Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương III: kết quả và thảo luận

Chương III: kết quả và thảo luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

3.1.2. Hình thức ni phổ biến.

Hải Phòng là một trong những thành phố đi đầu trong phong trào nuôi tôm. Nhiều

ruộng muối ở Bàng La, Kiến Thuỵ bị chuyển đổi sang đầm nuôi tôm một cách tự phát. Số

hộ tham gia nuôi tôm ngày càng tăng, đặc biệt tại các vùng ven biển như Kiến Thuy, Cát

Bà, An Hải, Thuỷ Nguyên. UBND thành phố Hải Phòng cũng đầu tư xây dựng nhiều

cơng trình phục vụ cho ni tơm như kênh, mương, đầu cống cấp, trạm thuỷ lợi cấp nước

mặn và ngọt. Nhưng thực tế các cơng trình này chưa phát huy được tác dụng nên nhiều

vùng nuôi tôm bị thiếu nước mặn khiến cho phong trào nuôi tôm không thể phát triển

nhanh như những ngày đầu. Tại Kiến Thuỵ, diện tích ni tơm do chuyển đổi mục đích là

khá lớn và gần như số hộ nằm trong khu vực này chỉ có thể canh tác theo hình thức quảng

canh cải tiến hoặc quảng canh. Nguyên nhân do chuyển đổi tự phát, khơng có quy hoạch

cụ thể nên thiếu đường kênh dẫn nước vào, ra khiến cho ao đầm trong khu vực giống như

ao tù năm này qua năm khác. Điều này là trở ngại cho những hộ nuôi muốn bứt phá lên

để ni thâm canh.

Chính vì thế, hình thức ni quảng canh và quảng canh cải tiến là phổ biến ở đây. Sau

bao nhiêu năm kể từ ngày bắt đầu nuôi tôm cho đến nay, số hộ nuôi tôm áp dụng phương

thức nuôi thâm canh của Kiến Thuỵ tăng ở mức không đáng kể.



3.1.3. Môi trường nước nuôi.

Theo báo cáo của Đề tài nghiên cứu “Biến động một số yếu tố mơi trường trong ao

ni tơm sú ít thay nước ở khu vực Hải Phòng” do Trạm nghiên cứu NTTS nước lợ tiến

hành năm 1998 cho kết quả như sau:

Với mức thay nước 300-400% trong 1 chu kỳ nuôi, môi trường ao nuôi tôm ở khu

vực Quý Kim – Hải Phòng nằm trong giới hạn thấp của sự ơ nhiễm. Các chỉ tiêu DO (mg

O2/l), NH3 (mg/l), NO2- (mg/l), H2S(mg/l), PO43- (mg/l), Fe t/s (mg/l), BOD (mg O2/l),

COD (mg O2/l) ở tháng nuôi cuối cùng nằm trong giới hạn thấp của sự ô nhiễm và độ

kiềm ở mức cho phép.

Như vậy, với xu hướng nằm trong giới hạn thấp của sự ô nhiễm là chiều hướng chung

của vùng nuôi tôm Q Kim, xã Hải Thành, Hải Phòng.



3.2. Cơng nghệ ni được áp dụng ở 6 mơ hình nghiên cứu..

3.2.1. Một số yếu tố môi trường của 6 ao nuôi trước khi thả tơm.

Như ta đã biết, lồi khác nhau có ngưỡng chịu đựng đối với môi trường khác nhau.

Động vật thủy sinh sống phụ thuộc vào môi trường nước. Sự thay đổi của môi trường sẽ

ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp lên sự sinh trưởng và phát triển của chúng. Tôm sú

cũng vậy. Nếu pH quá cao hoặc quá thấp, nếu DO thấp hơn 2 mg O 2/l, nếu NH3 > 4

mg/l… tôm không thể tồn tại được.

