Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương II: phương pháp nghiên cứu.

Chương II: phương pháp nghiên cứu.

Tải bản đầy đủ - 0trang

canh cải tiến lấy nước trực tiếp từ ngoài mương và chỉ cấp nước vào

duy nhất 1 lần.





Ao thâm canh số 2 chỉ lắp máy quạt nước, ao thâm canh số 4 và số 6

lắp máy quạt nước và máy sục khí. Thức ăn, vơi, thức ăn phối trộn...

dùng trong q trình ni ở 3 ao thâm canh này hồn toàn giống nhau,

khác nhau duy nhất là ao số 2 không dùng chế phẩm, ao số 4 dùng chế

phẩm Pharbioclear, ao số 6 dùng chế phẩm aquapond. Ba ao quảng

canh cải tiến không dùng thêm bất kỳ chế phẩm sinh học nào.



2.2.2. Dụng cụ thí nghiệm.





Máy đo độ mặn, nhiệt kế, đĩa Sechi.







Trang thiết bị phòng thí nghiệm để đo BOD, COD.







Bộ test đo DO, pH, độ kiềm của hãng SERA.







Máy so màu và hóa chất cần thiết của hãng LaMotte để đo các yếu tố H 2S,

PO43-, Fe t/s, NH3, NO2-.



2.3.



Bố trí thí nghiệm.



Thí nghiệm được tiến hành trên 6 ao nuôi tôm: 3 ao quảng canh cải tiến, 3 ao

thâm canh.



Ao số 2, 4, 6 là ao áp dụng theo hình thức ni thâm canh.



Ao số 7, 8, 9 là ao áp dụng theo hình thức ni quảng canh cải tiến.

Mật độ thả ở ao thâm canh: 40 con/m2. Mật độ thả ở ao quảng canh cải tiến: 6

con/m2. Cỡ tôm thả là tôm sú PL15 đã được kiểm tra chất lượng, không nhiễm bệnh đốm

trắng, tỉ lệ nhiễm bệnh MBV thấp.

Tất cả 6 ao này đều có chung nguồn nước và chất đáy là sét pha cát.

Bờ ao không bị sạt lở, mặt rộng bờ của ao nuôi thâm canh trong khoảng 0,5 – 1

m, của ao quảng canh trong khoảng 1-1,5 m. Chiều cao bờ: 0,5 m (ở hình thức thâm

canh) và 0,3 m (ở hình thức quảng canh cải tiến) so với mực nước cao nhất trong ao.

Ao quảng canh cải tiến chỉ có 1 cống. Ao thâm canh có 2 cống cấp và xả riêng

biệt, cống xả thiết kế ở giữa ao. Mặc dù ao thâm canh có cống cấp riêng nhưng vẫn sử

dụng máy bơm do mực nước trong mương thấp hơn mực nước trong ao. Vật liệu xây

cống là xi măng.



2.4.



Thu thập và phân tích số liệu



2.4.1. Phương pháp thu nước mẫu



2.4.1.1. Thời gian thu:

Nước mẫu lấy vào lúc 4-6 giờ sáng và 14-15 giờ chiều hàng ngày đối với

các chỉ tiêu đo hàng ngày.

Đối với các chỉ tiêu đo hàng tuần, nước mẫu được lấy vào lúc 4-6 giờ sáng

thứ năm hàng tuần.



2.4.1.2. Cách thu mẫu:

 Nước được lấy ở tầng giữa khoảng 0,4 m - 0,5 m so với mực nước

luôn luôn là 0,8 – 1 m đối với ao thâm canh, và 0,3 m – 0,4 m đối với ao

quảng canh cải tiến.





Dùng chai nh?a 0,5 lít, d?y kín nút và th? xu?ng nu?c ? d? sâu 0,5 m.

M? nút, l?y nu?c vào chai. Sau khi lấy đủ lượng nước cần dùng đóng

nút chai kéo lên.

- Nước lấy lên được bảo quản lạnh và sử dụng trong ngày.

- Đối với ao thâm canh: lấy nước ở 4 góc ao như Hình 1. Nước sau

khi lấy ở 4 vị trí được trộn lẫn với nhau.

- Đối với ao quảng canh cải tiến: lấy nước ở 5 vị trí như Hình 2.

