Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
3 Thị trường cá Rô phi Việt Nam và trên thế giới

3 Thị trường cá Rô phi Việt Nam và trên thế giới

Tải bản đầy đủ - 0trang

đã ngày càng có nhiều người tiêu dùng ưa thích. Tại nhiều địa phương cá Rơ phi có

kích cỡ từ 400g/con trở lên được tiêu thụ nhiều, là một trong những sản phẩm thuỷ

sản nước ngọt ưa chuộng của người tiêu dùng.

Theo số liệu thu được trong các đợt điều tra cho thấy, sản lượng cá Rô phi năm

2004 của khu vực ĐBSH đạt 8.268 tấn xong tiêu thụ chủ yếu ở nội địa với mức giá

khá cao. Cá Rô phi thương phẩm bán lẻ tại Hải Dương và Hà Nội là 17.000đ/kg và

20.000đ/kg loại trên 400g/con. Cũng kích cỡ này tại Quảng Ninh có giá 21.000đ/kg.

Giá cá Rơ phi thương phẩm có sự thay đổi theo kích cỡ cá, theo từng vùng và mùa

vụ với cỡ cá dưới 0,3 kg/con giá từ 4.000 - 13.000 đồng/kg, trên 0,4 kg/con dao

động từ 15000 - 20.000 đồng/kg [6]

Thị trường xuất khẩu: Nước ta trong những năm gần đây đã bước đầu thâm

nhập được vào thị trường xuất khẩu với thị phần còn vơ cùng khiêm tốn, bao gồm 2

mặt hàng chính là cá nguyên con đông lạnh và phi lê đông lạnh. Xuất khẩu cá Rô

phi chỉ tập trung ở một số tỉnh phía Nam như Long An (3.450 tấn), Trà Vinh (440

tấn), An Giang (2.802 tấn). Năm 2004, sản phẩm cá Rô phi xuất khẩu là 1.041 tấn,

kim ngạch đạt 2,12 triệu USD. Thị trường xuất khẩu lớn nhất là EU (đặc biệt là Bỉ,

Anh, Pháp). Giá trung bình xuất khẩu trong năm 2004 là 2,04 USD/kg [1.7]

Bảng4: Sản lượng và giá trị xuất khẩu cá Rô phi của Việt Nam vào 1 số nước năm

2004.

Quốc gia

Sản lượng(tấn) Giá trị (USD) % Lượng

% Giá trị

Mỹ

61.1

78,000

5,8

3,7

Hồng Kông

24

47,300

2,3

2,2

Australia

1,2

2,400

Đài Loan

1,5

3,760

EU

953

1,990.000

91,6

93,92

(Nguồn: Bản tin viện I - t1, 2007).

Trong năm 2005, theo báo cáo của các địa phương chỉ có 6 trong tổng số 64 tỉnh

thành báo cáo có xuất khẩu cá Rơ phi với tỷ lệ từ 5 - 6% sản lượng cá Rô phi nuôi.

Khối lượng cá Rô phi xuất khẩu tới các thị trường đạt 869 tấn, kim ngạch đạt 1,90

triệu USD. Xuất khẩu cá Rô phi vào Mỹ đạt 268 tấn, trị giá 658.659 USD (chiếm

30,92% về lượng và 34,58% về giá trị), xuất khẩu vào thị trường EU đạt khối lượng

580 tấn, trị giá gần 1,16 triệu USD (chiếm 66,7% về lượng và 61,35% về giá trị) có

thể nói xuất khẩu cá Rô phi vào thị trường EU tiến độ khá tốt. Giá xuất khẩu trung

bình năm 2005 là 2,19 USD/kg. Giá cá Rô phi cuối tháng 1/2006 xuất sang pháp và



8



Bỉ cá đông lạnh nguyên con là 1,85 USD/kg, sang Mỹ philê cá Rô phi đông lạnh là

2,318 USD/kg [1.7]

Nhìn chung nước ta ni cá Rơ phi còn rất rải rác, chưa có vùng ni tạo sản

phẩm tập trung, khơng hình thành được đầu mối thu gom và tiêu thụ lớn, khả năng

cung ứng kịp thời và liên tục cho xuất khẩu còn rất hạn chế.

