Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
5 CÁC NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC THẢI NUÔI TÔM BẰNG BIỆN PHÁP SINH HỌC

5 CÁC NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC THẢI NUÔI TÔM BẰNG BIỆN PHÁP SINH HỌC

Tải bản đầy đủ - 0trang

31



Tại Thái Lan người ta đã sử dụng vẹm xạnh (perna viridis) bám trên các thanh tre và

cho vào khu vực nước thải từ các khu vực nuôi tôm ra vịnh Thái Lan (Lin et al., 1993)

Tại Malasia Enander và cộng sự, 1994 đã sử dụng sò (Scappharca imaeguivalví) và

rong biển (Gracilaria spp.) để xử lý nước thải sau khi nuôi tôm tại tỉnh Kota Bharru

cho hiệu quả giảm Amoni, tổng N, tổng P tương ứng là 61 ; 72 ; và 61%.

Nhóm tác giả Toru SHIMODA , Emma SURYATI and Taufic AHMAD đã nghiên

cứu áp dụng quy trình ni tơm có tính đến việc xử lý nguồn nước sau khi

nuôi tôm thấm canh bằng các đối tượng sinh học trong đó sử dụng sò

(Crassostrea iredalei), rong biển (Gracillaria sp.) cây đước (Rhizophora sp.)

sau 15 ngày xử lý nguồn nước được tuần hồn lại cho ao ni đạt hiệu quả

cao. Cơ chế của việc xử lý là quá trình lọc tảo của sò, có sự tương tác giữa

ammonia-tảo-sò. Bằng chứng là thực vật phù du đã phát triển mạnh trong

ao nuôi tôm , trong khi số lượng của chúng trong ao ni sò lại rất thấp,

chứng tỏ sò đã sử dụng thực vật phù du làm thức ăn để sinh trưởng.



32



Hình 1-5: Sơ đồ bố trí khu ni tơm có sử dụng các đối tượng sinh học để xử lý nguồn

nước sau khi nuôi và tái sử dụng cho các ao nuôi của Toru SHIMODA,Emma

SURYATI and Taufic AHMAD tại Indonesia [luan văn tiến sĩ Úc]

Theo nghiên cứu của Adrian B. Jones thuộc trường đại học Queensland Australia, khả

năng lọc thực vật phù du, vi khuẩn, tổng Nitơ, tổng Photpho, và tổng rắn lơ lửng của

sò Saccostrea commerciallis lần lượt là 5%, 32%, 67%, 63% và 11% so với nồng độ

ban đầu. Tuy nhiên thơng qua q trình bài tiết thì cũng sẽ làm tăng hàm lượng các

dưỡng chất trong nước: ammonia sẽ tăng từ 18-51µM, nitrat/nitrit tăng từ 1,0-13µM

và photphat tăng từ 0,5-3,3 µM. Tuy nhiên, các dưỡng chất này lại bị hấp thu một

lượng đáng kể bởi các loại tảo (Gracilaria edulis), tỉ lệ giảm lần lượt cho amonia là

2,3%, nitrat/nitrit là 2,2% và photphat là 4,8%. Tốc độ chuyển hóa ammonia thành

nitrat/nitrit giảm đáng kể, điều này có tác dụng tích cực cho việc tuần hồn nước tại

các ao nuôi tôm, giảm tác động đến nguồn tiếp nhận.

Tại Thái Lan đã sử dụng biện pháp xử lý nước thải sau khi nuôi tôm bằng các đối

tượng sinh học là sò, rong câu sau đó qua lọc cát và cấp lại cho ao nuôi.