AoAo thâm canh



Điều kiện ao nuôi ban

đầu



Ao quảng canh cải tiến



SốSè 2



SốSè 4



SSố 6



SSố 7



SSố 8



SSố 9



Độ mnặn ()



22



22



22



22



22



22



Độ trongng (cmcm)



45



40



45



50



60



60



Sộtét



Sộtét



Sộtét



Sộtét



Sộtét



Sộtét



phaha



phaha



phaha



phaha



phaha



phaha



cỏtát



cỏtát



cỏtát



cỏtát



cỏtát



cỏtát



8,5



8,5



8,5



8,1



8,0



8,3



5



5,3



5,5



5



5



5,2



NHNH3 (mgmg/ll)



0



0



0



0



0



0



NONO2- (mgmg/ll)



0



0



0



0



0



0



HH2SS (mgmg/ll)



0



0



0



0



0



0



0,19



0,24



0,21



0,12



0,1



0,1



0



0



0



0



0



0



119



119



119



102



102



102



CODOD (mgmg OO2/ll)



1,6



1,12



0,96



0,96



1,12



0,96



BODOD5 (mgmg OO2/ll)



0,84



0,52



0,64



1,2



0,96



1,44



Dinện



1000



1000



1000



5000



5000



5000



0,6



0,7



0,6



0,75



0,6



0,7



Chtất ỏyáy



pHpH

Oxyxy



hooà



tanan



(mgmg OO2/ll)



FeFe



tngng



ssố



(mgmg/ll)

POPO43- (mgmg/ll)

Độ kimềm



(mgmg



CaCOCO3/ll)



tớchch



aoao



2



nuụiôi (mm /aoao)

Độ sõuâu aoao (mm)



Bng 5: iu kin ban u của ao ni.



Do đó, kiểm tra các yếu tố mơi trường có liên quan đến đời sống của tơm như độ

mặn, DO, NH3, độ kiềm…. là việc làm cần thiết và hữu ích. Sáu ao ni tơm (gồm 3 ao

thâm canh, 3 ao quảng canh cải tiến) đều được kiểm tra mơi trường kỹ lưỡng. Hàm lượng

của chúng được trình bày trong Bảng 5.



3.2.2. Q trình chuẩn bị ao ni.

Theo các chuyên gia về môi trường và bệnh, khâu chuẩn bị ao nuôi là khâu quan

trọng nhất trong tất cả. Nó là yếu tố quyết định sự thành bại của cả vụ ni vì cải tạo ao

có tác dụng ngăn ngừa và diệt trừ địch hại trong ao, tiêu diệt mầm bệnh thơng qua hình

thức phơi khơ đáy ao, loại trừ ra khỏi ao một lượng chất hữu cơ và khí độc đáng kể.

Thường q trình chuẩn bị ao ni tôm diễn ra trong khoảng 15 – 20 ngày.

Nước cấp vào ao ban đầu được xử lý bằng TCCA và Saponin. Để lắng trong ao

chứa khoảng 1 tuần hoặc hơn rồi mới cấp vào ao ni. Mục đích để trứng của các loài

thuỷ sinh, cá tạp bị tiêu diệt, để các chất lơ lửng trong nước được lắng tụ, các mầm bệnh

bị suy giảm do khơng tìm được ký chủ thích hợp….

Đối với ao thâm canh, đã thực hiện các công việc: tháo cạn nước, dọn sạch ao, vét

bùn, san bằng đáy, bón vơi, diệt tạp, phơi đáy. Đối với ao quảng canh cải tiến, đã thực

hiện các công việc: gia cố bờ ao, bón vơi, diệt tạp, phơi đáy.

Tất cả công việc trên được thực hiện trước khi thả tơm 5-10 ngày.

Hình thức ni

Cơng việc

Vét bùn (cm)

San đáy bằng phẳng

Gia cố lại bờ

Cải tạo ao

Diệt tạp

Phơi đáy ao.

Nước cấp vào ao nuôi ban

đầu.