2.3.2 Thị trường cá Rô phi trên thế giới:

Thị trường cá Rô phi trên thế giới tăng nhanh trong hai thập kỷ gần đây, ước tính

trong vòng 5 năm qua, nhu cầu nhập khẩu cá Rô phi tăng khoảng 36%/năm. Đứng

đầu các nước nhập khẩu cá Rô phi là Mỹ, tiếp theo là Nhật Bản, Châu Âu và 1 số

nước Ả Rập [1]

Thị trường Mỹ: Mặc dù Mỹ là quốc gia sản xuất cá Rô phi nhưng do nhu

cầu tiêu thụ cá Rô phi trong nước cao nên Mỹ đã phải nhập khẩu cá Rô phi

(Vanuccini, 2001). Ngày nay Mỹ là quốc gia nhập khẩu cá Rô phi đứng đầu thế giới,

sản lượng nhập khẩu liên tục tăng. Năm 1992 sản lượng nhập khẩu đạt 3.400 tấn tới

năm 2000 lên tới 40.469 tấn, năm 2001 là 56.246 tấn tăng 39% so với năm 2000.

Giá trị nhập khẩu năm 2001 tăng 26% so với năm 2000, đạt 127,8 triệu USD. và

năm 2004 tăng lên 112.939 tấn, trị giá 297 triệu USD. Năm 2005, Mỹ nhập khẩu

135.000 tấn cá Rô phi, giá trị trên 393 triệu USD, trong đó 55.615 tấn Rơ phi đơng

lạnh còn lại là cá tươi [25.22]. Năm 2006, nhập khẩu và tiêu thụ cá Rô phi của Mỹ

tiếp tục tăng lên tới 360.000 tấn nguyên liệu (158.000 tấn sản phẩm), đưa mức tiêu

thụ đầu người lên 1,2 kg [21.41]. Trong vòng 10 năm, mức tiêu thụ cá Rơ phi tính

theo đầu người tăng gấp 3 lần, năm 1993 mức tiêu thụ cá Rơ phi bình qn ở Mỹ là

0,08 kg/người/năm, năm 1998 là 0,19 kg/người/năm và năm 2004 là 0,24

kg/người/năm.. Năm 2000, cá Rơ phi đứng vị trí thứ 11 trong danh mục các sản

phẩm thuỷ sản được ưa chuộng tại Mỹ, đến năm 2002 vươn lên vị trí thứ 9, năm

2003 vương lên vị trí thứ 8 và năm 2004 đứng vị trí thứ 6 trong danh mục những

sản phẩm thuỷ sản được ưa chuộng nhất tại Mỹ [11.45].

Các dạng sản phẩm nhập khẩu chủ yếu vào Mỹ là: cá phi lê tươi, cá phi lê đông

lạnh, đông lạnh nguyên con. Năm 2004, Mỹ nhập khẩu 19.480 tấn cá Rô phi tươi,

ướp lạnh, phần lớn là sản phẩm phi lê có nguồn gốc từ Ecuado 10.163 tấn, Coxta

Rica 4.090 tấn và Hônđurat 4.042 tấn [13.15]. Năm 2007, Ecuado dẫn đầu xuất

khẩu phi lê cá Rô phi tươi vào Mỹ, Ecuado tiếp tục giữ vị trí số 1 về xuất khẩu phi

9



lê cá Rô phi tươi vào Mỹ, tiếp sau là Hôndurat. Theo con số tổng kết năm 2006,

Ecuado là nước có tốc độ tăng trưởng nhanh nhất trên thị trường Mỹ. Ecuado xuất

khẩu 10,2 triệu kg sản phẩm này trong năm 2004; 10,6 triệu kg năm 2005 và xuất

khẩu năm 2006 đạt 10,9 triệu kg [22.48].

Khu vực Châu Á cung cấp chủ yếu cá Rô phi vào Mỹ, đặc biệt là Trung Quốc

và Đài Loan. Năm 2000, sản lượng nhập khẩu vào Mỹ từ Đài Loan (chiếm 43%),

tiếp đến là Trung Quốc (33%), Inđơnêxia (3%). Ngồi ra còn một số nước Châu

Mỹ: Ecuado (9%), Coxta Rica (7%), Honduras (3%). Tuy nhiên, từ năm 2000 đến

nay sản lượng nhập khẩu từ Trung Quốc tăng nhanh đưa nước này đứng vị trí hàng

đầu về xuất khẩu cá Rô phi vào thị trường Mỹ (với 53% tổng sản lượng nhập khẩu

của Mỹ); Đài Loan giảm xuống vị trí thứ 2 chiếm 25%; Inđơnêxia 4%

Thị trường Châu Âu: Châu Âu là thị trường còn rất non trẻ, có tiềm năng rất

lớn, chiếm gần 20% thị phần.

