Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tải bản đầy đủ - 0trang

40



trung bình 1594mm (tập trung vào vào ba tháng, chủ yếu từ tháng 8 đến tháng10).

Độ mặn của nước biển phụ thuộc vào mùa vụ trong năm, vào mùa mưa độ mặn

giảm xuống 20-25 0/00, mùa khô độ mặn tăng lên 29-30 0/00.

3.2.



Điều kiện kinh tế xã hội



3.2.1. Quỳnh Bảng

Dân số

Tổng dân số của xã có khoảng 9.475 nhân khẩu thuộc 1.840 hộ phân bố thành 14

đơn vị thôn. Trong đó tỉ lệ nam chiếm 49,5%, nữ chiếm 50,5% Trong đó có hai đơn

vị thơn theo đạo thiên chúa với tổng số nhân khẩu 1523 thuộc 233 hộ.

Các ngành nghề của xã Quỳnh Bảng.

Trong các ngành nghề đang phát triển ở Quỳnh Bảng, NTTS chiếm 39%; nơng

nghiệp chiếm 38%, còn lại là các ngành nghề khác như: dịch vụ, lâm nghiệp…



Hình 3-1Hình



3.1: : Tỷ trọng các ngành nghề xã Quỳnh Bảng



Như vậy nghề nuôi trồng thuỷ sản và nghề nông nghiệp gần tương đương với nhau.

Nhưng ngành nuôi trồng thuỷ sản ở xã Quỳnh Bảng nói riêng và ở tỉnh Nghệ An nói

chung có một vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội.



41

Bảng 31-2:Bảng 3.1: Tổng giá trị các ngành nghề xã Quỳnh bảng



Nông nghiệp



Thuỷ sản



Ngành nghề khác



(triệu đồng)

13.440



(triệu đồng)

14.000



(triệu đồng)

6.700



( (Nguồn: Bcáo tổng kết nuôi trồng thuỷ sản năm 2006 xã Quỳnh Bảng).



Thu nhập

Thu nhập của người dân ở đây chủ yếu dựa vào nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi

trồng thuỷ sản và hoạt động khác (như: hoạt động dịch vụ, lâm nghiệp,...). Tốc độ

tăng trưởng kinh tế hàng năm dao động từ 7-10,7%. Tổng GDP năm 2006 là

35.918.361.000 đồng (Báo cáo tổng kết xã Quỳnh Bảng, 2006).

Xã Quỳnh Bảng là một trong những xã có thu nhập vào loại trung bình khá của

huyện Quỳnh Lưu và của tỉnh Nghệ An. Đây là một xã có phong trào NTTS phát

triển khá sớm, có quy mơ ni khá lớn và tương đối tập trung. Thu nhập từ nuôi

trồng thuỷ sản là một trong những nguồn thu chủ yếu ở xã Quỳnh Bảng.Ở xã Quỳnh

Bảng số hộ giầu, hộ khá vẫn chưa nhiều, một phần do điều kiện tự nhiên khắc

nghiệt nên nơng nghiệp là một nghề chính của người dân nhưng lại phụ thuộc nhiều

vào tự nhiên. Hầu hết những hộ nghèo đói là do thiếu vốn sản xuất, thiếu kinh

nghiệm, kiến thức khoa học kỹ thuật, đau ồm, bệnh tật, vì vậy cần tập huấn chuyển

giao kinh nghiệm khoa học kỹ thuật, liên hệ ngân hàng cho vay vốn người nghèo để

sản xuất

Lao động

Hiện nay ở xã Quỳnh Bảng số lao động tham gia trong sản xuất nông nghiệp là lớn

nhất nhưng thu nhập là thấp nhất. Ngược lại số lao động tham gia trong nuôi trồng

thuỷ sản chỉ chiếm một tỷ lệ nhỏ nhưng có thu nhập cao. Nguyên nhân một phần do

NTTS mới phát triển trong những năm gần đây nhưng nó được đánh giá là một

trong những ngành đem lại hiệu quả kinh tế cao.

