Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Tình hình NTTS tại huyện Tứ Kỳ

1 Tình hình NTTS tại huyện Tứ Kỳ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sơn...Toàn huyện đã và đang thực hiện dự án chuyển đổi vùng trũng sang phát triển

NTTS.

Trong tồn huyện hiện có khoảng 450 ha ni cá giống mới, trong đó thâm

canh ni đơn cá Rơ phi đơn tính là 45 ha. Riêng sản lượng cá Rơ phi đơn tính ước

đạt 970 tấn.

Tuy nhiên, ngành thuỷ sản Tứ Kỳ chưa khai thác hết các tiềm năng sẵn có,

còn một số tồn tại cần giải quyết. Tứ Kỳ có 169 ha diện tích mặt nước chưa sử

dụng, ngồi ra còn trên 3000 ha vùng trũng có năng suất lúa thấp là các diện tích có

thể sử dụng vào mục đích NTTS. Trong những năm qua mới có trên 959 ha được

đưa vào ni trồng thuỷ sản, như vậy tiềm năng NTTS còn rất lớn.

4.1.2 Tình hình ni trồng thuỷ sản của các nơng hộ

4.1.2.1 Thông tin nông hộ

Khảo sát 70 người nuôi cá ở 3 xã Hưng Đạo, Tái Sơn, Quang Phục, đây là 3

xã có truyền thống ni cá Rơ phi từ rất lâu và hiện nay đang triển khai mơ hình

hợp tác xã NTTS tại xã Tái Sơn và xã Hưng Đạo.



Hình 2: Tuổi nơng hộ NTTS

Tuổi nơng hộ sản xuất được phỏng vấn dao động từ 30 - 56 tuổi; <40 tuổi chiếm

20%; tuổi nông hộ từ 40 - 50 tuổi chiếm 38,57%; >50tuổi chiếm 41,43%.



Hình 3: Kinh nghiệm NTTS

19



Số năm nuôi cá dao động từ 2 - 13 năm, trung bình là 7,89 ± 0,34, trong đó có

24,29% số nông hộ nuôi thuỷ sản <5năm; 57,14% số nông hộ nuôi từ 6 - 10 năm;

18,57% nông hộ nuôi thuỷ sản >10 năm.

Từ kết quả điều tra cho thấy, đại đa số những người tham gia vào nuôi trồng

thuỷ sản ở huyện Tứ Kỳ có độ tuổi trên 40, có kinh nghiệm trong NTTS, hầu hết các

nơng hộ đều có truyền thống nuôi cá lâu năm, chủ yếu từ 5 năm trở lên và đã tích

luỹ được số vốn lớn để đầu tư cho hoạt động NTTS, đây là mặt thuận lợi cho phong

trào phát triển ni cá nói chung và ni cá Rơ phi nói riêng.

Trong số những nơng hộ điều tra, 100% các nông hộ trả lời thu nhập chính

trong gia đình là từ ni trồng thuỷ sản (nuôi cá). Số lao động tham gia NTTS dao

động trong khoảng từ 1 - 4 người, trung bình 1,74 ± 0,075.



Hình 4: Hình thức ni cá Rơ phi

Hầu hết các hộ được phỏng vấn trả lời trong 5 năm gần đây ni cá Rơ phi là

chủ yếu, và có ghép thêm các loài cá truyền thống với tỉ lệ: 80% cá Rơ phi và 20%

các lồi cá khác; có 47,14% nông hộ nuôi đơn cá Rô phi, 48,57% nông hộ ni

ghép cá Rơ phi với các lồi khác và chỉ có 4,29% nơng hộ khơng ni cá Rơ phi mà

chỉ nuôi cá truyền thống.

100% số hộ được phỏng vấn trả lời diện tích ni trồng thuỷ sản chủ yếu

dùng để ni cá. Các nơng hộ có nhiều ao thường sử dụng 1ao ương, dùng ao ương

này để ương cá kích cỡ nhỏ lên cỡ lớn hơn; khi ao nuôi thu hoạch, sẽ dùng cá từ ao

ương để thả vào ao ni ni tiếp (ni theo hình thức gối vụ). Hình thức này tiết

kiệm được tiền mua giống vì nếu mua cá giống cỡ lớn rất đắt, nuôi gối vụ trong một

năm có thể ni từ 2 - 3 vụ, thu nhập cao hơn nhiều những hộ chỉ có 1 ao.