Nước sau khi lấy ở 5 vị trí được trộn lẫn với nhau.



2.4.1.3. Tần số đo các chỉ tiêu môi trường:





Đối với các chỉ tiêu như độ mặn, nhiệt độ, oxy hoà tan, pH, độ trong:

đo hàng ngày lúc 4-5 giờ sáng và 14-15 giờ chiều ngay tại hiện trường.







Đối với các chỉ tiêu như: H 2S, PO43-, NO2, NH3, Fet/s, BOD, COD, độ

kiềm: đo hàng tuần, nước mẫu được đóng chai, bảo quản lạnh và mang

về phân tích tại Phòng thí nghiệm của Đề tài KC 06-20 NN và Phòng

mơi trường thuộc Viện nghiên cứu NTTS 1.



2.4.2. Phương pháp phân tích mẫu.



2.4.2.1. Phân tích các chỉ tiêu đo hàng ngày.





Dùng nhi?t kế để đo nhiệt độ.







Dùng đĩa Sechi để đo độ trong.







Dùng máy đo của hãng ATAGO để đo độ mặn.







Dùng test hãng Sera (Đức) để đo pH: Thao tác như sau:

Lấy 5 ml nước cần đo. Nhỏ 4 giọt dung dịch vào mẫu nước cần đo và

so với bảng màu cho sẵn. Đọc kết quả.







Dùng test hãng Sera (Đức) để đo oxy hoà tan. Thao tác như sau:

Lấy đầy lọ nước (lọ chuyên dụng của hãng), nhỏ 6 giọt của dung dịch

1, sau đó nhỏ tiếp 6 giọt của lọ dung dịch 2. Đậy kín nắp và khơng

được phép để có bọt khí trong lọ đo. Lắc đều và so với bảng màu cho

sẵn. Đọc kết quả.



2.4.2.2. Phân tích các chỉ tiêu đo hàng tuần.





Đo H2S: theo phương pháp Methylene Blue.

 Hoá chất:

-



Chất phản ứng Sulfide A, mã số V-4458-G.



-



Chất phản ứng Sulfide B, mã số V-4459-E.



-



Chất phản ứng Sulfide C, mã số 4460-H.



 Giới hạn đo: từ 0,00 – 1,50 ppm.

 Cơ chế: Trong điều kiện thích hợp, ion Sulfide phản ứng với paminodimethylaniline và Ferric chloride tạo thành xanh methylene

tuỳ theo nồng độ sulfide có trong mẫu nước. Khi thêm ammonium

phosphate vào, dung dịch sẽ đổi màu.

 Trình tự thao tác:

-



Đổ 10 ml nước mẫu vào lọ đo chuyên dụng. Đo mẫu đối

chứng.



-



Lấy ra, thêm 1 ml dung dịch sulfide A. Đóng nắp và lắc

đều.



-



Tiếp tục thêm 6 giọt dung dịch sulfide B. Đóng nắp và lắc

đều. Chờ 1 phút. sẽ chuyển thành màu xanh khi sulfide có

mặt trong nước.



-



Cuối cùng thêm 2 ml dung dịch sulfide C. Đóng nắp và lắc

đều. Dung dịch có màu đạt mức tối đa ngay lập tức và bền

vững.







Cho vào máy so màu. Ghi kết quả.



Đo PO43-: theo phương pháp sử dụng axit vanadomolybdophosphoric.

 Hoá chất:

-



Chất phản ứng PO4 VM, mã số 4410-H.



 Giới hạn đo: từ 0,00 – 70,00 ppm.

 Cơ chế: Đối với phương pháp đo PO4 này, Orthophosphate phản

ứng trong môi trường axit với Ammonium vanadomolybdate tạo

thành dạng axit vanadomolybdophosphoric. Nếu phản ứng tạo màu

vàng có nghĩa là trong mẫu nước có orthophosphate.

 Trình tự thao tác:

-



Đổ 10 ml nước mẫu vào lọ đo chuyên dụng. Đo mẫu đối

chứng.



-



Lấy ra, thêm 2 ml chất phản ứng Phosphate VM. Đóng nắp

và lắc đều để các chất phản ứng hết. Chờ 5 phút để phản

ứng xảy ra hết và có màu đạt mức tối đa.