Hiện trạng sử dụng đất

Đất NTTS dần được mở rộng, đây là một hướng phát triển mới của xã chuyển

những diện tích đất khơng sử dụng, ít có khả năng canh tác trong nơng nghiệp mà



42



có khả năng NTTS sang phát triển nuôi thuỷ sản. Tổng tiềm năng đất có thể đưa vào

sử dụng trong NTTS của xã là 160,7 ha nhưng mới đưa vào sử dụng 127 ha, chiếm

80%. Hình thức giao đất sử dụng NTTS cho người dân là giao khốn với thời gian

20 năm, mức phí 3 triệu đồng/1ha.

3.2.2. Hưng Hoà

Dân số

Tổng dân số của xã có khoảng 6.700 nhân khẩu thuộc 1.600 hộ dân phân bố thành 9

đơn vị thơn, trong đó tỉ lệ nam chiến 52%, nữ chiếm 48%.

Các ngành nghề

Trong các ngành nghề đang phát triển ở Hưng Hòa, ngành nghề nơng nghiệp chiếm

60%, nuôi trồng thủy sản: 20%, các ngành khác: 20%. Như vậy nghề nơng nghiệp

vẫn giữ vị trí số 1.



Hình 3.2: Tỷ trọng ngành nghề ở Hưng Hoà

Tuy nhiên nếu đánh giá về hiệu quả kinh tế thông qua thu nhập của các ngành nghề

thì nghề ni trồng thủy sản vẫn mang lại thu nhập cao hơn. Hiện nay ở hưng Hòa,

chủ yếu thu nhập từ 3 nghề chính: nơng nghiệp, trồng cói, ni trồng thủy sản.

Nhưng trong tương lai, định hướng phát triển của xã là tập trung phát triển ni

trồng thủy sản, vì nghề này mang lại hiệu quả kinh tế cao trong thời gian ngắn.



43



Bảng 3.3:Tổng giá trị các ngành nghề xã Hưng Hồ

Nơng nghiệp



Ni trồng thuỷ sản



Các ngành nghề khác



(triệu đồng)

4.836,6



(triệu đồng)

8.507,770



(triệu đồng)

5.691



( (Nguồn: Bcáo tổng kết ni trồng thuỷ sản năm 2006 xã Hưng Hồ).



Thu nhập

Thu nhập của người dân ở đây chủ yếu dựa vào nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản và

các hoạt động dịch vụ khác. Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm : 11.2%. ( (Báo

cáo tổng kết xã Hưng Hòa – 2006).

Xã Hưng Hòa có 5 hợp tác xã, trong đó có 3 hợp tác xã là hoạt động về nuôi trồng

thủy sản, 02 hợp tác xã hoạt động sản xuất nông nghiệp. Thu nhập từ nông nghiệp

chiếm 40%, từ thủy sản 30%, còn lại là thu nhập từ các dịch vụ khác. Thu nhập bình

quân từ thủy sản trung bình là 17 triệu đồng/năm, trong đó nhiều nhất là: 30 triệu

đồng/năm; và thấp nhất là 4 triệu đồng/năm.

Tỉ lệ hộ giàu: 20%, nghèo: 27%, Số hộ có thu nhập vào loại trung bình khá chiếm

63%. Trước đây xã Hưng Hoà là xã nghèo nhất của thành phố Vinh. Nhưng sau 5

năm chuyển đổi sang nuôi trồng thuỷ sản, đời sống nhân dân đã dần được cải thiện.

Tuy nhiên phần lớn người dân chủ yếu vẫn sống bằng nghề thuần nơng, còn phụ

thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên; mặt khác trong ni trồng thuỷ sản thì tình hình

thời tiết không thuận lợi, dịch bệnh lây lan, làm ảnh hưởng giá cả, ảnh hưởng đến

thu nhập và hiệu quả sản xuất. Do vậy trong toàn xã số hộ nghèo vấn còn > 400 hộ.