4.1.2.2 Một số thơng số trong ni cá Rơ phi

Diện tích nuôi cá ở các nông hộ: Tại huyện Tứ Kỳ diện tích NTTS dao động từ

1.000m2 - 43.000m2. Độ sâu mực nước ao dao động 1,2 - 2m.

20



Mật độ thả cá: Các nông hộ nuôi đơn cá Rô phi thả cá với mật độ 2,5 - 3,5

(con/m2), nuôi sau 6 - 8 tháng đạt kích cỡ 500g trở lên. Kích cỡ thu hoạch sẽ đồng

đều nếu chọn cá giống có chất lượng tốt và đều nhau. Hầu hết các nông hộ thả mật

độ 3 con/m2.



Bảng 6 : Địa điểm chọn mua cá giống và chất lượng con giống

STT



Thông số



1



Mua cá giống:



70



100



Trong huyện



29



41,43



Ngồi huyện



1



1,43



Nhiều nguồn

Chất lượng con giống:



40

70



57,14

100



Tốt



37



52,9



Bình thường



33



47,1



Xấu



0



0



2



Số lượng (người)



Phần trăm(%)



Theo kết quả khảo sát, 41,43% nông hộ trả lời thường xuyên mua cá của các

trại sản xuất cá giống trong huyện; 57,14% số nông hộ trả lời mua nhiều nguồn khác

nhau, gặp đâu mua đấy; chỉ có 1,43% nơng hộ thường xuyên mua cá của cơ sở sản

xuất cá giống ngồi huyện. Tuy nhiên hầu hết các nơng hộ không mua cá ở 1 trại

giống cố định, tuỳ thuộc tình hình để mua cá giống. Các nơng hộ trả lời tuỳ từng lần

mua giống, có lần con giống tốt, có lần con giống kém và các nơng hộ cũng không

mua cá giống ở trại giống cố định nên không thể khẳng định chính xác chất lượng

con giống của từng trại.

Hình thức ni:



Hình 5: Tỷ lệ ghép cá Rơ phi



21



Trong 70 nơng hộ được phỏng vấn có 49,25% nơng hộ nuôi đơn; 50,75%

nông hộ nuôi ghép. Các nông hộ nuôi ghép Rơ phi trong đó cá Rơ phi chiếm tỷ lệ

khá cao từ 80 - 90%, các nông hộ này chỉ ghép thêm 1 số lượng rất ít cá truyền

thống, chủ yếu là cá Mè, cá Trắm và cá Trôi, cá Chép. Hầu hết các nông hộ được

phỏng vấn trả lời cá Quả chỉ thả số lượng rất ít, thường thả 2 - 3 con trong ao, ít khi

ghép thêm cá Chim và cá Trê. Hình thức ni này nhằm tận dụng nguồn vật chất

hữu cơ có trong ao để làm thức ăn cho các loài cá truyền thống.

Một số nơng hộ trả lời trong q trình ni thả cá giống kích cỡ nhỏ nên khơng

kiểm sốt được mật độ cá giống, có nơng hộ trả lời trong q trình ương giống nếu

vụ nào ương được nhiều thì sẽ thả nhiều giống hơn các vụ khác. Thông thường các

nông hộ ước lượng lượng cá hao hụt để bổ xung thêm con giống và ln duy trì mật

độ cá trung bình trong ao là 3 con/m2.

Kích cỡ cá giống thả: Kích cỡ cá giống dùng để thả ở các nông hộ ni là khác

nhau. Kích cỡ càng bé thì thời gian nuôi càng kéo dài đồng thời tỷ lệ hao hụt lớn,

ảnh hưởng đến năng suất nuôi. Tuy nhiên, tại Tứ Kỳ vẫn có nhiều nơng hộ thả cá

giống kích cỡ nhỏ. Cá Rô phi dùng làm con giống chủ yếu là cá có kích cỡ nhỏ từ 1

- 2g/con.