Gây màu nước trước khi



Thâm canh



Quảng canh cải tiến



15 cm



Phủ bạt

Vơi nung (20 kg/1000 m2)

Vơi sống (40 kg/1000 m2)

TCCA, 5 ppm và Saponin

15 ppm

10 ngày

Qua xử lý bằng Saponin

(15 ppm) và TCCA (1

ppm)

Phân NPK và Ure với tỉ lệ



Không

Không

Đắp bờ

Vôi sống (10 kg/1000

m2)

Saponin 30 ppm

20 ngày

Không qua xử lý



Cá tạp xay nhuyễn +



thả.



3:1



cám gạo trộn lẫn và

đun chín



Bảng 6: Chuẩn bị ao ni.



3.2.3. Con giống.

Nguồn gốc và chất lượng con giống là mối quan tâm lớn nhất của người quản lý 3

ao thâm canh, 3 ao quảng canh cải tiến. Đây chính là yếu tố ban đầu một phần quyết định

sự thành bại của vụ nuôi. Nếu con giống có chất lượng tốt, sau 4 tháng ni, tôm sẽ lớn

nhanh, đều, khả năng chống chịu bệnh dịch tốt. Kinh nghiệm cho thấy, nếu người nuôi

ham rẻ, mua phải con giống không rõ nguồn gốc và chất lượng kém dễ bị tháo ao sau khi

nuôi 1 – 1,5 tháng gây tâm lý chán nản và hao hụt vốn.

Trước khi thả, tôm ở 6 ao nghiên cứu được kiểm tra chất lượng kỹ lưỡng. Cỡ tôm

đồng đều, PL 15 đạt chiều dài thân 11-12 mm, phản ứng của tôm giống nhanh, bơi ngược

dòng nước quay nhẹ trong thau mà khơng tập trung thành đám ở chính giữa thau. Phản x

tt khi gừ vo thnh thau.

Thụngng

ssố

Loiại



Mtật độ

thhả



hỡnhnh



(conon/mm2)



Chtất lngng gingng



Ngunồn

gcốc



Ngyày

thhả



Camam

Ranhnh



23/4/04



Nhaha

Trangng



20/4/04



nuụiôi



Thõmâm

canhnh



40



Qungng canhnh

ciải tiếnÕn



6



Conon giốngng đượcỵc kiểmĨm

trara bệnhnh MBVBV vớiíi tỉtØ

lệlƯ nhiễmƠm bệnhnh 0%,

kiểmĨm trara đốmèm trắngng vớiíi

tỉtØ lệlƯ nhiễmƠm bệnhnh 15%.

Conon giốngng đượcỵc kiểmĨm

trara bệnhnh đốmèm trắngng vớiíi

tỉtØ lệlƯ nhiễmƠm bệnhnh > 20%.



Bảng 7: Các thông số ban đầu về con giống.



3.2.4. Chăm sóc và quản lý.



3.2.4.1. Chế độ cho ăn.





Đối với ao quảng canh cải tiến: .



Hàng ngày bổ sung thức ăn gồm cá + cám gạo với khối lượng thức ăn bằng 7%

trọng lượng tơm, trong đó cá tạp chiếm 85,7%, cám gạo chiếm 14,3%. Nấu lẫn cá tạp với



cám gạo, cho ăn 1 lần/ngày vào lúc chiều tối (17h – 1 8h). Chế độ cho ăn này duy trì trong

suốt q trình ni với lý do là cơng tác diệt tạp ở ao nuôi quảng canh cải tiến kém nên

có nhiều loại cá khác sống trong ao cạnh tranh thức ăn với tôm sú. Do vậy lượng thức ăn

đưa vào phải lớn để tơm có thể kiếm mồi.





Đối với ao thâm canh:



Sử dụng thức ăn công nghiệp dạng vảy nhỏ (số 1, 2), vảy (số 3) và dạng viên (số

3L, 4, 5) hãng Concord với hàm lượng đạm tổng số > 36% (đối với số 5), > 38% (đối với

số 4) và > 40% (đối với số 0, 1, 2, 3, 3L). Hàm lượng chất béo trong thức ăn < 3%.