1.5.2 Các nghiên cứu trong nước:

Tại Trà Vinh người dân đã ni sò huyết trong các ao tôm quảng cạnh cho hiệu

quả cao về kinh tế hay tại hay tại Bạc Liêu một số hộ dân đã áp dụng cách ni tuần

hồn nước, nước sau khi nuôi được chuyển sang rạch xử lý ở đây người dân để cho

thực vật phát triển một cách tự nhiên sau khoảng 15 ngày có thể sử dụng nguồn nước

này cấp cho ao ni. Mặc dù đã có kết quả nhất định tuy nhiên việc áp dụng cách thức

nuôi mang tính dân dã và tự phát; do hạn chế về các kiến thức và hiểu biết tổng thể

nên nhiều hộ áp dụng không cho kết quả nếu chỉ sử dụng nhuyễn thể thả trực tiếp vào

các ao nuôi với mật độ lớn sẽ tăng yếu tố bất lợi cho tôm trong ao nuôi nhất vào thời

gian ban đêm khi ao ni ở tháng thứ 2 trở đi vì lúc này cả tôm, nhuyễn thể và thực

vật đều sử dụng oxy. Với cách thức chỉ đưa nước ra kênh xử lý để thực vật phát triển

sau đó tái sử dụng làm nước cấp mặc dù kết quả xét nghiệm của chúng tôi cho thấy

các chất ô nhiễm nằm ở mức rất thấp khơng có khả năng gây độc cho tơm ni tuy

nhiên hiện tượng nước nở hoa đã thấy xuất hiện nếu nguồn nước này được đưa vào



33



trong ao nuôi thực vật lại có điều kiện phát triển sau một thời gian chết đi nhanh chóng

sẽ làm chất lượng nước trong ao ni xấu đi.[tài liệu tham khảo]

Nguyễn Chính và các cộng sự đã nghiên cứu sử dụng thực vật nước và vẹm xanh để

xử lý nước cho các ao nuôi tôm tại Nha Trang Khánh. Kết quả cho thấy mùn bã hữu

cơ, là thức ăn rất cơ bản của vẹm cũng như đối với những loại động vật thân mềm hai

vỏ.

Bảng 1-8. Khả năng làm trong nước và loại bỏ mùn bã hữu cơ của vẹm xanh

Số lần



Ðộ trong (cm)



Mức tăng độ trong (cm)



Thời gian



1



10



15h15



2



17,5



7,5



15h45



3



24,5



7



16h45



4



40



15,5



18



Nguồn: Nguyễn Chính và cộng sự

Các nghiên cứu thực nghiệm khi thả vẹm xanh vào ao nuôi tôm cho thấy vẹm xanh

phát triển rất tốt tuy nhiên đối tượng này bị chết khi độ mặn giảm xuống dưới 15‰

Kết quả nghiên cứu bước đầu tại phòng thí nghiệm Trung tâm NC Mơi trường và Xử

lý nước nhằm đánh giá khả năng chịu đựng của sò huyết cho thấy: Trong mơi trường

ni “hồn tồn tĩnh”, độ mặn từ 10-28 ‰ sò huyết tồn tại và phát triển bình thường.

Kết quả nghiên cứu khả năng lọc thực vật phù du của sò huyết cũng cho thấy với 6 sò

kích thước 150 con/kg trong 100l nước mật độ tảo ban đầu là 120x10 4tb/l sau 12 giờ

loại bỏ được 63%.

1.4

2.1



CÁC ĐẶC TÍNH CHUNG CỦA SỊ HUYẾT



Phân bố:



Sò huyết tên khoa học là Tegillaca granosa (Anadara granosa), là loài động vật thân

mềm. Sò huyết tự nhiên chủ yếu phân bố tại các vùng vịnh vừa và nhỏ có thuỷ triều

lên xuống, gần cửa sơng nơi có nước ngọt chảy vào. Chúng phát triển mạnh nhất tại



34



những vùng vịnh lớn nhưng cửa vịnh nhỏ. Sò huyết thường sống nơng, thích hợp với

điều kiện sống tĩnh, chất nước ổn định.

Ở Việt nam chúng phân bố ở rộng rãi ở tất cả các vùng nhưng nhiều nhất ở các tỉnh từ

miền trung và nam bộ, trong các thuỷ vực đầm phá, cửa sông, bãi bồi, ao hồ có nền

đáy bùn hoặc bùn pha cát

2.2



Sinh sản



Sò huyết là lồi nhuyễn thể thụ tinh ngồi. Sò huyết thành thục và có khả năng sinh

sản khi được hai năm tuổi. Thời gian sinh sản của chúng không giống nhau nhất là khi

được nuôi tại các vùng duyên hải khác nhau.