Ngồi ra vẫn có những nơng hộ dùng con giống kích cỡ lớn để ni thương

phẩm, kích cỡ con giống lên tới 100 - 200g/con. Dùng con giống kích cỡ lớn có thể

nuôi 2 - 3 vụ trong năm. Những hộ thả cá kích cỡ lớn thường là những hộ có từ 2 ao

trở lên, họ dùng 1 ao để ương cá giống, khi ao ni đạt kích cỡ thương phẩm sẽ kéo

bán và dùng cá ở ao ương, đồng thời những cá chưa đạt kích cỡ thương phẩm cũng

được giữ lại ni cùng với cá giống ở ao ương (hình thức ni gối vụ). Cá giống từ

ao ương chuyển sang có kích thước lớn nên rút ngắn được thời gian ni. Kích cỡ

con giống từ ao ương chuyển sang có thể đạt tới 100 - 200 g/con. Do có ao ương

nên những nông hộ này chủ động được con giống, giảm chi phí giống và có thể ni

nhiều vụ trong năm. Đồng thời lợi nhuận thu được cao hơn những hộ khơng có ao

ương...Những nơng hộ chỉ có 1 ao thì phải thả những con giống kích cỡ nhỏ khơng

chỉ thời gian nuôi kéo dài mà cá hao hụt cũng nhiều. Ngồi ra: Do chỉ có 1 ao nên

khi thu hoạch những cá chưa đủ biểu lái buôn không mua những nông hộ này lại

phải bán cho những hộ nuôi khác làm cá giống với giá rẻ để có điều kiện cải tạo ao

(số lượng cá ít khơng đủ ni).

22



Những hộ sử dụng con giống kích cỡ lớn đều phải có ao ương để chủ động con

giống và tiết kiệm chi phí mua giống. Những hộ khơng có ao ương khơng sử dụng

giống to vì chi phí cho giống to rất lớn, không thể chủ động nguồn giống và lợi

nhuận sẽ thấp.

Năng suất nuôi: Năng suất nuôi dao động từ 2 tấn - 10 tấn/ha/vụ ni trong khi đó

năng suất ni cá truyền thống chỉ đạt 3,5 tấn/ha/vụ nuôi. Điều này chứng tỏ năng

suất ao nuôi cá Rô phi cao hơn nhiều so với ao nuôi cá truyền thống [33.1]

Năng suất ao ni cá Rơ phi có sự khác nhau do mật độ nuôi và tỷ lệ ghép.

Những nông hộ nuôi với tỷ lệ cá Rô phi cao và mật độ thả hợp lý sẽ cho năng suất

nuôi cao hơn những hộ nuôi ghép với tỷ lệ cá Rô phi thấp và mật độ thả ít.

Tình hình sử dụng thức ăn: Tại Tứ Kỳ hầu hết các hộ đều nuôi cá Rơ phi bằng

thức ăn cơng nghiệp có sử dụng thêm phân trong giai đoạn đầu (nuôi cá trong hệ

thống nuôi kết hợp VAC). Hầu hết các hộ nuôi khẳng định kết hợp thêm phân giai

đoạn đầu hợp lý sẽ giảm được chi phí thức ăn và lợi nhuận cao hơn những nông hộ

không dùng thêm phân giai đoạn đầu. Theo kết quả khảo sát, ở các nông hộ của

huyện Tứ Kỳ sử dụng thức ăn công nghiệp trong hệ thống VAC năng suất nuôi cá

Rô phi đạt rất cao. Năng suất nuôi nhỏ nhất là 10,8 tấn/ha/vụ, năng suất nuôi lớn

nhất là 13,5 tấn/ha/vụ; năng suất trung bình 12,13 ± 0,12 tấn/ha/vụ[33.2].

Trong hệ thống VAC, phân được sử dụng làm thức ăn cho cá nhằm giảm chi phí

thức ăn. Đồng thời chăn nuôi gia súc, gia cầm cũng làm tăng thêm thu nhập trong

gia đình. Đa số người ni chỉ sử dụng phân hoặc phế phụ phẩm nông nghiệp và

thức ăn tự chế để nuôi cá Rô phi trong 1 - 2 tháng đầu, kể từ tháng thứ 3 trở đi cho

ăn thức ăn cơng nghiệp hồn tồn và chỉ bón thêm phân để gây màu nước (khi cần).

Có 92,54% nông hộ chỉ sử dụng thức ăn công nghiệp; chỉ một phần rất nhỏ

(chiếm 7,46%) sử dụng thức ăn công nghiệp kết hợp thức ăn tự chế. 100% số nông

hộ ni cá Rơ phi được phỏng vấn có sử dụng thức ăn cơng nghiệp, nếu chỉ sử dụng

mình thức ăn tự chế hoặc mình phụ phẩm sẽ khơng đủ chất dinh dưỡng trong khẩu

phần ăn của cá nên khơng có hộ nuôi nào sử dụng duy nhất thức ăn tự chế hoặc phụ

phẩm.



