vi sinh

vật yếm khí đã phát triển. Khí H 2S tích tụ dưới nền đáy các thủy vực chủ yếu do quá trình

phân huỷ các hợp chất hữu cơ chứa lưu huỳnh hay quá trình phản sulphate hố với sự

tham gia của các vi khuẩn yếm khí để chuyển hố gốc sulphat thành sulphua và hydro

sulphua:

2 C6H12O6 + SO42- + 2H+



2 CH3COCOOH + H2S +



2H2O

Glucose



Pyruvic acid



H2S được sử dụng trong quá trình quang hợp của nhóm vi khuẩn đỏ Rhodobacter

sp. thuộc nhóm sinh vật quang dị dưỡng. Nhóm này khơng sử dụng chất vơ cơ làm

nguyên liệu cho quá trình quang hợp mà lại sử dụng chất hữu cơ và sản phẩm của quá

trình quang hợp của vi khuẩn đỏ này không phải là oxy. Do vậy sau quang hợp của vi

khuẩn đỏ kết quả là H2S giảm:

CO2 + H2S



CH2O + H2O + 2S



Giới hạn cho phép đối với sự phát triển, sinh trưởng của tôm ở ngưỡng H 2S ≤ 0,02

mg/l (28 TCN 171: 2001).

Độ độc của H2S đối với tơm nói chung được trình bày trong Bảng 3.



Hàm lượng H2S (ppm)



Biểu hiện



> 0,09



Làm tê liệt hệ thần kinh, gây chết tôm.



0,1 – 0,2



Tôm mất thăng bằng.



0,4



Tôm chết.

Bảng 3: Độ độc của H2S đối với tôm.







Yếu tố PO43-:



Phosphate cần thiết cho sự phát triển của sinh vật. Phospho tham gia vào nhiều

phản ứng quan trọng trong cơ thể sống như quá trình sinh tổng hợp Protein. Sự phát

triển của thực vật phù du và năng suất tôm nuôi phụ thuộc nhiều vào hàm lượng

phosphate có trong nước. Trong thuỷ vực, phosphate thường tồn tại ở các dạng PO 43-,

HPO42-, H2PO4- nhưng khi phân tích mẫu nước thơng thường chỉ xác định PO 43-.

Nguồn cung cấp PO43- chủ yếu từ phân NPK hoặc thức ăn, chế phẩm có chứa nhiều

photpho, hay từ q trình phân huỷ các chất mùn bã hữu cơ.

PO43- có thể được coi như một chỉ tiêu phản ánh hàm lượng dinh dưỡng có trong

ao ni. Nếu hàm lượng phosphate trong ao nuôi cao kết hợp với hàm lượng nitrate

cao sẽ dẫn tới sự nở hoa của tảo. Theo Nguyễn Đức Hội (2001), hàm lượng PO 43- ít

khi vượt quá 1 mg/l do chúng được hấp thụ và điều tiết trở lại mơi trường. Trong ao

ni có đáy và bờ là đất phèn thì hàm lượng PO 43- thường rất thấp do bị kết tủa khi

phản ứng với Al3+ và Fe2+.

Photpho ở dạng PO43- được các thực vật thủy sinh hấp thụ. Quá trình cố định PO 43ở bùn ao phụ thuộc vào pH: khi pH cao, PO 43- liên kết với Ca2+, khi pH thấp nó lại kết

hợp với Al3+ và Fe2+ tạo thành một phức hợp rất khó tan (Boyd, 1971). Nếu ao ni có

hàm lượng PO43- cao, ngun nhân có thể do mật độ ni q dày và lượng thức ăn

dư thừa nhiều.





Yếu tố Fe t/s:



Các muối sắt trong mơi trường nước thường hồ tan dưới dạng ion Fe 2+ và Fe3+.

Các muối sắt hoà tan tốt trong mơi trường axit (pH thấp), còn trong mơi trường kiềm

sẽ bị kết tủa tạo thành dạng hydroxyt.

Fe2+ + 2 OH- ⇒ Fe(OH)2 ↓ + O2 ⇒ Fe2O3 ↓.



Fe3+ + 3 OH- ⇒ Fe(OH)3 ↓ + O2 ⇒ Fe2O3 ↓.

Theo cơ chế này, có thể khử sắt tại chỗ bằng cách bón thêm vơi, tuy nhiên nếu

bón vơi q nhiều dẫn đến tăng pH. Do vậy, phải theo dõi pH khi bón vơi khử sắt.





Yếu tố NH3, NO2-:



NH3, NO2- là sản phẩm được tạo thành từ sự phân huỷ chất dinh dưỡng bởi vi sinh

vật hoặc các muối đạm hoà tan trong nước có nguồn gốc Nitơ vơ cơ (do sự khuếch tán

Nitơ vào trong nước) và Nitơ hữu cơ (do quá trình phân huỷ các hợp chất hữu cơ). NH 3

trong nước ở dạng tự do, rất độc hại đối với tơm sú. Thí nghiệm của Cheng và Lee (1995)

cho thấy, tỷ lệ sống của tôm sú cỡ 3,35-4,45 cm trong mơi trường có nồng độ NH 3 40

ppm và NO2 40 ppm giảm tương ứng là 36,7% sau 132 giờ thí nghiệm và 40% sau 120

giờ thí nghiệm.

