Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1.3. Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng trong nuôi trồng thuỷ sản.

1.3. Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng trong nuôi trồng thuỷ sản.

Tải bản đầy đủ - 0trang

20



như nguồn nước cấp, chất thải, dịch bệnh, nếu không có một sự thống nhất để cùng

quản lý, giám sát và có trách nhiệm với nhau thì sự bùng phát dịch bệnh sẽ rất khôn

lường, sự ô nhiễm môi trường sẽ rất lớn và như vậy tính rủi ro trong nuôi trồng thủy

sản càng ngày lại càng cao.Chất lượng nước bị biến đổi nhanh chóng khi đi qua các

ao ni. Trong nuôi trồng thuỷ sản, việc thay đổi chất lượng nước có ảnh hưởng cực

kỳ quan trọng đến kết quả sản xuất của các hộ gia đình. Bệnh dịch ni trồng thuỷ

sản thường phát tán qua nguồn nước. Nếu không quản lý tốt, qua nguồn nước, dịch

sẽ phát triển thành diện rộng và gây thiệt hại. Chất lượng nước phụ thuộc rất nhiều

vào cách thức quản lý và ý thức của con người, kỹ thuật thiết kế hệ thống ao hồ,

kênh mương. Hiệu quả sản xuất của nuôi trồng thuỷ sản phụ thuộc nhiều vào mối

liên hệ chặt chẽ giữa các hộ với nhau. Các hộ nuôi trồng thuỷ sản trong một tiểu

vùng phụ thuộc chặt chẽ vào nhau vì nếu giữa họ khơng có tính cộng đồng, khơng

đồn kết thì việc sản xuất sẽ gặp nhiều rủi ro và nguy cơ ơ nhiễm mơi trường.

Chính vì lẽ đó trong q trình chỉ đạo sản xuất phải ln lấy việc quản lý tốt môi

trường thông qua các hoạt động cộng đồng, đây là một trong những yếu tố tạo nên

sự thành cơng của vụ ni.

Vì những điều này, nhu cầu phát triển ni trồng thuỷ sản có sự tham gia của cộng

đồng là rất lớn, và điều này thực sự là cần thiết. Ni trồng thuỷ sản có sự tham gia

của cộng đồng sẽ là một trong những giải pháp quan trọng góp phần cho sự phát

triển ni trồng thuỷ sản bền vững. Hoạt động ni trồng thuỷ sản có sự tham gia

của cộng đồng chính là hoạt động tham gia quản lý môi trường, quản lý dịch bệnh,

trao đổi công nghệ kỹ thuật trong nuôi trồng thuỷ sản.

Cộng đồng là người tác động trực tiếp vào mọi khâu từ quy hoạch, thiết kế, thi công

đầm nuôi, tổ chức nuôi, thu hoạch…Do đó, để đảm bảo ni trồng thuỷ sản đạt hiệu

quả kinh tế cao và bảo vệ tốt môi trường phải áp dụng biện pháp quản lý dựa vào

cộng đồng. Thực chất của công tác quản lý nuôi trồng thủy sản dựa vào cộng đồng

là đảm bảo cho cộng đồng được thực sự tham gia một cách dân chủ vào tất cả các

cơng đoạn nói trên của ni trồng thủy sản, việc quy hoạch, thiết kế, xây dựng vận

hành và quản lý đầm nuôi, quản lý và xử lý chất thải được tiến hành trên cơ sở tính

đến lợi ích chính đáng của cộng đồng và lợi ích môi trường (lợi ích của cộng đồng,

lợi ích mơi trường được tơn trọng, dàn xếp bình đẳng, và chấp nhận được). Như



21



vậy, phải áp dụng phương thức tiến hành các công đoạn nuôi trồng thuỷ sản theo

kiểu từ dưới lên (bottom up) chứ không phải áp đặt từ trên xuống (top down). Hợp

tác giữa những người NTTS (thành lập hiệp hội tự nguyện, hợp tác xã tự nguyện

kiểu mới) để cải tiến việc quản lý nước, quản lý đất và đầm ni. Hầu hết mọi

người khi tham gia nhóm cộng đồng chỉ mong muốn vào 3 lợi ích quan trọng nhất

ảnh hưởng, liên quan trực tiếp đến quyền lợi và nghĩa vụ của họ: Học hỏi kỹ thuật,

quản lý môi trường nuôi, nâng cao nhận thức của người dân.