Trong một năm chúng có khả năng sinh sản nhiều lần. Khi còn là ấu trùng, sò huyết

sống bằng cách ăn các sinh vật phù du trong nước biển, khi đã lớn hơn chúng di

chuyển xuống sống ở tầng đáy.

2.3



Các điều kiện sống của sò huyết:



Sò huyết có thể sống ở mơi trường có nhiệt độ dao động từ 0 - 40 oC, nhiệt độ thích

hợp nhất là 15 - 30oC.

Ðộ mặn phù hợp là 6,5 - 29ppt. Nếu độ mặn của nước thấp hơn 3,8 hoặc cao trên 33

ppt sẽ làm ảnh hưởng tới khả năng sống của sò, thậm chí sò có thể bị chết.

Sò huyết ưa sống ở vùng bùn cát, bằng phẳng, bề mặt mềm, mịn. Bảng điều tra dưới

đây cho thấy sò thích sống nhất ở nơi có chất đáy là bùn cát, thứ đến là bùn nhão, sống

ít hoặc khơng sống tại nơi có chất đáy nhiều cát ít bùn.

Bảng 1-6:Phân bố của sò huyết theo thành phần nền đáy



Bùn



Cát



Số lượng sò phát hiện

(con/m2)



Bùn nhão



90



10



61



Bùn cát



70



30



831



Cát bùn



20



80



0



Chất đáy



Tỷ lệ (%)



35



Cát bùn



30



70



5



Nguồn: http://www.vietlinh.com.vn/kithuat/thuysankhac/sohuyet/sohuyet1.htm

Sò huyết có thể sống tại cả ba khu vực: Nơi có thuỷ triều cao, thuỷ triều vừa và thuỷ

triều thấp. Nhưng số lượng của sò huyết tại ba khu vực này rất khác nhau. Theo điều

tra của nhóm tác giả thì khu vực thuỷ triều vừa và thấp có sò huyết sống nhiều hơn cả.

Bảng 1-7: Phân bố của sò huyết theo vùng triều (con/m2)

STT



Vùng cao triều



Vùng triều



Vùng chân triều



1



0



165



395



2



5



831



95



3



89



61



12



4



45



203



285



TC



139



1.260



760



Nguồn: http://www.vietlinh.com.vn/kithuat/thuysankhac/sohuyet/sohuyet1.htm

2.4



Thành phần thức ăn của sò huyết.



Đây là loại động vật ăn lọc (ăn lọc nhiều lần), khơng có khả năng chủ động kiếm mồi

và chọn lọc thức ăn mà hồn tồn phụ thuộc vào nguồn thức ăn có xung quanh nó.

Trong thành phần thức ăn của nghêu sò sống trong tự nhiên chủ yếu là mùn bã hữu cơ

khoảng 69%, thực vật phù du là 17,1%, động vật phù du 0,9%.

Các kết quả khảo sát ni trong phòng thí nghiệm cho thấy sò huyết có thể sinh trưởng

và phát triển trong mơi trường ni hồn tồn bằng tảo.

Các kết quả theo dõi khả năng lọc bỏ tảo Tetraselmis sp. trong phòng thí nghiệm cho

thấy trong vòng 12h chúng có thể lọc bỏ được khoảng 50% lượng thực vật phù du với

thể tích 1con sò/16L nước.

1.6



CƠ CHẾ LỌC TẢO CỦA SỊ HUYẾT



Do cấu tạo mang của sò huyết (nhuyễn thể hai vỏ) dạng hình tấm đăng, nên còn có tên

là động vật lớp mang tấm (Lamellibranchia): Gồm những tơ mang sắp xếp hai bên

trục mang trong đó có 3 loại tơ mang là tơ mang chính (tơ mang gốc), tơ mang phụ



36



bên và tơ mang. Trên mỗi tơ mang có các loại tiêm mao: tiêm mao bên trước, tiêm

mao trước, tiêm mao bên. Nước vào mang, mang theo thức ăn nhờ sự vận động của

tiêm mao thức ăn được chuyển đến xúc biện và theo đường dẫn thức ăn vào miệng.