Theo W. Y. Liu thì khả năng gây độc của NH 3 đối với tôm sú phụ thuộc vào nhiệt

độ, pH và độ mặn. Khi nhiệt độ thấp và độ mặn cao thì khả năng chịu đựng của tơm sú

đối với NH3 kém hơn và ngược lại khi nhiệt độ cao và độ mặn thấp thì khả năng này tốt

hơn. Khi nhiệt độ và pH càng tăng cao, tính độc của NH 3 đối với tôm nuôi càng lớn. Mối

quan hệ giữa hàm lượng NH3, pH, nhiệt độ được thể hiện qua th 2.



Hàm lợng NH3 (mg/l))



0,15



300C



0,1



200C



100C



0,05



pH

th 2: Mi quan hệ giữa hàm lượng NH3, nhiệt độ và pH (số liệu từ Frontier

và Pichod-Viale, 1991).

Hàm lượng Ammonia-Nitrogen càng cao thì tốc độ sinh trưởng càng giảm. Trong

cùng một thời gian là 120 ngày, tơm đạt kích cỡ 38 g/con khi nồng độ Ammonia –



Nitrogen là 0,05 mg/l, trong khi chúng chỉ đạt 35 g/con khi ở nồng độ là 0,3 mg/l (Thái

Ngọc Chiến, 2004).

Trong ao ni, cần duy trì hàm lượng NH3 ln nhỏ hơn 0,1 ppm vì nếu NH3 >

0,1 ppm sự tăng trưởng của tôm bị ảnh hưởng và nếu NH 3 > 0,45 mg/l tốc độ sinh trưởng

giảm 50%.

Chất dinh dưỡng



NH3



NO2



Nitrosomonas



NO3



Vi khuÈn khö nitrit



Vi khuÈn khö nitrat



NH2OH



N2O



NH3



N2



Sơ đồ 1: 4Sơ đồ phản ứng tạo NH3, N2, NO2.

Nitrite cần thiết cho hoạt động sống của thực vật đơn bào, nó tồn tại ở dạng trung

gian và hàm lượng này trong nước là rất thấp. Nitrite được sinh ra do q trình chuyển

hố từ đạm ammon nhờ các vi khuẩn nito (Nitrobacter):

NH4+ + O2



NO2- + H+ + H2O



NO2- + O2



NO3-



Nếu mơi trường thiếu oxy thì q trình chuyển hố đạm chỉ đến Nitrite. Khi động

vật thuỷ sản hô hấp, NO2- vào máu sẽ phản ứng với Hemoglobin tạo thành

Methemoglobin làm cho máu động vật thủy sản nói chung mất khả năng vận chuyển oxy.

Riêng giáp xác, cụ thể là tơm sú, Hemocyanin có nhân là Cu2+ thay vì là sắt nên phản ứng

với Nitrite kém nhưng trên thực tế NO2- vẫn có khả năng gây độc cho tơm sú.





Yếu tố độ kiềm:



Độ kiềm của nước là khả năng tích trữ của nước ở mức độ tồn tại của H 2CO3,

2



CO3 , HCO3- trong các thuỷ vực, cụ thể là ao nuôi tôm. Độ kiềm thường được gây ra bởi

sự có mặt của cacbonate và bicacbonate của muối Canxi và Magiê trong nước. Do đó độ

kiềm trong nước được biểu thị bằng số miligram Carbonat canxi (mg CaCO 3/l). Nước



biển tự nhiên thường có độ kiềm cao. Độ kiềm phù hợp với ao nuôi tôm sú trong khoảng

85-200 ppm.

Độ kiềm có quan hệ mật thiết với pH và sự lột xác của tơm sú. Ao đầm có độ

kiềm cao (khơng q 200 mg CaCO 3/l) thì có khả năng duy trì sự ổn định của pH và ao

có độ kiềm thấp (< 85 mg CaCO3/l) khiến cho tơm khó lột xác. Mặt khác kiềm còn đóng

vai trò là chất đệm và là nguồn cung cấp CO 2 cho quá trình quang hợp. Độ kiềm tăng,

CO2 giải phóng ra khỏi mặt nước từ hệ cân bằng đệm cũng tăng. Nhiều nhà nghiên cứu

cho rằng sự giao động của kiềm tổng số làm thay đổi năng suất ao.





Yếu tố BOD, COD:



Chỉ tiêu BOD, COD đánh giá mức độ nhiễm bẩn, độ giàu nghèo, sự phát triển

của thuỷ sinh vật trong thủy vực. BOD phản ánh hàm lượng các chất hữu cơ dễ phân huỷ

bằng con đường sinh học trong nước.