23



Hình 6: So sánh giá thức ăn giữa các hãng trong cùng độ đạm 25%

Thức ăn công nghiệp được sử dụng gồm nhiều hãng khác nhau là: Cargill, Minh

Tâm, Lái Thiêu, Usoong (Hàn Quốc), CP...trong đó thức ăn được sử dụng nhiều

nhất là cám Minh Tâm và Cargill. Từ biểu đồ nhận thấy, ở cùng độ đạm 25% thì

cám Lái Thiêu có giá thấp nhất và cám CP có giá cao nhất. Hầu hết các nơng hộ sử

dụng cám của 2 hãng Minh Tâm và hãng Cargill, lý do chọn 2 hãng này được các

nông hộ đưa ra là do cám của 2 hãng này có chất lượng rất tốt, giá thành hợp lý, phù

hợp mong muốn của người nuôi cá.

Thức ăn được thông qua 2 - 3 khâu phân phối từ đại lý cấp 1, cấp 2, đến cửa hàng

bán lẻ thức ăn. Hệ thống dịch vụ cung cấp thức ăn hoạt động tốt, cung cấp đủ số

lượng thức ăn cho người nuôi, với nhiều loại thức ăn và giá thức ăn bán tại các cửa

hàng là khác nhau; mỗi mức giá được người bán hàng áp dụng tại mỗi điểm là khác

nhau do sự khác nhau của các khâu trung gian. Ngồi ra, một số nơng hộ nuôi cá

đến cuối vụ nuôi cạn kiệt vốn đầu tư nên phải mua chịu cám với giá cao hơn giá

bình thường là 5000 đ/1bao 25 kg.

Sử dụng phân chuồng: Phân chuồng được các hộ nuôi ủ qua hoặc thả trực

tiếp xuống ao làm thức ăn và gây màu nước trước khi thả cá. Trong 2 tháng đầu,

người nuôi sử dụng 100% phân chuồng thả xuống ao và sử dụng thêm rất ít thức ăn

cơng nghiệp, từ tháng thứ 3 trở đi lượng phân chuồng cho xuống ao giảm dần, sử

dụng kết hợp thức ăn công nghiệp, kể từ tháng thứ 4 trở đi không sử dụng phân mà

sử dụng hồn tồn bằng thức ăn cơng nghiệp.

Thức ăn tự chế gồm: Ngơ, cám gạo nghiền nhỏ nấu chín...Những thức ăn này

không đảm bảo nhu cầu dinh dưỡng cho cá nên các hộ ni dùng loại thức ăn này là

phụ còn vẫn sử dụng chủ yếu là thức ăn công nghiệp.

24



Chi phí thức ăn cho ni cá Rơ phi là rất lớn. Theo kết quả điều tra, cám

Minh Tâm năm 2005 có giá 125.000 - 130.000 đ/bao25kg thì thời điểm tháng 5 năm

2007 đã có giá 150.000đ - 160.000 đ/1bao25kg. Trong khi giá cám ngày càng tăng

cao thì giá cá khơng tăng lên thậm chí còn giảm. Đây chính là một trong những khó

khăn cho người ni cá Rơ Phi.

Cũng vì chi phí thức ăn trong ni cá Rơ phi lớn, đòi hỏi vốn đầu tư cao nên

nhiều hộ nơng dân ni cá truyền thống có ít vốn khơng thể chuyển đổi sang nuôi cá

Rô phi hoặc ngần ngại khi chuyển sang nuôi cá Rô phi.