Ngày cho ăn 5 lần vào lúc 6 h, 10h, 15h, 18.30h, 23h với lượng thức ăn mỗi lần so

với tổng khối lượng thức ăn hàng ngày tương ứng là 20%, 10%, 20%, 25%, 25%. Khi

thấy tôm lột vỏ hoặc tôm bắt mồi kém, nước ao đục hoặc những ngày trời nắng nóng,

nhiệt độ nước cao phải giảm lượng thức ăn cho tôm. Để tôm kiếm được mồi dễ dàng, khi

cho ăn người nuôi phải rải thức ăn rải đều khắp mặt ao. Lượng thức ăn tính theo ngày

tuổi và khối lượng của tơm ni trong ao được trình bày trong Bảng 8 sau đây:

Khối lượng tôm

Ký hiệu thức ăn

Khẩu phần cho ăn theo

(g)

khối lượng thân tôm (%)

PL 15 -0,35



TĂ Concord, số 1



8 – 10



0,35 – 3,5



TĂ Concord, số 2



6–7



3,5 – 8,0



TĂ Concord, số 3



6–7



8,0 – 12,0



TĂ Concord, số 3N



4–5



12,0 – 18,0



TĂ Concord, số 4



4–5



> 18



TĂ Concord, số 5



3–4



Bảng 8: Khẩu phần cho ăn và khối lượng tôm.



3.2.4.2. Chế độ cấp nước.





Đối với ao thâm canh: trong tháng đầu, 1 – 2 ngày cấp nước vào ao 1

lần do lượng nước bốc hơi và ngấm ra ngoài quá lớn. Những tháng tiếp

theo, 7 ngày cấp 1 lần.



Nước cấp vào ao được lấy từ ao chứa nước cấp. Nước trong ao này

được xử lý bằng TCCA (1 ppm) và sau 2 – 3 ngày mới sử dụng để cấp

vào ao nuôi.





Đối với ao quảng canh cải tiến: chỉ lấy nước vào 1 lần ban đầu. Do

vậy, mực nước trong ao rất thấp, thấp nhất là 50 cm, cao nhất là 75 cm.



3.2.4.3. Sục khí, quạt nước.

Quạt nước, sục khí có tác dụng tăng cường oxy hoà tan cung cấp cho

sự hơ hấp của các sinh vật và q trình phân huỷ hữu cơ trong nước.

Ngoài ra việc quạt nước giúp chống phân tầng nước ngọt, mặn khi

mưa to và tăng cường q trình bay hơi của các khí độc như NH 3,

H2S… cũng như tạo dòng chảy cuốn các chất bẩn vào khu vực lắng tụ

tập trung, hình thành khu vực đáy ao sạch cho tôm ăn và cư trú.





Ao thâm canh số 4 và số 6: mỗi ao lắp 1 máy quạt nước, 1 giàn gồm 3

cánh và 1 hệ thống sục khí. Đường ống trục chính là ống nhựa PVC có

đường kính là φ 48, ống nhựa nối giữa ống trục chính với ống nhựa đặt

dưới ao có đường kính là φ 27, ống dây nhựa dẫn khí có đường kính φ

21. Khoảng cách giữa các dây nhựa dẫn khí trong ao là 40 cm.

Thời gian sục khí, quạt nước phụ thuộc vào thời gian nuôi. Tháng nuôi

đầu tiên sục khí khoảng 3-4 tiếng/ngày, quạt nước 5 tiếng/ngày. Tháng

thứ 2 đến tháng cuối sục khí liên tục 24/24 giờ, thời gian quạt nước từ

9 – 11 tiếng/ngày

Sơ đồ của hệ thống sục khí được trình bày chi tiết trong phụ lục 2.







Ao thâm canh số 2 dùng 1 máy quạt nước, 1 giàn gồm 3 cánh. Máy

quạt nước bắt đầu hoạt động từ lúc mặt trời lặn đến sáng hôm sau,

thường từ 18h – 5.30h ngày hôm sau. Ngồi ra, máy quạt nước còn hoạt

động vào những hơm trời râm hoặc mưa.