Sau 5 phút, cho vào máy so màu. Ghi kết quả.



Đo NO2: theo phương pháp Diazo hoá.

 Hoá chất:

-



Chất phản ứng axit hỗn hợp, mã số V-6278-H.



-



Chất tạo màu, mã số V-6281-C.



 Giới hạn đo: từ 0,00 – 8,00 ppm.

 Cơ chế: Đối với phương pháp đo NO 2 này, 1 hợp chất màu đỏ tía

được tạo ra bởi q trình Diazo hố sulanilamide và NO2 phản ứng

với N – (1-naphthyl) – ethylenediamine.

 Trình tự thao tác:

-



Đổ 10 ml nước cần đo vào lọ đo chuyên dụng. Đo mẫu đối

chứng.



-



Lấy ra 5 ml nước mẫu và thêm vào 5 ml chất phản ứng axit

hỗn hợp. Đóng nắp, lắc đều.



-



Thêm 2 g chất tạo màu. Đóng nắp và lắc nhẹ trong 1 phút.

Chờ 5 phút để phản ứng xảy ra hết và có màu đạt mức tối

đa.



-



Sau 5 phút, cho vào máy so màu. Ghi kết quả. Kết quả thu

được là hàm lượng Nitrit nitrogen. Để quy đổi sang hàm

lượng NO2, áp dụng công thức:

ppm NO2 = ppm NO2-N x 3,3







Đo NH3: theo phương pháp Phenat.

 Hoá chất:

-



Chất phản ứng Ammonia Nitrogen # 1, mã số V-4797-G.



-



Chất phản ứng Ammonia Nitrogen # 2, mã số V-4798-G.



 Giới hạn đo: từ 0,00 – 4,00 ppm.

 Cơ chế: Đối với phương pháp đo Ammonia Nitrogen này,

Ammonia phản ứng với chất phản ứng Ammonia #1, # 2, nếu tạo

thành 1 hợp chất có màu có nghĩa là Ammonia có mặt trong mẫu

nước đó. Muối Rochelle được thêm vào sau đó nhằm ngăn chặn sự

kết tủa của Ca và Mg có mặt trong nước.

 Trình tự thao tác:

-



Đổ 10 ml nước mẫu vào lọ đo chuyên dụng. Đo mẫu đối

chứng.



-



Lấy ra, nhỏ 8 giọt chất phản ứng Ammonia Nitrogen # 1.

Đóng nắp, lắc đều và chờ 1 phút.



-



Thêm 1 ml chất phản ứng Ammonia Nitrogen # 2. Đóng

nắp và lắc đều. Chờ 5 phút để phản ứng xảy ra hết và có

màu đạt mức tối đa.



-



Sau 5 phút, cho vào máy so màu. Ghi kết quả. Kết quả thu

được là hàm lượng Ammonia nitrogen, để quy đổi sang

NH3 và NH4, áp dụng công thức sau:

ppm NH3 = ppm Ammonia nitrogen x 1,2

ppm NH4 = ppm Ammonia nitrogen x 1,3







Đo Fet/s: theo phương pháp I,I0-Phenanthroline.

 Hoá chất:

-



Chất chỉ thị axit Phenanthroline, mã số 2776 E.



-



Chất để khử sắt, mã số 2777-C.



 Giới hạn đo: từ 0,00 – 5,00 ppm.

 Cơ chế: Đối với phương pháp đo Fet/s này, sắt ferric bị khử thành

sắt ferrou và cuối cùng tạo thành 1 hợp chất có màu với

phenanthroline.

 Trình tự thao tác:

-



Đổ 10 ml nước mẫu vào lọ đo chuyên dụng. Đo mẫu đối

chứng.



-



Lấy ra, thêm 0.1 g chất khử sắt. Đóng nắp và lắc đều 15-20

lần.



-



Sau đó thêm tiếp 6 giọt chất chỉ thị axit phenanthroline.

Đóng nắp và lắc 4 lần để các chất phản ứng hết. Chờ 5 phút

để phản ứng xảy ra hết và có màu đạt mức tối đa.







Sau 5 phút, cho vào máy so màu. Ghi kết quả.