Thời gian nuôi và số vụ ni:



Hình 7: Thời gian và số vụ thả cá Rơ phi

Thông thường thời gian nuôi của các nông hộ huyện Tứ Kỳ là từ 4 - 8 tháng,

những nông hộ có ao ương để ương cá giống chỉ ni trong vòng 4 - 5 tháng/vụ,

ni 2 - 3 vụ/năm. Trong q trình ni, số nơng hộ chỉ ni 1vụ trong năm chiếm

tỷ lệ khá cao (64,18%); 31,34% nuôi 2 vụ và 4,48% ni 3 vụ. Có 62,69% nơng hộ

ni 6 tháng, 32,84% nông hộ nuôi từ 7 tháng trở lên, chỉ có 4,48% nơng hộ ni 4

tháng. Cá biệt có những hộ ni 12 tháng/vụ. Trung bình một vụ ni của các nông

hộ trong huyện Tứ Kỳ kéo dài 6 tháng. Thời gian nuôi cá Rô phi ngắn hơn rất nhiều

so với thời gian ni các lồi cá truyền thống, thơng thường các lồi cá truyền thống

phải ni 12- 16 tháng mới đạt kích cỡ bán thì cá Rơ phi chỉ trong thời gian ngắn có

thể thu hoạch (4- 8 tháng). Do thời gian nuôi ngắn nên nuôi cá Rô phi có thể quay

vòng vốn nhanh. Đây cũng chính là ưu điểm trong nuôi nghề nuôi cá Rô phi.

Những nông hộ thời gian nuôi kéo dài một phần do thả cá giống kích cỡ nhỏ và

thả cá giống muộn. Khi thả cá giống muộn đến mùa đông cá vẫn chưa đạt kích cỡ

thương phẩm nên phải ni qua đơng, trong mùa đông cá Rô phi sinh trưởng chậm

dẫn đến vụ nuôi kéo dài. Vụ nuôi bắt đầu từ tháng 3, tháng 4 và kết thúc vào tháng

25



10 đến tháng 12 (tính theo lịch âm). Như vậy để rút ngắn thời gian nuôi thương

phẩm, người nuôi cần chủ động con giống để thả đúng thời vụ tận dụng thời tiết ấm

trong mùa hè để cá sinh trưởng nhanh và thả cá giống kích cỡ lớn để rút ngắn thời

gian ni.

Kích cỡ thu hoạch: Sau khi nuôi khoảng 6 tháng (đối với những vụ thả cá giống cỡ

nhỏ) người nuôi bắt đầu thu hoạch, kích cỡ thương phẩm thường từ 300 g/con trở

lên. Kích cỡ thương phẩm đạt được sau 6 tháng nuôi tăng dần theo thời gian, vào

năm 2004 sau 6 tháng ni kích cỡ trung bình chỉ đạt 330 g/con, nhưng thời điểm

hiện nay kích cỡ ni đã đạt 500 g/con - 700 g/con. Điều này chủ yếu do kỹ thuật

nuôi và mức đầu tư cho nuôi cá Rô phi ngày càng cao [37.2].

Hiện nay, mức sống của người dân ngày càng cao, thị trường tiêu thụ cá Rô phi

được mở rộng. Đồng thời sản lượng cá Rô phi ngày càng lớn, yêu cầu của người

tiêu dùng đối với chất lượng cá Rô phi ngày càng cao hơn, chỉ những cá Rơ phi có

kích cỡ lớn mới có khả năng cạnh tranh để tiêu thụ ở các thị trường lớn như Hà Nội,

Hải Phòng, Quảng Ninh...Chính vì vậy người sản xuất phải đầu tư cho q trình

ni cá Rơ phi rất lớn và kỹ thuật ni ngày càng được hồn thiện hơn.

Hình thức và thời gian thu hoạch:



Bảng 7: Hình thức thu hoạch và thời gian thu hoạch cá Rô phi.

STT Thơng tin

1



2



Số lượng (người)



Phần trăm



N = 67



(%)

100



Thu tỉa



9



86,57



Thu tồn bộ

Thời gian thu hoạch:



58



13,43



Tháng 1 - 3



17



14,91



Tháng 4 - 6



27



23,68



Tháng 7 - 9



14



12,28



Tình hình thu hoạch:



Tháng 10 - 12

56

49,12

Sau khi cá ni đạt kích cỡ thương phẩm, người ni tiến hành thu hoạch

tồn bộ cá trong ao, có 13,43% nơng hộ thu tỉa và 86,57% nơng hộ thu tồn bộ.

Trong q trình ni nơng hộ thường xun kiểm tra kích cỡ cá trong ao, thời điểm

giá cá cao và cá đã đạt kích cỡ thương phẩm thì tiến hành thu hoạch tồn bộ, nếu cá

trong ao vẫn còn nhỏ sẽ nuôi thêm một thời gian rồi thu hoạch. Một số hộ vẫn thu

26



tỉa, thu hoạch tồn bộ cá kích cỡ lớn còn cá nhỏ cho thêm giống cỡ lớn vào để ni

vụ tiếp theo. Tuỳ từng nơng hộ để có các hình thức thu hoạch khác nhau. Tuy nhiên,

ở vụ đầu của năm thì có thể thu tỉa nhưng vụ cuối sẽ phải thu hoạch toàn bộ để cải

tạo ao thả cá giống vụ mới.