Ý kiến của người ni về lợi ích của hoạt động nhóm cộng đồng tập trung cao vào

lợi ích quản lý mơi trường dịch bệnh. Ngoài ra khi tham gia hoạt động cộng đồng

mọi người đều thấy được lợi ích khác là nâng cao tinh thần tự nguyện tự giác, mọi

người hiểu nhau và giúp đỡ nhau nhiều hơn, qua các cuộc họp cộng đồng mọi người

có thể trao đổi kinh nghiệm về cách quản lý môi trường ao nuôi cũng như cách

chăm sóc ao ni.

Người dân phải ý thức được rằng muốn phát triển ni trồng thuỷ sản bền vững, thì

vai trò của cộng đồng là rất quan trọng. Tính cộng đồng và phát triển quản lý dựa

vào cộng đồng cần được khuyến khích phát triển. Mặt khác, quản lý ni trồng thuỷ

sản dựa vào cộng đồng sẽ giảm gánh nặng cho quản lý Nhà nước, góp phần quan

trọng giúp định hướng phát triển nuôi trồng thuỷ sản bền vững.

Nuôi thuỷ sản nói chung ở các nước đang phát triển chỉ có thể trở nên bền vững khi

người sử dụng nguồn lợi (mặt nước, đất…) hiểu được vai trò của nó đối với kế sinh

nhai lâu dài của cả cộng đồng từ thế hệ này sang thế hệ khác [12].Sự tham gia của

người sử dụng nguồn lợi vào lập kế hoạch và quản lý hệ sinh thái đảm bảo cuộc

sống của họ góp phần vào quản lý tốt và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên thiên

nhiên. Thông qua phương pháp tham gia, nhận thức của người sử dụng tài nguyên

về những tác động môi trường đối với sự phát triển trong các vùng nuôi tôm và nuôi

trồng thuỷ sản đang được nâng cao.

Để đối phó với những khó khăn và cản trở trong hoạt động sản xuất thủy sản, ngày

càng có nhiều vùng ni thực hiện mơ hình quản lý ni tôm dựa vào cộng đồng.

Tuy nhiên, phương thức quản lý và cách thức tiến hành các hoạt động cộng đồng rất

khác nhau, đặc thù cho từng địa phương, quy mô ni, ý thức của người dân, sự hỗ

trợ của chính quyền và các ban ngành…Đây là dấu hiệu đáng mừng cho người nuôi



22



cũng như các nhà quản lý trong công tác bảo vệ mơi trường và phòng tránh lây lan

bệnh trong khu nuôi. Điều này không chỉ được nhận thấy ở các cộng đồng ở những

điểm quan trắc. Người nuôi cam kết hoạt động trên tơn chỉ vì lợi ích của chính họ

cũng như của cộng đồng. Cộng đồng đã thống nhất một số điểm chính như lịch thời

vụ, vệ sinh kênh rạch, ao hồ, thông tin cho nhau lấy nguồn nước tốt (cơ sở tin cậy

đã qua kiểm dịch), sử dụng các loại thức ăn và thuốc, chế phẩm, vật tư phục vụ

NTTS có chất lượng tốt, khoanh vùng dập dịch kịp thời và nghiêm túc, sinh hoạt

định kỳ, trao đổi kinh nghiệm, nâng cao ý thức phòng trị bệnh, tổ chức tốt công tác

an ninh trong cộng đồng. Kết quả này một phần là kết quả của sự tác động bền bỉ

của các cấp quản lý ở địa phương [7].

1.4. Bước đầu công tác quản lý môi trường có sự tham gia của cộng đồng trong

ni trồng thuỷ sản ở Việt nam.

Hình thức quản lý mơi trường có sự tham gia của cộng đồng bước đầu đã được hiện

ở một số địa phương ven biển như: Huế, Nghệ An, ...., là những nơi có phong trào

ni trồng thuỷ sản rất mạnh thông qua 2 dự án của Bộ Thuỷ Sản có sự giúp đỡ của

nước ngồi. Đó là Hợp phần Suma - Hỗ trợ nuôi trồng thuỷ sản mặn lợ và Dự án

VIE – 97-030 - Quản lý Môi trường Nuôi trồng Thuỷ sản Ven biển.