Trong đó, Anh là nước nhập khẩu cá Rơ phi nhiều nhất châu lục này. Ngoài ra,

Pháp, Bỉ, Đức, Hà Lan cũng là thị trường tiêu thụ cá Rô phi lớn. Các quốc gia như:

Úc, Italia, Thụy Điển, Thụy Sỹ, Đan Mạch cũng tiêu thụ cá Rô phi nhưng với số

lượng nhỏ. Cá Rô phi được tiêu thụ tại các thành phố lớn Châu Âu nơi có người

nhập cư từ Châu Phi; Châu Á và Trung Quốc. Gần đây người Châu Âu đang chuyển

sang ăn cá Rô phi. Một loạt các siêu thị lớn đã thử bán cá Rô phi và các nhà hàng

bắt đầu bán cá Rô phi, dấu hiệu tiêu dùng có dấu hiệu gia tăng. Người Châu Âu

đang tìm kiếm nhà cung cấp cá Rơ phi để thay thế sản lượng đánh bắt bị suy giảm.

Hiện tại các nước này đang nhập khẩu cá Rô phi chủ yếu từ Đài Loan (chiếm tới

80% sản lượng) [6].

Ngoài ra còn nhập khẩu từ 1 số nước: Inđơnêxia, Trung Quốc, Thái Lan,

Malayxia, Việt Nam, Costa Rica, Jamaica. Gần đây có thêm: Uganda, Tanzania,

Kenya và Zimbabue[6].

Thị trường Châu Á: Thị trường Châu Á và thị trường Trung Đông cũng

được đánh giá là các thị trường có tiềm năng trong tương lai. Nhật Bản, Hàn Quốc

nhập khẩu cá Rô phi trực tiếp từ các nước Châu Á. Các nước xuất khẩu cá Rô phi

sang Nhật là Đài Loan, Inđônêxia và Thái Lan. Thị trường Nhật Bản chuyên tiêu

thụ các sản phẩm cá Rô phi ở dạng phi lê tươi hoặc phi lê đông lạnh.



10



Các nước Ả Rập được xem là thị trường tiềm năng tiêu thụ cá Rô phi. Hiện tại

các nước này nhập khẩu cá Rô phi từ Ai Cập. Các nước như Saudi Arabia, Kuwait,

Jordan và Qatar nhập khẩu cá Rô phi từ Đài Loan (Snir và ctv,2002).

Canada: Sản lượng tiêu thụ cá Rô phi ở thị trường Canada mấy năm gần đây

tăng dần. Sản lượng tiêu thụ ở đây được cung cấp từ 2 nguồn: Sản lượng nội địa và

nhập khẩu từ các nước như Mỹ, Costa Rica và Jamaica (Vanuccini, 2001; Snir và

ctv, 2002).

2.4 Phương pháp nghiên cứu thị trường

2.4.1 Định nghĩa thị trường

Theo Ianchaston (1987), thị trường được chia thành 2 dạng cơ bản là thị

trường công nghiệp và thị trường tiêu thụ, sức mua sản phẩm do thị hiếu riêng của

người tiêu dùng quyết định. Trong thị trường cơng nghiệp, sức mua có liên quan đến

các mục tiêu kinh tế và việc sử dụng các sản phẩm để tạo ra lợi nhuận.

2.4.2 Các bước nghiên cứu thị trường

Phương pháp nghiên cứu thị trường: Theo Nguyễn Văn Thường và ctv

(1992), phương pháp nghiên cứu thị trường bao gồm các bước sau:

+ Bước 1: Thu thập thông tin:

+ Thơng qua nghiên cứu tài liệu có sẵn để thu thập những thông tin cần thiết,

phương pháp này sử dụng các số liệu thống kê như những thông tin quan trọng nhất,

dựa trên cơ sở đó có thể đánh giá khái qt tình hình phát triển kinh tế nói chung sự

phát triển của các ngành, các lĩnh vực kinh tế và bao quát thị trường.