Hình 8: Thời điểm thu hoạch cá Rơ phi

Có 14,91% nơng hộ thu hoạch thời điểm tháng 1 - 3; 23,68% nông hộ thu hoạch

tháng 4 - 6; 12,28% nông hộ thu hoạch tháng 7 - 9; và có 49,12% nơng hộ thu hoạch

tháng 10 - 12. Hầu hết các nông hộ thu hoạch nhiều vào thời điểm tháng 10 - 12,

thời điểm này là do thông thường đến mùa đông cá đã nuôi từ 6 tháng trở lên, lúc

này hẩu hết cá đều đạt kích cỡ thương phẩm. Cá trong mùa đông vẫn phải cho ăn

nhưng chúng lại sinh trưởng chậm, có ni cũng lớn không đáng kể, khi cá đạt 500

gr/con nuôi sẽ chậm lớn hơn giai đoạn trước đó. Ngồi ra, các hộ nuôi đến thời

điểm này hầu như đã cạn kiệt vốn để đầu tư và muốn thu hoạch để cải tạo ao chuẩn

bị cho vụ nuôi mới nên cá được tập trung thu hoạch vào 3 tháng này. Từ kết quả

điều tra nhận thấy, hầu hết nông hộ thu hoạch tập trung trong thời điểm 3 tháng cuối

năm với khối lượng cá rất lớn trong khi thị trường tiêu thụ gần như cố định, cung

vượt cầu nên giá cá cũng thấp nhất vào thời điểm này.

Các nơng hộ có nhiều ao nuôi gối vụ (thường nuôi 2 - 3 vụ/năm) thu hoạch cá

quanh năm nhưng với khối lượng ít cá nên giá cá ở các tháng còn lại cao hơn 3

tháng cuối năm. Tuy nhiên vào tháng 1, tháng 2, tháng 3 âm lịch thời tiết vẫn còn rét

nên rất ít nông hộ kéo cá bán, giá cá 3 tháng đầu năm là cao nhất. 100% nông hộ

khẳng định giá cá cao nhất vào các tháng 1, 2, 3 và thấp nhất vào các tháng 10, 11,

12. Giá cá từ tháng 4 - 9 tương đối ổn định, tiêu thụ cá tháng 4 -6 tương đối khó

khăn, nguyên nhân chủ yếu là do đây là những tháng đầu hè nắng nóng, người tiêu



27



dùng ít mua cá ăn, chủ yếu ăn các lồi tơm, cua, ốc và các loại thịt lợn. Cá biệt năm

2006 giá cá vào tháng 7, tháng 8 rất cao.

Sự chênh lệch giá cá Rô phi giữa các tháng chủ yếu do tình trạng thu hoạch cá ồ ạt

vào tháng 10, 11, 12 và khan hiếm cá vào tháng 1, 2, 3.

Bệnh dịch và biện pháp phòng trừ

Mơi trường ni: Cá Rơ phi là lồi cá ăn tạp, do vậy việc nuôi cá Rô phi sử

dụng thức ăn công nghiệp trong hệ thống VAC sẽ tận dụng nguồn phân thải ra từ

các hệ thống chăn nuôi gia súc, gia cầm. Tuy nhiên việc thải phân trực tiếp từ các hệ

thống chăn nuôi xuống ao nuôi cá liên tục trong thời gian dài đã làm cho 1 số ao

nuôi cá bị phú dưỡng dẫn đến nguy cơ bị ô nhiễm cao.

Một số ao ni khó khăn về cấp nước do hạn chế của hệ thống kênh mương

nước. Tại một số vùng ni diện tích nhỏ lẻ, hệ thống thuỷ nơng hiện nay chỉ cấp

nước theo mùa vụ cấy lúa. Điều này gây khó khăn cho việc tăng mật độ thả cá và

những rủi ro về bệnh dịch cao.

Ngoài ra, một số vùng nuôi do phát triển tự phát nên không có kênh mương dẫn

nước, nguồn nước bị ơ nhiễm nghiêm trọng.