Hợp phần Suma - Hỗ trợ nuôi trồng thuỷ sản nước mặn và nước lợ - là một trong

những hợp phần của chương trình trợ giúp ngành ni trồng thuỷ sản Việt nam của

Danida. Mục tiêu trước mắt của Hợp phần Hỗ trợ Nuôi trồng thuỷ sản nước lợ và

nước mặn - hay hợp phần SUMA - là củng cố các phương pháp thực hành quản lý

và điều hành cần thiết để đảm bảo việc cung cấp thuỷ hải sản thông qua quá trình

phát triển ni trồng thủy sản một cách bền vững về mặt môi trường cũng như xã

hội. Hợp phần chú trọng bảo vệ môi trường, giảm nghèo và phát triển nuôi trồng

thuỷ sản của các cộng đồng dân cư ven biển; xác định và thử nghiệm các kỹ thuật

nuôi trồng thuỷ sản bền vững và các phương pháp quản lý phù hợp với điều kiện

môi trường và cộng đồng dân cư vùng ven biển;

Một trong các kết quả đầu ra của Hợp phần này là Xây dựng các phương pháp quản

lý nuôi trồng thuỷ sản nước lợ và nước mặn trên cơ sở cộng đồng. Hợp phần sẽ áp



23



dụng một phương hướng tiếp cận cộng đồng để giải quyết các vấn đề liên quan đến

cái nghèo, giới và môi trường; đồng thời khuyến khích người dân tham gia vào q

trình lựa chọn lĩnh vực ưu tiên và thực hiện Hợp phần này. Các phương pháp quản

lý nuôi trồng thuỷ sản nước lợ và nước mặn trên cơ sở cộng đồng đã được áp dụng

thử nghiệm trong nhiều điều kiện xã hội, kinh tế và môi trường khác nhau, và chứng

tỏ là những phương pháp có khả năng hoạt động bền vững về mặt xã hội, tài chính,

kỹ thuật và mơi trường, đồng thời có thể khai thác được tiềm năng phát triển.

Các vấn đề môi trường được lồng ghép một cách toàn diện vào trong các lĩnh vực

củng cố quản lý hành chính, xây dựng năng lực, phát triển kỹ thuật nuôi trồng và

nghiên cứu cộng đồng. Các dự án thử nghiệm trên cơ sở cộng đồng cũng đặc biệt

quan tâm đến việc khơi phục mơi trường suy thối vùng ven biển và thực hành quản

lý cộng đồng đối với các nguồn lợi ven biển. Hợp phần SUMA thực hiện tại các tỉnh

Quảng Ninh, Nghệ An, Hà Tĩnh, Khánh Hòa.

Điều khá lý thú là trong khi Việt Nam có truyền thống tự chủ và cai trị ở cấp thấp

nhất trong xã hội, là cấp xã và xóm, thì vẫn cần phải xây dựng các phương pháp

quản lý nguồn lợi ven biển và nuôi trồng thuỷ sản trên cơ sở cộng đồng. Việc hiện

nay thiếu các mơ hình quản lý trên cơ sở cộng đồng và thiếu kinh nghiệm về các

phương pháp tiếp cận trên cơ sở cộng đồng để quản lý nguồn lợi ven biển và nuôi

trồng thuỷ sản, trong đó có việc áp dụng phương pháp đồng quản lý, đã hạn chế

việc tiếp tục áp dụng và thực thi các dự án lấy cộng đồng làm cơ sở. Tương tự như

vậy, khả năng tiếp cận tín dụng thường được nơng dân và các hộ gia đình xem là

ngun nhân chính hạn chế họ mở mang ni trồng thuỷ sản nước lợ và nước mặn.