Ao quảng canh cải tiến không sử dụng hệ thống sục khí hay quạt nước.



3.2.4.4. Chế phẩm sinh học.





Hai ao thâm canh số 4 và 6 dùng chế phẩm Aquapond-100, NT-1,

Bio-Nutrin, Soil-Pro, Super-mix, Nanocin,



Pharbioclean,



Pharselenzym.





Thành phần, tác dụng và cách dùng của các chế phẩm, dầu mực… sử

dụng trong qúa trình ni tơm sú ở 3 ao thâm canh được trình bày

trong Phụ lục 3.



3.3. Sự khác nhau giữa mơ hình thâm canh và quảng canh cải tiến thông

qua các thông số môi trường.

3.3.1. Các yếu tố đo hàng ngày.

Nhiệt độ, độ mặn, oxy hoà tan, pH là những yếu tố tác động trực tiếp đến đời sống

của tôm. Đây là những đại lượng biến thiên, thay đổi hàng ngày phụ thuộc vào thời tiết,

chế độ chăm sóc… nên đôi khi sự thay đổi của chúng lại gây bất lợi cho tơm. Ví dụ: nếu

biên độ dao động nhiệt ngày đêm > 4 0C - 50C sẽ gây hiện tượng sốc nhiệt cho tôm nếu

mực nước của đầm nuôi quá nông. Nếu độ mặn trong đầm càng cao, sau cơn mưa nước

phân tầng càng lớn và làm cho tơm bị stress. Nếu oxy hồ tan < 2 mg/l khiến cho tơm dạt

bờ và có thể chết … Chính vì thế, những yếu tố này được theo dõi và đo hàng ngày để có

biện pháp xử lý kịp thời.





Oxy hoà tan (DO).



Theo quy luật biến động ngày đêm, hàm lượng oxy hoà tan thường thấp vào lúc

sáng sớm, khi mặt trời chưa mọc và cao nhất vào lúc giữa trưa (14-15 giờ). Hàm lượng

oxy đo hàng ngày ở 6 ao thí nghiệm với tần số đo 2 lần/ngày được trình bày chi tiết trong

Phụ lục 13. DO trung bình hàng tuần ở 2 hình thức ni thâm canh và quảng canh cải tiến

thể hiện ở Bảng 38, Bảng 9 và Đồ thị 3, Đồ thị 4 dưới đây:

Th©

m

canh

QCCT



DO b

i sáng



mg O2/l

5

4

3

2

1

0

1



3



5



7



9



11



13



15



Tuần



th 3: Hm lng DO bui sỏng 2 hình thức TC và QCCT.

Hàm lượng DO ở cả 6 ao thí nghiệm đều có diễn biến tương tự nhau: buổi sáng

thường thấp vì sau 1 đêm, oxy bị tiêu hao liên tục do q trình hơ hấp của tơm và các

động thực vật thuỷ sinh có mặt trong ao. DO chỉ bắt đầu tăng khi quá trình quang hợp bắt

đầu lúc mặt trời mọc.

Sáng

Chiều

TC 2 TC 4 TC 6 QCCT QCCT QCCT TC 2 TC 2 TC 2 QCCT QCCT QCCT

7

8

9

7

8

9

4,134 4,076 4,243 4,015 4,016 4,029 7,048 7,274 7,405 6,808 6,868 7,012

Bảng 9: Hàm lượng oxy hoà tan trung bình ở 6 ao nghiên cứu.

Hàm lượng DO buổi sáng trung bình của cả 6 ao nghiên cứu dao động trong

khoảng 4 - 5 mgO2/l, buổi chiều DO trung bình của 3 ao TC cao hơn 3 ao QCCT khoảng