Lao động

Hiện nay ở xã Hưng Hòa số lao động tham gia trong sản xuất nông nghiệp là lớn

nhất, chiếm 60% số lao động. Lao động tham gia vào nuôi trồng thủy sản chiếm

20%. Mặc dù số lao động tham gia trong sản xuất nông nghiệp là gấp 3 lần số lao

động tham gia trong nuôi trồng thủy sản nhưng thu nhập từ sản xuất nông nghiệp

vẫn thấp hơn so với thu nhập từ nuôi trồng thủy sản ( (40% thu nhập từ nông nghiệp

so với 30% thu nhập từ nuôi trồng thủy sản). Nguyên nhân một phần do NTTS mới



44



phát triển trong những năm gần đây nhưng nó được đánh giá là một trong những

ngành đem lại hiệu quả kinh tế cao.



Hiện trạng sử dụng đất

Toàn xã có tổng diện tích đất là 811 ha, trong đó diện tích đất dùng cho ni trồng

thuỷ sản là 167 ha chiếm 26.6% diện tích đất, trong đó 130 ha là ni tơm, còn lại là

ni cá và một số lồi khác. Hình thức giao đất sử dụng NTTS cho người dân là

giao khoán với thời gian từ 12 -15 năm, mức phí là: 50.000 đ/sào ( (1 sào tương

đương 500 m2)

3.3. Hiện trạng nuôi trồng thuỷ sản tại xã Quỳnh Bảng - Huyện Quỳnh Lưu và

Hưng Hoà – TP Vinh

3.3.1. Xã Quỳnh Bảng - huyện Quỳnh Lưu

Đặc điểm chung về nuôi trồng thủy sản của xã:

Quỳnh Bảng là một trong những xã có phong trào ni trồng thuỷ sản phát triển

mạnh nhất tỉnh Nghệ An. Trong hơn 4000 ha tổng diện tích đưa vào NTTS (ni

các đối tượng tơm, cua, nhuyễn thể) của tồn tỉnh Nghệ An thì Quỳnh Bảng có 127

ha diện tích đất đưa vào trong ni trồng thuỷ sản và có 150 hộ tham gia nuôi thuỷ

sản. Đặc biệt, với sự đầu tư trong khu nuôi tôm công nghiệp, sản lượng NTTS cũng

như thu nhập của người dân tăng lên đáng kể. Đặc biệt, với sự đầu tư trong khu nuôi

tôm công nghiệp, sản lượng NTTS cũng như thu nhập của người dân tăng lên đáng

kể. Để đảm bảo cuộc sống ổn định của người dân trong xã, vấn đề môi trường trong

nuôi trồng thuỷ sản cần được đặc biệt quan tâm. Cần có sự kết hợp giữa những

người ni và chính quyền các cấp để tìm ra biện pháp quản lý mơi trường phù hợp

và bền vững.

Khu ni tơm cơng nghiệp được hình thành từ khu vực làm muối. Phong trào nuôi

tôm trong mấy năm gần đây phát triển mạnh mẽ và đem lại lợi nhuận cao đã ảnh

hưởng tới ý thức của nguời dân ở khu vực đồng muối Quỳnh Bảng, việc sản xuất

muối khơng có hiệu quả đã đưa người dân chuyển đổi từ nghề làm muối sang nghề

nuôi tôm. Từ khi đi vào nuôi tôm các hộ ở đây cũng đã tiến hành ni một đối



45



tượng chính là tơm sú, ban đầu là ni tơm quảng canh nhưng có thả thêm tôm

giống.