Sự chọn lọc thức ăn theo tính chất vật lý. Những hạt nhẹ, nhỏ, mịn được đưa đến

miệng, những hạt thô, nặng rơi xuống mép màng áo (mantle) và được đưa ra ngồi.

[Nguyễn Chính và cộng sự]

Trong hệ sinh thái, nhuyễn thể hai vỏ sử dụng thực vật phù du, vi khuẩn, protozoa và

căn hữu cơ làm thức ăn (Dame, 1996). Khả năng lọc thực vật phù du của chúng là rất

cao (Jorgensen, 1966), tốc độ lọc xảy ra nhanh hơn quá trình sinh sản và phát triển

của thực vật phù du (Cloern, 1982). Tuy nhiên, thông qua con đường bài tiết chúng lại

chuyển hóa khống chất thành chất dinh dưỡng, làm tăng khả năng sinh sản và phát

triển của thực vật phù du. Bằng cách này chúng đóng vai trò quan trọng trong chu

trình tuần hồn chất dinh dưỡng. [Luận văn tiến sĩ Úc]

Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng lọc là: tốc độ dòng chảy của nước (Walne, 1972),

nhiệt độ (Loosanoff & Tommers, 1948; Angell 1986). Theo Angell, điều kiện tối ưu

cho quá trình lọc của nhuyễn thể là ở nhiệt độ 30oC và độ mặn là 15-35‰.

Theo nghiên cứu của Qisheng Tang, Janguang Fang, trung bình một con sò Chlamys

fareri (có kích thước từ 5-6cm) có thể lọc được 11mg POC/ngày. Hơn thế nữa khả

năng lọc của sò sẽ tăng nếu đạt được nhiệt độ tối ưu. Ví dụ, một con sò có kích thước

3-4cm, 4-5cm, 5-6cm có khả năng lọc lần lượt là 60L, 100L và 120L nước trong 24

giờ. Một con sò Chlamys fareri (có kích thước 5cm) có thể làm giảm số lượng thực

vật phù du từ 8800 tb/L xuống còn 200 tb/L trong vòng 1 giờ với thể tích nước là 3L.

[bài báo TRung Quốc]



37



Chương II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1



PHƯƠNG PHÁP LUẬN



Phương pháp nghiên cứu là nguyên tắc và cách thức hoạt động khoa học nhằm đạt tới

chân lý khách quan dựa trên cơ sở chứng minh khoa học. Theo định nghĩa này cần

phải có những nguyên tắc và phương pháp cụ thể mà dựa vào đó các vấn đề được giải

quyết. Do đó, phương pháp nghiên cứu sẽ dựa trên nền tảng nghiên cứu xây dựng mơ

hình thực tiễn nhằm quản lý nguồn nước và bảo vệ môi trường nước, đánh giá tác

động tới môi trường nước của vùng nuôi tôm tác động tới môi trường cụ thể, đề ra các

giải pháp giảm thiểu những tác động tiêu cực và phát huy những mặt tích cực nhằm

phát triển kinh tế song song bền vững môi trường.

2.2 PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN

2.1.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu

Sau khi khảo sát tại các vùng nuôi tôm đã lựa chọn được điểm để đặt mơ hình nghiên

cứu tại Xã tân Duyệt huyện Đầm Dơi tỉnh Cà Mau.



Hình 2-3: Sơ họa khu đặt điểm thí nghiệm



38



Khu ni có 3 ao ni diện tích từ 2.000 – 2.200 m 2, một ao lắng (sử dụng làm ao xử

lý) và ao chứa nước dự trữ có diện tích là 2000m 2, ao lắng bùn được tận dụng từ rãnh

thải của chủ hộ đã được đào từ trước. Trong ao xử lý thả sò huyết giống loại từ 1000 –

2000 con/kg mật độ ước tính khoảng 80con/m2 .