( (Dự án Suma)

Dự án VIE/97/030- “Quản lý Môi trường Nuôi trồng Thuỷ sản Ven biển” có mục

tiêu chung là phát triển bền vững ni trồng thuỷ sản ven biển vùng Bắc Trung Bộ

của Việt Nam. Dự án do Bộ Thuỷ sản điều hành, Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thuỷ

sản 1 thực hiện ở 3 tỉnh Thanh Hoá, Nghệ An và Thừa Thiên Huế trong thời gian 3

năm (2001-2003). Việc thực hiện dự án đã góp phần thực hiện các mục tiêu của

chính phủ như xố đói giảm nghèo cho cộng đồng dân cư vùng ven biển, tạo công

ăn việc làm, tăng thu nhập thông qua phát triển nuôi trồng thuỷ sản song song với

việc bảo vệ môi trường và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên ven biển. Dự án đã



24



tiến hành đánh giá hiện trạng môi trường của nuôi trồng thuỷ sản ở 3 tỉnh Bắc Trung

Bộ và thử nghiệm mơ hình quan trắc môi trường và dịch bệnh ở 6 xã điểm thuộc 3

tỉnh. Kết quả đánh giá cho thấy môi trường nuôi trồng thuỷ sản đang diễn biến theo

hướng ngày càng xấu đi do hậu quả của việc mở rộng diện tích ni, tăng nhanh

mức độ thâm canh kết hợp với các biện pháp quản lý yếu kém, người nuôi hoạt

động đơn lẻ, manh mún, thiếu tính cộng đồng. Giải quyết các vấn đề này dự án đã

đưa ra kế hoạch hành động cải tiến quản lý môi trường cấp hộ, phát triển quản lý

môi trường NTTS dựa vào cộng đồng song song với việc cải tiến quy hoạch và

nâng cao năng lực cho người dân và cán bộ quản lý nhà nước về nuôi trồng thuỷ

sản.

Dự án đã phát triển các mơ hình quản lý mơi trường ni trồng thuỷ sản ven biển

dựa vào cộng đồng. Quản lý môi trường ni trồng thuỷ sản theo mơ hình tổ cộng

đồng tự quản đã được thành lập ở một số xã, sau đó được nhân rộng ở các xã thuộc

Đầm phá Thừa Thiên Huế, Nghệ An và Thanh Hoá. Với các diễn biến môi trường

và dịch bệnh ngày càng phức tạp, ý thức tự nguyện tham gia tổ cộng đồng tự quản

càng ngày càng lên cao, khẳng định tính phù hợp và bền vững của mơ hình quản lý

cộng đồng do dự án khởi xướng. Nhiều địa phương đã chỉ đạo và hướng dẫn người

dân tham gia quản lý cộng đồng và huy động người dân đóng góp quỹ cộng đồng để

xử lý các rủi ro do dịch bệnh và ô nhiễm môi trường.

Thử nghiệm quản lý môi trường dựa vào cộng đồng của dự án VIE/97/030 đã đạt

được những kết quả tốt như đã thành lập được các nhóm cộng đồng, xây dựng được

các quy ước, đã triển khai được một số hoạt động cụ thể có tính cộng đồng. Điều đó

đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, góp ổn định an ninh- xã hội, nâng cao ý

thức bảo vệ môi trường và nâng cao kỹ thuật nuôi của người dân [17].

Ngoài ra, đối với với ven biển, phá Tam Giang là một trong những điểm đầu tiên có

hình thức quản lý dựa vào cộng đồng được áp dụng.

1.5. Tính bền vững của hoạt động ni trồng thuỷ sản có sự tham gia của người

dân:

Sự phụ thuộc của đời sống các loài thuỷ sản đối với các nhân tố mơi trường.

Đối với ni trồng thuỷ sản thì các nhân tố mơi trường có ý nghĩa rất quan



25



trọng đối với sự sống. Các nhân tố này có mối quan hệ chặt chẽ với đời sống của

các loài động vật-thực vật. Sự thay đổi quá giới hạn sinh thái của mỗi nhân tố môi

trường đều gây hại đối với sinh vật.. Trong công tác nuôi trồng thuỷ sản, những ảnh

hưởng của sự thay đổi này càng cần phải được cảnh báo sớm để tránh những hậu

quả xấu như gây chết hàng loạt tơm, cá,…Do đó cần phải chú ý đến một số nhân tố

môi trường cơ bản sau đây:

- Nhiệt độ ảnh hưởng tới nhiều phương diện trong đời sống của tơm: hơ hấp,

tiêu thụ thức ăn, đồng hố thức ăn, miễn nhiễm đối với bệnh tật, sự tăng trưởng...