Mùa vụ nuôi tôm:

Thường được chia ra làm 2 vụ, vụ đông xuân và vụ hè. Mùa đông đa số đầm để

khơng hoặc ni một số lồi thủy sản khác có khả năng chịu rét. 45% tổng số hộ

ni 1 vụ/năm, số còn lại ni 2 vụ/năm. Vụ đơng thường bắt đầu vào tháng 2 và

kết thúc vào tháng 5, vụ hè bắt đầu vào tháng 6 và kết thúc vào tháng 8. Do khu vực

miền Bắc Trung Bộ chịu ảnh hưởng của gió bão nặng vào tháng 9-10 nên đa số

người dân phải thu hoạch tôm trước mùa mưa bão đến.

Các hình thức ni

Các hình thức ni: ni thâm canh, bán thâm cảnh, quảng canh cải tiến.

Số hộ nuôi thâm canh và bán thâm canh chiếm một tỷ lệ lớn, chủ yếu là các hộ đã

nuôi nhiều năm trong khu vực nuôi tôm công nghiệp này. Khu nuôi tôm này đã phát

triển được hơn 10 năm có những hộ tham gia ni từ khi mới hình thành. Do vậy

kinh nghiệm và vốn đầu tư có nên họ đầu tư xây dựng mơ hình ni thâm canh để

đưa năng suất lên. Năm 2002, ơng Hồ Đăng Trình sản lượng thu được 2,3 tấn, lãi 80

triệu đồng.

Cơ sở hạ tầng

Năm 2000, quy hoạch thành lập nên khu nuôi tôm công nghiệp với đầu tư 7,2 tỷ

đồng của Bộ Thuỷ sản. Khu nuôi tôm được thành lập với hệ thống kênh cấp nước,

kênh cấp nước do dự án 773 xây dựng, một trạm biến áp 500KVA phục vụ cho khu

nuôi. Khu nuôi tơm cơng nghiệp được chia thành hai khu vực phía Bắc và phía Nam

bởi ao chứa cho khu ni với diện tích 2 ha. Mỗi khu ni có ao chứa nước thải

riêng. Tồn bộ khu ni tơm cơng nghiệp được hình thành với diện tích 97,8 ha,

hiện nay đang đi vào hoạt động vói 3 hình thức ni tơm sú chủ yếu (thâm canh,

bán thâm canh, quảng canh cải tiến).

Chuẩn bị đầm nuôi: Do 100% người nuôi tôm đều được tập huấn kỹ thuật nên 90%

trong số hộ có tháo cạn đầm nuôi để xử lý đáy ao, sử dụng vôi để diệt tạp; 60% sử

dụng phân chuồng và phân vô cơ để gây màu nước. 75% số nông hộ ni tơm có sử

dụng thuốc/hố chất để diệt địch hại trong ao như sapotex mua từ Đà Nẵng, hạt



46



mát... 50% số nơng hộ có xử lý nước trước khi lấy vào ao bằng cách lọc bằng lưới

lọc, có bọc vơi hoặc thuốc ở cống lấy nước vào.

Các vấn đề môi trường

Quỳnh Bảng là một trong những xã có phong trào phát triển nuôi trồng thuỷ sản

mạnh nhất tỉnh Nghệ An, năm 2006 có 127 ha diện tích đất đưa vào nuôi trồng thuỷ

sản với 150 hộ tham gia nuôi thuỷ sản (bảng 3.4). Tuy nhiên 2 năm trở lại đây do

tốc độ phát triển mạnh về diện tích cũng như mật độ nuôi nên dịch bệnh xảy ra trên

diện rộng, gây thiệt hại lớn về kinh tế cũng như tinh thần của các hộ nuôi. Các vấn

đề về môi trường nước khu ni có biểu hiện ơ nhiễm. Hệ thống cơ sở hạ tầng đã

được nâng cấp: Hệ thống cấp thoát nước, kênh 773, hệ thống kênh cấp và thoát

nước nông nghiệp, thuỷ sản, hệ thống ao nuôi thâm canh và bán thâm canh, song

chưa được quy hoạch đồng bộ và chưa đảm bảo kỹ thuật. Đây cũng là một trong

những nguyên nhân lây lan dịch bệnh trong vùng nuôi.