Tuy nhiên, kết quả điều tra cho thấy có 88,06% nông hộ trong tổng số phiếu điều

tra trả lời trong 5 năm gần đây thấy Rô phi không mắc bệnh hoặc dịch bệnh lớn. Chỉ

có 11,94% trả lời thấy cá Rô phi chết rải rác 1 vài con ở 1 số ao có nguồn nước

khơng thể lưu thơng.

Khả năng đầu tư của người dân và tham gia đào tạo tại chỗ

Theo kết quả khảo sát tại các nông hộ nuôi cá Rô phi, hầu hết các nông hộ sử

dụng nguồn vốn của gia đình đồng thời vay thêm vốn để đầu tư (đầu tư mua sắm

trang thiết bị nuôi, đào ao, chi phí mua thức ăn, mua con giống...). Chủ yếu vay vốn

ngân hàng, trung bình mỗi lần ngân hàng cho vay tối đa 30 triệu, lãi suất 1- 1,2%.

Lượng vốn tối đa ngân hàng cho vay không đủ để đầu tư nên nông hộ vẫn phải vay

thêm vốn từ các nguồn khác nhau, thường vay trong thời gian cuối vụ ni và vay

nguồn vốn này có thể dễ dàng hơn vay ngân hàng.

Theo điều tra có tới 100 % nông hộ được phỏng vấn trả lời đã tham gia tập huấn

về NTTS ở địa phương, khơng có nơng hộ nào trả lời chưa tham gia lớp tập huấn

nào. Đặc biệt có những hộ ni cá lâu năm và ni diện tích lớn đã được tham gia

một số lớp tập huấn ở trên tỉnh Hải Dương và ở Viện I, một số nơng hộ còn đi tham

28



quan các mơ hình điểm ở các nơi để học tập kinh nghiệm và kỹ thuật nuôi. Đa số

nông hộ khẳng định chất lượng lớp tập huấn rất tốt, đem lại hiệu quả tốt cho họ

trong nuôi cá, tuy nhiên các nông hộ cũng cho biết có nhiều kỹ thuật họ vẫn chưa áp

dụng vào trong q trình ni.

Như vậy, đa số người dân ni cá Rơ phi ở huyện Tứ Kỳ đã có đầu tư về vốn

cũng như học tập và áp dụng các kỹ thuật nuôi cá Rô phi để đem lại hiệu quả kinh tế

cao.

Nhận định chung của các nông hộ nuôi cá Rô phi:



Bảng 8: Một số nhận định của nông hộ nuôi Rô phi

STT Thông số

1

Giá cá 5 năm gần đây:



2



3



4



Số lượng (người)

67



Phần trăm

100



Biến động



31



46,27



Ổn định

Giá cá năm 2007 so với năm 2006:



36

67



53,73

100



Cao hơn



51



76,12



Thấp hơn



0



0



Ổn định

Khả năng tiêu thụ:



16

67



23,88

100



Dễ



52



77,61



Bình thường

Xu hướng tiêu thụ thời gian tới:



15

67



11,39

100



Tăng



34



50,75



Ổn định

33

49,25

46,27% nông hộ nhận xét giá cá Rô phi những năm gần đây rất ít biến động,

53,73% nơng hộ khẳng định giá cá ổn định. Giá cá cao nhất năm 2004 và thấp nhất

năm 2006. Tuy nhiên tất cả các nông hộ được phỏng vấn đều trả lời chi phí thức ăn

và con giống ngày càng cao, giá cá tăng ít thậm chí không tăng so với những năm

trước nên lợi nhuận thu được là không đáng kể.

100% số nông hộ được phỏng vấn đều trả lời sản lượng cá Rô phi liên tục tăng

nhanh trong 2 năm gần đây và diện tích nuôi cá Rô phi trong huyện cũng ngày càng

được mở rộng. Chính ngun nhân diện tích ni ngày càng mở rộng, năng suất

nuôi cao nên sản lượng thu được ngày càng gia tăng trong khi thị trường tiêu thụ

gần như cố định, chưa mở rộng được thị trường mới đã làm cung vượt cầu quá lớn.

Dẫn đến giá cá Rô phi không ngừng hạ xuống đồng thời giá các chi phí cho quá

29



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Tình hình NTTS tại huyện Tứ Kỳ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×