+ Thông qua nghiên cứu thực địa để thu thập thông tin bằng cách quan sát

trực quan, liên hệ, phỏng vấn các thương nhân và người tiêu dùng. Nội dung chủ

yếu của phương pháp này là tiến hành điều tra đặc biệt về người tiêu dùng. Trong

trường hợp số lượng người tiêu dùng không đủ lớn có thể điều tra tồn bộ, nếu

khơng phương pháp điều tra trên các mẫu sẽ được áp dụng.

Các kết quả của mẫu cho phép suy đoán trên các mẫu sẽ được áp dụng. Các kết

quả của mẫu cho phép suy đốn về tổng thể, do đó mẫu cần phải được chọn theo

đúng phương pháp để đại diện cho tổng thể. Có 2 phương pháp phổ biến để chọn

mẫu điều tra là:

<1> Chọn mẫu ngẫu nhiên hoàn toàn: Các mẫu trong tổng thể được chọn theo

cách ngẫu nhiên mà không qua sự sắp xếp nào trước, ví dụ như rút thăm.

11



<2> Chọn mẫu ngẫu nhiên theo hệ thống: Cũng là cách chọn ngẫu nhiên nhưng

các mẫu được chọn theo khoảng cách hoặc 1 quy tắc nhất định, ví dụ: Chọn các

mẫu có số thứ tư 5, 10, 15...Các phương pháp điều tra phổ biến gồm có phỏng vấn

bằng thư, điện thoại hay phỏng vấn trực tiếp bằng các biểu mẫu điều tra đã được

chuẩn bị trước và đã hiệu chỉnh sau lần điều tra thử.

+ Bước 2: Xử lý thông tin:

Xử lý thông tin là giai đoạn quan trọng trong việc nghiên cứu thị trường. Mục đích

của nó là trên cơ sở những thơng tin đã được thu nhận về tình hình thị trường, người

sản xuất cần xác định cho mình những thơng tin đã được thu nhận về tình hình thị

trường, người sản xuất cần xác định cho mình thị trường mục tiêu, chuẩn bị cho các

chính sách Marketing thích ứng với tình hình thị trường đó. Nội dung chủ yếu của

việc xử lý thông tin là:

+ Xác định thái độ chung của người tiêu dùng đối với sản phẩm của người

sản xuất (xí nghiệp).

+ Lựa chọn các thị trường mục tiêu mà xí nghiệp có khả năng thâm nhập và

phát triển việc tiêu thụ của mình

2.5 Đặc điểm vùng nghiên cứu

2.5.1 Điều kiện tự nhiên

2.5.1.1 Vị trí địa lý

Huyện Tứ Kỳ là một trong 12 đơn vị hành chính của tỉnh Hải Dương. Nằm

giữa vùng Châu thổ Sông Hồng từ 106 015 đến 106027 kinh độ Đông và 21048 đến

21055 vĩ độ Bắc. Phía Bắc giáp thành phố Hải Dương, phía Tây giáp huyện Gia Lộc,

phía Đơng và Đơng Bắc giáp huyện Thanh Hà, phía Tây Nam giáp huyện Ninh

Giang và phía Nam giáp Hải Phòng.

Tứ Kỳ nằm dọc theo trục tỉnh lộ 191, nối quốc lộ 5 và quốc lộ 10 đi Hải

Phòng và Thái Bình, cách Hà Nội 60 km về phía Tây Bắc, cách Hải Phòng 40 km

về phía Nam và Đơng Nam, cách thành phố Hải Dương 14 km về phía Tây Bắc.

Lãnh thổ của Huyện được bao bọc bởi 2 con sông: sông Thái Bình, sơng Luộc và hệ

thống thuỷ nơng Bắc Hưng Hải (gồm sông Tứ Kỳ và sông Cầu Xe). Tứ Kỳ có vị trí

thuận lợi trong giao lưu kinh tế với các đơ thị lớn như Hà Nội, Hải Phòng, Hạ Long,

Hải Dương và với các tỉnh ĐBSH, các tỉnh miền núi phía Bắc.



12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

3 Thị trường cá Rô phi Việt Nam và trên thế giới

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×