COD phản ánh lượng tiêu hao oxy do quá trình biến đổi các chất hữu cơ (thức ăn

thừa, sản phẩm bài tiết của tơm và xác vi sinh vật). Nước có hàm lượng COD < 5 mg O 2/l

là nước nghèo dinh dưỡng, nếu nằm trong khoảng 10-20 mg O 2/l là thích hợp cho nuôi

thủy sản, nếu nằm trong khoảng 20-30 mg O 2/l là nước giàu dinh dưỡng, nếu > 30 mg

O2/l là nước bị ô nhiễm.

Khi BOD cao và COD nhỏ, mơi trường thể hiện có mật độ vi sinh cao. Ngược lại

khi BOD nhỏ và COD cao vi sinh vật bị ức chế bởi các chất kháng khuẩn hoặc độc tố có

trong mơi trường.

Theo Alabaster (1982), mức độ ảnh hưởng từ hoạt động của hệ thống nuôi thủy

sản ven biển tạo ra COD > 18 mg/l được coi là ảnh hưởng xấu cho môi trường và BOD

không nên quá 4 mg/l.

Từ những dẫn liệu trên đây, có thể thấy rằng bên cạnh những tác động của con

người, nhiều yếu tố mơi trường đóng vai trò quan trọng trong sự sinh trưởng, phát triển

cũng như năng suất của tôm sú nuôi. Để đảm bảo tôm sinh trưởng, phát triển tốt đạt năng

suất cao cần kiểm soát chặt chẽ các yếu tố môi trường kể trên.



1.2.2 Sự xuống cấp của môi trường



1.2.2.1 Xuống cấp do sử dụng thuốc và hoá chất.

Với tâm lý muốn thắng lớn sau một vụ nuôi, nhiều đầm tơm đã sử dụng hố chất

để đảm bảo rằng đầm ni của mình khơng bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Họ cứ nghĩ rằng

dùng nhiều lần, mỗi lần dùng với liều lượng cao sẽ giúp giảm thiểu các yếu tố gây bệnh

có sẵn trong nguồn nước cấp vào ao ni. Chính vì tâm lý đó mà họ đã sử dụng hố chất

tràn lan khơng theo chỉ dẫn gây nên ô nhiễm môi trường. Đơn cử như thuốc tím KMnO 4

hay Chlorine được người nuôi dùng thường xuyên để xử lý nước, tiêu diệt mầm bệnh sẽ

làm thay đổi pH nước, làm giảm hàm lượng oxy hoà tan… nếu dùng với liều lượng cao,

khơng sục khí hay khơng để lắng một thời gian trước khi sử dụng.

Thuốc kháng sinh đưa vào cơ thể tôm chủ yếu thông qua thức ăn và thực tế chỉ có

20-30% lượng thuốc kháng sinh được tơm hấp thụ, phần còn lại tích tụ trong mơi trường

ao ni. Phần tích tụ này có thể tồn tại rất lâu trong môi trường nước và đáy ao. Qua thời

gian dài và nhiều thế hệ có thể dẫn đến tính kháng thuốc của một số lồi vi khuẩn sống

trong mơi trường đó (Macintosh và Phillips, 1992).



1.2.2.2 Xuống cấp do tích luỹ các chất hữu cơ và chất dinh dưỡng.

Sau 1 vụ nuôi tôm, đặc biệt là nuôi theo phương thức thâm canh, mơi trường ít

nhiều cũng bị thay đổi theo chiều hướng tiêu cực như: đáy ao và khu vực xung quanh bị

chua phèn, lượng muối dinh dưỡng và khoáng giảm đáng kể trong đất và nước, lượng

chất hữu cơ tăng…

Theo Wilkin (1985), Givera, Guillaume (1989), để sản xuất một tấn tôm sú

(P.monodon) với hệ số chuyển đổi thức ăn trong khoảng 1,2:1 – 2,0:1 thì mơi trường phải

tiếp nhận khoảng 57,3 – 118,1 kg Nito và 13,0 – 24,4 kg Photpho thải ra trong suốt q

trình ni. Nguyễn Tác An và cộng sự (1994) nghiên cứu trên đối tượng tôm he cho thấy,

hàng ngày 1 tấn tôm he thải ra mơi trường khoảng 1 kg Ammonia.

Trong q trình nuôi tôm, các chất cặn bã như thức ăn thừa, phân tôm và các chất

thải khác tăng lên theo thời gian nuôi dẫn đến môi trường ao nuôi bị ô nhiễm. Sự tích luỹ

này thường xảy ra ở đáy ao – nơi mà các chất thường lắng tụ đồng thời là nơi mà hoạt

động sống của tôm diễn ra mạnh mẽ nhất. Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Văn

Thoa (2002), sau một vụ nuôi cho ăn bằng thức ăn tươi sống và cám nấu thì lớp bùn lỏng

ở đáy ao là 0,6 m so với 0,2 m do nuôi bằng thức ăn công nghiệp. Lớp bùn này lâu không



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Tác động qua lại giữa nuôi tôm và môi trường.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×