Bảng 3.4: Một số thông tin về nuôi trồng thuỷ sản các năm của xã Quỳnh Bảng

Chỉ tiêu

Diện tích ni tơm (ha)

Số hộ tham gia nuôi

Số hộ nuôi TC & BTC

Số hộ nuôi QCCT

Tổng sản lượng (kg)



2004

112.7

98

77

21

107.065



2005

120

130

91

39

113.400



2006

127

150

112

38

119.380



Giống

Thả tôm giống: Tôm giống đa số được mua từ các trại Nhà nước và người dân tự đi

mua, có thể là một hộ đi mua về bán lại cho nhiều nông hộ khác ở trong vùng ni.

Ở Triệu Phong còn có các đại lý thức ăn tại cơ sở (cấp 2, cấp 3) đi mua con giống

miễn phí cho người ni tơm để người ni tơm mua sản phẩm của đại lý mình.

70% số hộ nuôi tôm đánh giá chất lượng tôm giống đạt yêu cầu.

Các cơ quan chức năng địa phương



47



Bảng 3.5: Dịch bệnh trong nuôi trồng thuỷ sản

Dịch bệnh trong nuôi trồng

thuỷ sản

Số hộ nhiễm bệnh

Mức độ thiệt hại (triệu đồng)



2004

45

150



2005

86

1.720



2006

44

380



Nhận xét



Xã Quỳnh Bảng có những điều kiện tự nhiên thích hợp cho phát triển NTTS, tận

dụng được ưu thế này xã Quỳnh Bảng là một trong những xã có nghề NTTS phát

triển mạnh nhất ở Nghệ An, đặc biệt với sự đầu tư trong khu nuôi tôm công nghiệp

đưa sản lượng NTTS, cũng như giá trị thu nhập của người dân tăng lên. Để đảm bảo

cuộc sống ổn định của người dân trong xã, vấn đề môi trường trong nuôi trồng thuỷ

sản cần được đặc biệt quan tâm. Cần có sự kết hợp giữa chính quyền các cấp và

những người ni. Người ni tự nhận thấy vai trò quan trọng của quản lý mơi

trường đối với hộ mình. Nhưng đi liền với hình thức ni này đòi hỏi phải quản lý

mơi trường trong ao ni và kết hợp việc giữ gìn nguồn nước chung. Vì vậy, họ

nhận thức được tầm quan trọng của cộng đồng quản lý mơi trường.

Hình thức ni quảng canh chủ yếu tập trung ở những hộ nghèo, thiếu vốn đầu tư.

Tuy nhiên ưu điểm của mơ hình này là mơi trường trong ao ít bị ơ nhiễm nhưng

chịu ảnh hưởng lớn của mơi trường bên ngồi do ao ni của họ khơng có hệ thống

ao chứa lắng, phải trực tiếp lấy từ kênh cấp vào. Vì vậy mơi trường bên ngồi tác

động lớn đến mơi trường trong ao nuôi của họ. Quản lý môi trường dựa vào cộng

đồng là phương pháp tốt nhất mà những người nuôi ở đây nhận thức được để quản

lý môi trường trong ao của mình.

3.3.2. Xã Hưng Hồ – Thành phố P Vinh - Nghệ An

Đặc điểm chung về nuôi trồng thủy sản của xã:

Xã Hưng Hòa là một xã bắt đầu phong trào nuôi trồng thủy sản từ những năm

19910. Từ năm 1991 đến 2001 chủ yếu là phong trào nuôi trồng thủy sản tự phát,

không tập trung, hiệu quả kinh tế thấp. Bắt đầu từ tháng 2 năm 2001, tỉnh có chủ

trương thực hiện dự án hình thành khu ni tập trung, do vậy từ 2001 đến nay,

Hưng Hòa là một trong số các xã thực hiện dự án nuôi tôm công nghiệp với quy mô



48



lớn và mang lại hiệu quả kinh tế cao, góp phần cải thiện cuộc sống của người dân

trong xã. Đối tượng nuôi trồng thủy sản của xã Hưng Hòa chủ yếu là tơm ( (tơm sú,