Ao ni thí nghiệm được thả tơm giống P15 của công ty tôm giống số I v ới mật độ ban

đầu 25 con/m2

2.2.1 Lựa chọn đối tượng cho ao xử lý

Nhuyển thể mảnh vỏ đã được xem như các nhà máy lọc sinh học trong các nguồn

nước, với đặc tính chúng khơng có khả năng chủ động tìm kiếm thức ăn mà phải lọc

nước giữa lại các phần cặn lơ lửng trong nước để sử dụng làm thức ăn cho mình vì vậy

cặn trong nước được loại bỏ một phần nhờ sự tiêu hóa của nhuyễn thể 2 vỏ

Lựa chọn đối tượng nhuyễn thể: Có rất nhiều đối tượng nhuyễn thể 2 vỏ sống ở ven

bờ trong nghiên cứu của mình tác giả đã chú ý đến 3 đối tượng hiện đang được nuôi

phổ biến và mang lại hiệu quả kinh tế có thể áp dụng cho mơ hình.

 Ngao (Meretrix meretrix) và nghêu (Meretrix lyrata) điều kiện sống của chúng là

cần nền đáy có cấu trúc pha cát, nếu sống trong nền đáy dạng bùn sình sẽ bị chết

đặc biệt không phù hợp với điều kiện nuôi nước tĩnh hoàn toàn.

 Vẹm xanh (Chloromytilus viridis) cần giá thể bám nó cần mơi trường nước có độ

mặn cao (thường phải lớn hơn 15‰) nên không thể nuôi trong các ao tại các khu

vực nuôi tôm công nghiệp nhiều khi độ mặn xuống đến 5‰.

 Sò Huyết (Tegillaca granosa) chúng đã là đối tượng đã là đối tượng được nuôi

trong điều kiện nước tĩnh hòa tồn tại Cà Mau, Kiên Giang…, cấu trúc nền đáy là

bùn sình. Theo trường đại học thủy sản Quảng Đơng Trung Quốc độ mặn thích hợp

nhất là từ 19-24‰ nhưng trong tự nhiên chúng vẫn sống trong điều kiện nước có

độ mặn 5‰. Các kết quả quan sát thực tế tại khu vực ni sò tại Kiên Giang cho

thấy chúng phát triển bình thường ở mơi trường có độ mặn lớn hơn 10 ‰. và ở độ

mặn 5‰ vẫn thấy chúng tồn tại. Đây cũng là đối tượng cho hiệu quả kinh tế cao vì

vậy không chỉ nuôi để sử dụng cho xử lý mà còn có thể cho thu nhập cao từ đối

tượng ni này. Với những đặc điểm trên đối tượng Sò huyết được lựa chọn để đưa

vào ứng dụng trong mơ hình xử lý nước cho nuôi tôm.



39



 Thực vật phù du: Đối tượng này hoàn toàn dựa vào tự nhiên sẵn có trong nguồn

nước trong ao xử lý và trong nước thải từ ao ni tơm. Vì vậy trong nghiên cứu tác

giả không bổ sung thêm thực vật phù du mà lợi dụng nguồn này từ môi trường tự

nhiên.

 Vi sinh vật: Do vi sinh vật trong nguồn nước trong ao ni thường rất lớn vì vậy

trong nghiên cứu của minh tác giả không bổ sung thêm vi sinh vào ao xử lý mà lợi

dụng nguồn vi sinh có sẵn trong nguồn thải để chuyển hóa chất ơ nhiễm trong nước

thải.

2.1.2 Theo dõi các yếu tố chất lượng nước và vận hành mơ hình

2.1.2.1 Theo dõi mơi trường nước trong ao nuôi

Chất lượng nước trong ao nuôi được theo dõi thường xuyên theo thời gian phát triển

của con tôm.

Xác định chất lượng môi trường nước theo định kỳ 15 ngày/lần, các chỉ tiêu đo bao

gồm EC, Ca2+, Mg2+, Na+, Cl-, tổng cứng, pH, S‰, T0C, cặn không tan, độ trong, NH4+,

NO2-, NO3-, H2S, DO, BOD3, COD, PO42- thực vật phù du, động vật phù du.