1 mg O2/l. Để duy trì được hàm lượng DO cao như vậy, các mơ hình ni thâm canh phải

tăng thời gian sục khí, thời gian quạt nước theo thời gian ni. Tháng đầu tiên, thời gian

sục khí trung bình khoảng 3-4 tiếng và thời gian quạt nước khoảng 5 tiếng (từ 24 h đến 5h

sáng hôm sau). Đến tháng thứ tư, thời gian sục khí là 24 tiếng/ngày, thời gian quạt nước

là 9 tiếng (từ 20h đến 5h sáng hôm sau). Trong những ngày mưa, thời gian quạt nước tăng

lên đến 15 – 16 tiếng/ngày. Nếu mưa liên tục, kéo dài vài ngày thì các ao thâm canh có

dùng thêm Oxy-LG.

mg O2/l



DO bi chiỊu



10



Th©

m

canh

QCCT



8

6

4

2

0

1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16



TuÇn



Đồ thị 4: Hàm lượng DO buổi chiều ở 2 hình thức TC và QCCT.

Phân tích ANOVA để tìm sự sai khác về hàm lượng oxy hoà tan buổi sáng và

chiều giữa mơ hình thâm canh và quảng canh cải tiến như Bảng 10, 11:



Nguồn biến động

Do công thức

Do ngẫu nhiên

Tổng



SS

0.224274

2.040567



df

1

30



2.264841



31



MS

0.224274

0.068019



F

3.297227



P-value

0.079404



F crit

4.170877



Bảng 10: Kết quả phân tích ANOVA về hàm lượng oxy buổi sáng.

Sau khi kiểm định ANOVA thấy, f tính nhỏ hơn f bảng vào cả buổi sáng lẫn buổi

chiều nên có thể kết luận rằng hàm lượng oxy sáng và chiều giữa 2 hình thức ni thâm

canh và quảng canh cải tiến khơng có sự sai khác ở mức ý nghĩa α = 0,05.

Nguồn biến động

Do công thức

Do ngẫu nhiên

Tổng



SS



df



1.210494

11.55089



1

30



12.76138



31



MS



F



1.210494

0.38503



P-value



3.143898



0.086366



F crit

4.170877



Bảng 11: Kết quả phân tích ANOVA về hàm lượng oxy buổi chiều.





pH trong ao ni TC và QCCT.



pH của nước quá cao hay quá thấp đều không tốt vì nó liên quan trực tiếp đến q

trình trao đổi chất và hô hấp của tôm. pH dao động trong khoảng 7,5 – 8,5 là thích hợp

nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm sú (theo Boyd).

Diễn biến pH nước trong q trình ni ở 6 ao thí nghiệm được trình bày chi tiết

ở Đồ thị 5, Bảng 39, Ph lc 16.



Thâ

m

canh



pH ở 2 hì

nh thức canh tác

8.800

8.400



Quảng

canh

cải

tiến



8.000

7.600

7.200

1



3



5



7



9



11



13



15



Tuần



thị 5: Hàm lượng pH ở 2 hình thức thâm canh và quảng canh cải tiến.

Diễn biến pH ở 2 hình thức canh tác khơng khác nhau nhiều. pH trung bình của 6

ao dao động trong khoảng 8 – 8,1 (ao 2 = 8,157; ao 4 = 8,136; ao 6 = 8,137; ao 7 = 8,008;

ao 8 = 8,052; ao 9 = 8,032) và càng về cuối vụ nuôi pH càng cao, đặc biệt ở các ao thâm



canh có ngày pH lên đến 9. Điều này sẽ ảnh hưởng đến tính độc của NH 3, NO2- có mặt

trong nước.

Nguồn biến động

Do công thức

Do ngẫu nhiên

Tổng



SS



df



0.188673

0.774135

0.962809



1

30

31



MS



F



P-value



F crit



0.188673

0.025805



7.311645



0.011176



4.170877



Bảng 12: Kết quả phân tích ANOVA về pH ở 2 hình thức TC và QCCT.

Qua bảng phân tích ANOVA thấy: F tính = 7,311 lớn hơn giá trị F bảng = 4,17

nên pH ở 2 hình thức thâm canh và quảng canh cải tiến là khác nhau rõ rệt với mức ý

nghĩa P = 95%.

Tiếp tục so sánh theo Duncan.