Đo BOD: áp dụng phương pháp TCVN 6001 –1995.



 Hoá chất:

-



Chất chỉ thị axit Phenanthroline, mã số 2776 E.



-



Chất để khử sắt, mã số 2777-C.



 Trình tự thao tác:

-



Làm bão hồ oxy hồ tan vào nước mẫu (thường dùng bình

oxy để sục cho đến bão hồ). Sau đó đưa lọ mẫu đã bão hồ

oxy, được đậy kín và để trong tủ ổn nhiệt với nhiệt độ

không đổi ở 200C trong khoảng thời gian là 5 ngày đêm.

Trong trường hợp nước quá bẩn, ta phải pha loãng với nước

cất rồi mới xác định BOD5. Để xác định nước bẩn hay

không, căn cứ vào hàm lượng COD để chọn sự pha loãng.

Nếu COD > 20 mg O 2/l thì pha lỗng gấp đơi, nếu COD >

30 mg O2/l thì pha lỗng gấp 3 lần.



-



Lấy ra xác định hàm lượng oxy hồ tan còn lại trong mẫu.

Oxy hoà tan được xác định trong trường hợp này bằng

cách: lấy 50 ml nước mẫu cho vào bình nón sạch dung tích

100 cc. Nhỏ vào bình nón 5 giọt chỉ thị hồ tinh bột, lắc nhẹ,

dung dịch trong bình nón lập tức có màu xanh hoặc nâu

đen. Dùng pipet hoặc buret có chứa dung dịch Natri

thiosulphat 0,02 N nhỏ dần từng giọt vào bình nón. Vừa

nhỏ vừa lắc đều bình nón cho đến khi mất màu xanh thì kết

thúc. Ghi lấy thể tích của dung dịch Natri thiosulphat

(Na2S2O3) đã tiêu tốn trong quá trình chuẩn độ (gọi tắt là A

ml). Tính kết quả hàm lượng oxy hồ tan theo cơng thức:

mg/l O2 = 3,2 * A.



-



Tính kết quả: BOD5 (mg O2/l) = mg/l Oxy ban đầu – mg/l

Oxy sau 5 ngày.







Đo COD: áp dụng theo phương pháp oxy hố bằng K2Cr2O4.

 Hố chất:

-



KMnO4.



-



H2SO4.



-



H2C2O4.



 Trình tự thao tác:

-



Lấy 1 bình nón sạch dung tích 100 cc, cho vào đó 50 ml

nước mẫu. Thêm vào 1 ml KMnO 4 0,25N và 1 ml H 2SO4

đặc. Đun sôi nhẹ khoảng 10 phút.



-



Làm tương tự đối với 50 ml nước cất để so sánh.



-



Sau khi đun sơi, để hai bình nguội bớt đến khoảng 60-80 0C

thì cho vào mỗi bình lần lượt 1 ml dung dịch H 2C2O4 0,25

N, lắc đều, các bình sẽ mất màu tím.



-



Chuẩn độ bằng dung dịch thuốc tím tiêu chuẩn KMnO 4

0,05N từ buret nhỏ dần từng giọt xuống các bình nón chứa

nước mẫu và nước cất, cho đến khi xuất hiện màu hồng

nhạt bền trong khoảng 5-10 phút. Ghi lấy thể tích thuốc tím

đã dùng cho bình nước cất (gọi là A ml) và cho bình nước

mẫu (B ml).







Tính kết quả: X mg O2/l = 8 * (B – A).



Đo độ kiềm: Độ kiềm được đo bằng test của hãng SERA. Có 2 loại

test thử khác nhau.

Test 1: Lấy 5 ml nước mẫu, nhỏ 1 giọt dung dịch A vào, nước sẽ

chuyển thành mầu xanh. Nhỏ tiếp dung dịch B vào cho đến khi chuyển

sang mầu hồng nhạt bền. Ghi lấy số giọt B đã dùng. Tính kết quả: lấy

số giọt B * 17.

Test 2: Lấy 5 ml nước mẫu, nhỏ giọt dung dịch A vào, ban đầu nước sẽ

chuyển thành mầu xanh. Tiếp tục nhỏ dung dịch A cho đến khi chuyển

sang mầu vàng nhạt bền. Ghi lấy số giọt A đã dùng. Tính kết quả: lấy

số giọt A * 27.