tôm thẻ). . Hiện nay ở Nghệ An, xu hướng ni tơm kết hợp với cá rơ phi đơn tính

được thực hiện đã mang lại hiệu quả và năng suất cao đồng thời lại có tác dụng

giảm thiểu thức ăn thừa trong q trình cho tơm ăn. Sau thành cơng của vụ nuôi thử

nghiệm kết hợp này trong năm 2005, Sở Thuỷ sản Nghệ An đã khuyến khích ngư

dân thực hiện hình thức ni cá rơ phi đơn tính với tôm và định hướng trong tương

lai về phát triển nghề ni trồng thủy sản theo các hình thức kết hợp này. Hiện nay

tổng diện tích ni tơm của xã là 130 ha. Chủ yếu là nuôi quảng cảnh cải tiến. Xã

Hưng Hồ có 3 Hợp tác xã ni trồng thuỷ sản với diện tích là 130 ha. Nhưng hoạt

động ni trồng thuỷ sản dựa vào cộng đồng chỉ tồn tại ở Hợp tác xã Hưng hồ II

với diện tích ni là lớn nhất, chiếm 110 ha. Do vậy địa bàn nghiên cứu trong thuộc

Hợp tác xã Hưng Hoà II. Hai hợp tác xã còn lại tại Hưng Hồ, với diện tích và số

lượng người ni trồng nhỏ, lại khơng có hoạt động cộng đồng do vậy, 2 Hợp tác xã

này không thuộc trong phạm vi nghiên cứu.

Bảng 1.6: Một số thông tin về nuôi trồng thuỷ sản các năm của xã Hưng Hồ

Chỉ tiêu

Diện tích ni tơm ( (ha)

Số hộ tham gia

Số hộ nuôi QCCT

Số hộ nuôi Thâm canh

Sản lượng (kg)



2004

90

85

45

40

84.150



2005

109

125

40

85

100.280



2006

130

144

10

134

118.950



Mùa vụ nuôi tôm:

Thông thường mùa vụ nuôi ở Hưng Hòa chủ yếu là 1 vụ, bắt đầu từ 1/5 hàng năm.

Mùa đông đa số đầm để không hoặc nuôi một số lồi thủy sản khác như: cá rơ phi.

Đối tượng ni chủ yếu là tơm sú, tơm thẻ.

Các hình thức ni

Các hình thức ni: chủ yếu là ni thâm canh, bán thâm canh

Cơ sở hạ tầng

Hiện nay trong xã Hưng Hòa, cơ sở hạ tầng phục vụ cho ni trồng thủy sản đã có

hệ thống kênh cấp dài 1.800 m, kênh thoát dài 1.800 m. Hiện nay tỉnh đang đầu tư



49



để xây 2 trạm điện, cấp điện cho vùng nuôi tập trung. Hiện nay điện dùng tại các

vùng nuôi được người dân câu từ các khu dân cư gần đầm nuôi để sử dụng.

Đất dùng cho nuôi trồng thủy sản được giao cho dân theo hình thức th khốn thầu

trong thời gian là 12 năm với mức phí là 500.000đ/sào ( (500m2)

Hầu hết các hộ nuôi trồng thủy sản khơng có ao chứa nước thải mà họ sau khi đã

thu hoạch tôm đều thải trực tiếp ra kênh thải, không qua khâu xử lý.

Công tác chuẩn bị đầm nuôi

Hầu hết các hộ nuôi trồng thủy sản đều chuẩn bị đầm nuôi rất cẩn thận trước khi thả

giống cho vụ nuôi. Nạo vét bùn, vệ sinh ao nuôi, công tác lấy nước, xử lý nước, làm

mầu được thực hiện trước khi thả giống, bắt đầu mùa vụ mới.