Giá trị pH trung bình của ao 2 = 8,157; ao 4 = 8,136; ao 6 = 8,26.

Giá trị pH trung bình của ao 7 = 8,008; ao 4 = 8,052; ao 6 = 8,032.

Se = 0,04; dfe = 30, α = 0,05, tra bảng có tp(α) = 2,89 khi p = 2 và tp(α) = 3,04 khi p = 3.

Tính giá trị D(α) = tp(α) x Se.

Thay số, ta được giá trị D(α) = 2,89 x 0,04= 0,116 khi p = 2;

D(α) = 3,04 x 0,04= 0,121 khi p = 3.

Lập

8,13

6

8,15

7



8,26

0,124 / 0,121 (*)



8,157

0,021 / 0,116



bảng so

sánh:



8,008

8,032



8,052

0,044 / 0,121

0,02 / 0,116



8,032

0,024/ 0,116



0,103 / 0,116



Bảng 13: So sánh Duncan giữa 3 ao TC.



Bảng 14: So sánh Duncan giữa 3 ao QCCT.



Qua Bảng 13 và 14 thấy, giá trị pH giữa ao thâm canh số 6 và số 4 có sự sai khác

ở mức ý nghĩa α = 0,05, xác suất P = 95%. Giữa ba ao quảng canh cải tiến với nhau

không sai khác ở mức ý nghĩa α = 0,05.





Độ trong ở ao ni TC và QCCT.



Độ trong của 6 ao ni được trình bày trong Đồ thị 5, Bảng 12, Bảng 40. Nhìn

chung độ trong của 6 ao nuôi đều cao ở tháng nuôi đầu tiên và giảm dần vào cuối chu kỳ



nuôi. Độ trong trung bình của 3 ao thâm canh dao động trong khoảng 29cm - 35 cm,

trong khi đó ở 3 ao quảng canh cải tiến, độ trong trung bình dao động trong khoảng 40

cm - 43 cm.



Đồ thị 6: Độ trong ở 2 hình thức thâm canh và quảng canh cải tiến.

Theo Nguyễn Đình Trung (2004), nếu ao có độ trong nằm trong khoảng 30 cm 40 cm là ao thích hợp cho ni tơm. Nếu ao q trong, tôm dễ bị stress, biên độ dao động

nhiệt giữa ngày và đêm lớn, xảy ra hiện tượng kéo đàn làm tiêu hao năng lượng, và đôi

khi xảy ra hiện tượng ăn thịt lẫn nhau. Nếu ao đục do động thực vật phù du ⇒ ao thiếu O2

vào buổi sáng, nếu ao đục do phù sa thì năng suất khơng cao. Như vậy, giá trị độ trong

trung bình dao động trong khoảng 29 cm – 43 cm ở 6 ao nghiên cứu là thích hợp cho sự

sinh trưởng và phát triển của tơm sú.

Phân tích ANOVA thể hiện ở Bảng 15.



Nguồn biến động

Do công thức

Do ngẫu nhiên

Tổng



SS



df



716.131

2579.673



1

30



3295.804



31



MS

716.131

85.98911



F

8.328159



P-value

0.007167



F crit

4.170877



Bảng 15: Kết quả phân tích ANOVA về độ trong ở 2 hình thức TC và QCCT.

Qua phân tích ANOVA thấy: F tính = 8,328 lớn hơn F bảng = 4,171 nên có cơ sở

để kết luận rằng hình thức canh tác khác nhau thì độ trong khác nhau ở mức ý nghĩa α =

0,05, xác suất P = 95%. Để xem xét sự sai khác về độ trong giữa các ao thí nghiệm của

cùng một hình thức canh tác, tiếp tục phân tích bằng phương pháp Duncan đối với 3 ao

thâm canh và 3 ao quảng canh cải tiến.

Độ trong trung bình của ao 2 = 34,286; ao 4 = 33,063; ao 6 = 29,375.

Độ trong trung bình của ao 7 = 42,81; ao 8 = 42,29; ao 9 = 40.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương III: kết quả và thảo luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×