2.4.3. Xử lý số liệu.

Số liệu sau khi thu thập về, được tổng hợp và xử lý bằng Excel.





Sử dụng Excel:



Dùng Excel để tính trung bình, min, max, vẽ đồ thị và chạy ANOVA.

Chương trình ANOVA dùng để tính F tính, F bảng nhằm tìm ra mức độ sai

khác giữa hai công thức.





Dùng phương pháp so sánh Duncan để xác định mức độ sai khác yếu

tố môi trường ở các nghiệm thức.



Sau khi chạy chương trình ANOVA, nếu 2 cơng thức thí nghiệm có sự sai

khác, sẽ tiếp tục so sánh hiệu quả giữa các cơng thức thí nghiệm với nhau

thơng qua việc so sánh các giá trị trung bình của chúng. Để so sánh, rút ra

những kết luận thống kê cần thiết, phương pháp Duncan được sử dụng.

Phương pháp LSD không được sử dụng do phương pháp này đơn giản, dễ

mắc sai lầm loại II nghĩa là sự thật có thể khơng khác nhau nhưng dựa vào

tiêu chuẩn này lại có thể kết luận là có sai khác.

Tiêu chuẩn sai khác có ý nghĩa Duncan α (ký hiệu là Dα) bị ràng buộc bởi

3 tham số: p, γ và mức ý nghĩa α.

-



p là hạng bậc so sánh giữa 2 cơng thức thí nghiệm nên khi hai công

thức gần kề nhau trong bảng xếp thứ tự, p = 2.



-



Mức ý nghĩa α = 0,05.



-



Bậc tự do γ tương ứng với df(e).



-



Căn cứ vào 3 tham số trên, ta tra bảng tìm giá trị tp(α ).



-



Giá trị D(α ) được tính theo cơng thức:

D (α ) = tp(α ) x Se.

Mà Se = vMSe/r



MSe là phương sai ngẫu nhiên.



-



Thay giá trị Se và tp (α) ta được các giá trị D (α ).



-



Lập bảng so sánh D (α).



Dựa vào bảng so sánh D(α) có thể đưa ra những kết luận về sự sai khác giữa

các cơng thức có ý nghĩa thống kê.



Chương III: kết quả và thảo luận

3.1. Khái qt tình hình ni tơm và môi trường nuôi tại khu vực nghiên

cứu.

3.1.1. Điều kiện tự nhiên vùng ni tơm Kiến Thuỵ.

Hải Phòng có 125 km bờ biển, tổng diện tích ni trồng thuỷ sản nước lợ là 20.000 ha

phân bố chủ yếu ở các xã ven biển của các huyện Thuỷ Nguyên, Kiến Thuỵ, An Hải, Tiên

Lãng, Vĩnh Bảo và huyện đảo Cát Bà, trong đó diện tích mặt nước tham gia vào ni tơm

sú là 8.750 ha (Bộ Thuỷ sản, 1999).

Điều kiện khí hậu ở Hải Phòng chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ nhiệt đới gió

mùa. Có 4 mùa rõ rệt, mùa hè chịu sự chi phối của gió mùa Đơng Nam, mùa đơng chịu sự

ảnh hưởng của gió mùa Đơng Bắc. Nóng ẩm về mùa hè, khơ lạnh về mùa đơng.

Tổng nhiệt cả năm tại Hải Phòng đạt 8500 0C. Chế độ nhiệt phân thành 2 mùa rõ rệt.

Mùa đông lạnh kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3, nhiệt độ trung bình từ 16 0C - 170C, các

tháng 11, 1, 2, 3 thường thấp hơn 20 0C. Nhỏ nhất là tháng giêng có khi xuống tới 4,5 0C.

Mùa hạ nóng kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình trên 25 0C. Nhiệt độ cao

nhất tuyệt đối có thể lên tới 38,50C, thậm chí tới 41,50C.