Bên cạnh việc đo đạc mang tính tổng quát tiến hành đo các thông số đặc trưng về ơ

nhiễm và có biến đổi nhanh trong ngày (pH, S ‰, T0C, cặn không tan, độ trong, NH4+,

NO2-, NO3-, H2S, DO, BOD3, COD, PO43-, thực vật phù du, động vật phù du) theo định

kỳ 15 ngày/lần, mỗi lần từ 2- 3 ngày vào các buổi sáng, trưa và chiều tối làm cơ sở để

đánh giá mức độ ô nhiễm qua đó đưa ra biện pháp xử lý.

Mẫu nước được lấy tại chân cầu cho ăn cách mặt nước 20cm.

Thực vật và động vật phù du được lấy tại chân cầu cho ăn bằng xô 16L mỗi mẫu lấy 2

xô lọc qua lưới lọc thực vật N025 để định tính và định lượng.

Mẫu bùn đáy được lấy phân tích theo định kỳ 15 ngày/lần cách bờ ao khoảng 2m. các

chỉ tiêu phân tích bao gồm: pH, mùn, độ ẩm, sắt tổng số, P trao đổi, Tổng N, SO 42Ca2+, Mg2+.

Một số thời điểm nước trích từ bùn đáy cũng được phân tích một số chỉ tiêu như NH 4,

S-2.



40



Các số liệu sau khi phân tích được xử lý thống kê theo phân tích phương sai ANOVA

một yếu tố (Analysis of Variance) với sự hỗ trợ của các hàm đã được xây dựng sẵn của

Excel.

2.1.2.2Theo dõi môi trường nước trong ao xử lý

Môi trường nước trong ao xử lý được đo vào các thời điểm từ trước khi đưa nước thải

vào và các ngày tiếp theo sau khi đưa nước thải vào. Qua đó đánh giá được diến biến

và hiệu quả của quá trình xử lý của các đối tượng sinh vật đã sử dụng.

Mẫu nước lấy trong ao cách mặt nước 20cm.

Khi hàm lượng các chất ô nhiễm trong ao xử lý đã xuống thấp đạt tiêu chuẩn quy định

thì nước được chuyển sang ao để cấp cho ao nuôi khi cần.

2.1.3 Tổng hợp và đánh giá kết quả thu được

Tổng hợp các số liệu về diễn biến môi trường nước trong ao nuôi

Tổng hợp số liệu về diễn biến chất lượng môi trường nước trong ao xử lý và đánh giá

hiệu quả của ao xử lý trên các chỉ tiêu ơ nhiễm.

 Tính tốn hệ số chuyển đổi thức ăn FCR



FCR 



Lượng

thức

ăn

toàn

vụ

(kg)ï

Sản

lượng

đàn

tôm

thuhoạch

(kg)



 Tính tốn tỷ lệ sống của tơm

T (%)



Số

lượng

tôm

thuhoạch

(con)

100

Số

lượng

tôm

thả

(con)



 Tính tốn năng suất tơm ni



K



Sản

lượng

tôm

thuhoạch

1 vụ(kg)

Diện

tíchaonuôi

(ha)



2.1.4 Đề xuất mơ hình ni và quản lý bảo vệ mơi trường.



41



Từ kết quả nghiên cứu của việc xây dựng mơ hình ngồi thực tế sẽ đề xuất mơ hình

ni phù hợp với điều kiện thực tiễn, có tính ứng dụng cao để có thể chuyển giao cho

địa phương áp dụng. Cụ thể như đưa ra các thông số môi trường người ni có thể đo

đạc và kiểm sốt được; đặc biệt đưa ra các dấu hiệu về ô nhiễm môi trường nước qua

đó người ni có thể chủ động xử lý mơi trường trước khi có các biến động lớn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

5 CÁC NGHIÊN CỨU XỬ LÝ NƯỚC THẢI NUÔI TÔM BẰNG BIỆN PHÁP SINH HỌC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×