Các vấn đề môi trường.

Do đất ở đây thấp trũng, nên nhiều người ví Hưng Hòa là cái túi nước của TP.Vinh.

Hệ thống nước thải của thành phố đổ về đây rất bẩn. Chỉ cần một trận mưa nước đổ

về làm cho toàn bộ đồng của xã bị ngập, nước tràn vào các xóm, bốc lên mùi hơi

thối. Được biết, tồn xã hiện có trên 50 ha đất ơ nhiễm khơng sản xuất được, đành

chấp nhận bỏ hoang. Tuy nhiên vùng nuôi thuỷ sản của xã Hưng hồ lại khơng

thuộc vùng chịu ảnh hưởng của các chất thải từ thành phố Vinh, do vậy vấn đề mà

người nuôi gặp phải ở đây, là vấn đề về môi trường và dịch bệnh trong nuôi trồng

thuỷ sản, nhưng không phải do ảnh hưởng của nguồn ô nhiễm từ Vinh, mà do

phương thức quản lý môi trường và dịch bệnh trong nội bộ khu nuôi trồng.

Tại các khu nuôi tất cả các đầm nuôi được điều tra đều khơng có các ao chứa xử lý

nước sau khi nuôi, mà nước này được đổ thải trực tiếp ra kênh thốt. Mỗi một đầm

thì có kênh thốt và kênh cấp riêng biệt nhưng ngoài phạm vi các đầm thì kênh

thốt lại nhập vào kênh cấp. Đây là một vấn đề còn tồn tại, khơng chỉ ở Hưng Hồ,

mà còn ở hầu hết các địa phương có ni trồng thuỷ sản khác. Nước thải sau vụ

nuôi chứa nhiều chất hữu cơ ( (do có thức ăn còn sót, do bài tiết của các lồi

ni,...) và chứa mầm bệnh, vi khuẩn. Và chính vì lí do này mà các vấn đề môi

trường và dịch bệnh là vấn đề không kiểm sốt được hiện nay tại hầu hết các khu

vực ni trồng.



50



Giống

Nguồn giống cung cấp cho các hộ nuôi tôm là từ các cơ sở tư nhân, thành lập thành

công ty TNHH thuộc địa bàn trong tỉnh. Đa số nguồn giống đều được các hộ mang

đi kiểm dịch tại Sở Thủy sản. 70% các hộ được phỏng vấn cho rằng chất lượng

giống đạt vào loại khá.

Bảng 3.7: Dịch bệnh trong nuôi thuỷ sản qua các năm ở Hưng Hoà

Dịch bệnh trong NTTS

Số hộ nhiễm bệnh

Mức độ thiệt hại



2004



2005

7

35



2006

12

84



25

56



( (triệu đồng)

( (Nguồn: Ủy ban nhân dân xã Hưng Hòa)

Nhận xét:

Xã Hưng Hòa có những điều kiện tự nhiên thích hợp cho phát triển NTTS, là một

trong những xã có nghề NTTS phát triển mạnh ở Nghệ An, đặc biệt với sự đầu tư

trong khu nuôi tôm công nghiệp đưa sản lượng NTTS, cũng như giá trị thu nhập của

người dân tăng lên. Để đảm bảo cuộc sống ổn định của người dân trong xã, vấn đề

môi trường trong nuôi trồng thuỷ sản cần được đặc biệt quan tâm, do đặc thù của

Hưng Hòa, nằm ở một vị trí mà các vấn đề môi trường là những vấn đề hết sức nhạy

cảm. Do vậy, cần có sự kết hợp giữa chính quyền các cấp và những người nuôi để

người nuôi tự nhận thấy vai trò quan trọng của quản lý mơi trường đối với hộ mình.

Với định hướng phát triển ni trồng thủy sản là thế mạnh so với nghành nông

nghiệp và trồng cói, xã Hưng Hòa cần chú trọng đến cơng tác quản lý môi trường

hơn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×