Lượng bức xạ nhiệt lý thuyết hàng năm tại Hải Phòng đạt 220-230 kcal/cm 2, bức xạ

thực tế đạt 105 kcal/cm2, cao nhất vào tháng 5 (12,25 kcal/cm 2) và tháng 7 (11,29

kcal/cm2) trùng với 2 tháng độ cao mặt trời lớn nhất. Diễn biến bức xạ hàng ngày bình

qn có một cực đại vào 13-15 h và một cực tiểu vào trước lúc mặt trời mọc 4-6 h. Gần

70% lượng bức xạ tổng cộng hàng ngày tập trung vào 10-15 h. Tổng cộng bức xạ ngày

đạt 600 cal/cm2 trong tháng 1 và 2.

Lượng mưa trung bình khoảng 1750 mm/năm. Số ngày mưa bình quân là 80-90

ngày/năm. Mưa tập trung chủ yếu vào tháng 5-8, chiếm 75% lượng mưa cả năm.

Chế độ nhật triều, biên độ thủy triều dao động khá lớn. Vào kỳ nước cường biên độ

thủy triều dao động trong khoảng 2,8 - 3,8 m. Độ mặn thay đổi theo mùa, thường dao

động trong khoảng 5‰ – 22‰ vào vụ ni tơm (tháng 4 – tháng 8 âm lịch).



3.1.2. Hình thức ni phổ biến.

Hải Phòng là một trong những thành phố đi đầu trong phong trào nuôi tôm. Nhiều

ruộng muối ở Bàng La, Kiến Thuỵ bị chuyển đổi sang đầm nuôi tôm một cách tự phát. Số

hộ tham gia nuôi tôm ngày càng tăng, đặc biệt tại các vùng ven biển như Kiến Thuy, Cát

Bà, An Hải, Thuỷ Nguyên. UBND thành phố Hải Phòng cũng đầu tư xây dựng nhiều

cơng trình phục vụ cho ni tơm như kênh, mương, đầu cống cấp, trạm thuỷ lợi cấp nước

mặn và ngọt. Nhưng thực tế các cơng trình này chưa phát huy được tác dụng nên nhiều

vùng nuôi tôm bị thiếu nước mặn khiến cho phong trào nuôi tôm không thể phát triển

nhanh như những ngày đầu. Tại Kiến Thuỵ, diện tích ni tơm do chuyển đổi mục đích là

khá lớn và gần như số hộ nằm trong khu vực này chỉ có thể canh tác theo hình thức quảng

canh cải tiến hoặc quảng canh. Nguyên nhân do chuyển đổi tự phát, không có quy hoạch

cụ thể nên thiếu đường kênh dẫn nước vào, ra khiến cho ao đầm trong khu vực giống như

ao tù năm này qua năm khác. Điều này là trở ngại cho những hộ nuôi muốn bứt phá lên

để ni thâm canh.

Chính vì thế, hình thức ni quảng canh và quảng canh cải tiến là phổ biến ở đây. Sau

bao nhiêu năm kể từ ngày bắt đầu nuôi tôm cho đến nay, số hộ nuôi tôm áp dụng phương

thức nuôi thâm canh của Kiến Thuỵ tăng ở mức không đáng kể.



3.1.3. Môi trường nước nuôi.

Theo báo cáo của Đề tài nghiên cứu “Biến động một số yếu tố môi trường trong ao

ni tơm sú ít thay nước ở khu vực Hải Phòng” do Trạm nghiên cứu NTTS nước lợ tiến

hành năm 1998 cho kết quả như sau:

Với mức thay nước 300-400% trong 1 chu kỳ nuôi, môi trường ao ni tơm ở khu

vực Q Kim – Hải Phòng nằm trong giới hạn thấp của sự ô nhiễm. Các chỉ tiêu DO (mg

O2/l), NH3 (mg/l), NO2- (mg/l), H2S(mg/l), PO43- (mg/l), Fe t/s (mg/l), BOD (mg O2/l),

COD (mg O2/l) ở tháng nuôi cuối cùng nằm trong giới hạn thấp của sự ô nhiễm và độ

kiềm ở mức cho phép.

Như vậy, với xu hướng nằm trong giới hạn thấp của sự ô nhiễm là chiều hướng chung

của vùng nuôi tôm Quý Kim, xã Hải Thành, Hải Phòng.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương II: phương pháp nghiên cứu.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×