Nhiệt độ thay đổi theo khí hậu mỗi mùa, vì thế tại miền Nam Việt Nam có thể ni

tơm quanh năm trong khi miền Bắc chỉ khai thác được vào mùa nóng. Khi nhiệt độ

nước thấp dưới mức nhu cầu sinh lý của tơm sẽ ảnh hưởng đến q trình chuyển

hố vật chất bên trong cơ thể (biểu hiện bên ngoài là ngừng bắt mồi, ngưng hoạt

động và nếu kéo dài thời gian có nhiệt độ thấp tơm sẽ chết). Khi nhiệt độ quá giới

hạn chịu đựng và kéo dài, tôm bị rối loạn sinh lý và chết (biểu hiện bên ngoài là

cong cơ, đục cơ, tơm ít hoạt động nằm im ngừng ăn và tăng cường hô hấp). Nhiệt

độ cao hay thấp đều có thể ảnh hưởng đến tỷ lệ sống của tơm, gián tiếp gia tăng sự

rủi ro.

- Các lồi khác nhau có khả năng chịu đựng sự biến đổi nồng độ muối khác

nhau. Tơm thẻ có khả năng chịu đựng sự biến đổi của nồng độ muối thấp hơn so với

tôm sú. Tôm sú sinh trưởng và phát triển ở độ mặn 15-25 % 0. Qua thực tế nuôi tôm,

nồng độ muối xuống thấp dưới 15%0 tôm sẽ giảm số lần lột xác và lớn chậm. Nồng

độ muối ảnh hưởng ít nghiêm trọng hơn so với nhiệt độ khi nghiên cứu tỷ lệ sống

của tôm nuôi Sự thay đổi đột ngột về độ mặn sẽ có tác hại đến q trình trao đổi

chất, sinh lý cơ thể, tập tính sống,...Nếu độ mặn vượt quá ngưỡng tôm sẽ bị "sốc".

Nhưng nồng độ muối trong ao nuôi tôm lại lệ thuộc vào tỉ lệ nắng mưa, cứ sau trận

mưa rào, nồng độ muối trong ao giảm chủ yếu ở tầng mặt, ngược lại nắng nóng kéo

dài độ mặn trong nước lại tăng cao. Do vậy cần phải kiểm tra độ mặn thường xuyên.

Nếu độ mặn xuống thấp, phải có các biện pháp xử lý như tháo bỏ nước tầng mặt cho

đến khi nồng độ muối ổn định. Hoặc độ mặn tăng cao qúa giới hạn thì lại cấp nước

mặn mới vào cho đủ nước qui định.

- O xy hoà tan: Oxy hồ tan là một chất khí quan trọng nhất trong số các chất



26



khí hồ tan trong mơi trường nước. Nó rất cần thiết đối với đời sống của sinh vật,

đặc biệt là đối với thuỷ sinh vật, cá, tôm....Trong ao ni tơm hay ao ni thuỷ sản

nói chung thì lượng oxy hồ tan trong nước có sự dao động lớn giữa ngày và đêm.

Vào ban đêm oxy thường bị thiếu hoặc sau khi mưa to. . Hàm lượng oxy hoà tan đủ

để tôm sống là 3,5mg/l. Nhưng hàm lượng oxy để cho tôm sinh trưởng và phát triển

là 4-5 mg/l. Nếu thiếu oxy trong nước dưới mức 3mg/l, tôm thiếu dinh dưỡng và bơi

lội khơng bình thường. Nếu hàm lượng oxy xuống thấp hơn 2mg/l thì tơm đã chết.

Khi trong ao ni phát hiện ra thiếu hàm lượng này thì phải tăng cường bằng các

máy sục khí hay thay nước,…

Bảng 1-1Bảng



1.1: Ứng xử của tôm liên quan đến lượng oxy hoà tan



Oxy hoàn tan (ppm)

0.3

1.0

2.0

3.0

4.0

5.0 - 6.0 - 7.0



Ứng xử của tôm

tôm bị chết

tôm bị ngạt thở

tôm không lớn được

tôm chậm lớn

tơm sinh sống bình thường

tơm khỏe mạnh và tăng trưởng nhanh

(Nguồn: Trang thông tin Nghệ An; [17])



- pH là yếu tố quan trọng. Khi quá cao hay quá thấp (pH<7 hay pH>9)làm tơm khó

lột xác, mang và các phần phụ bị biến màu và trở nên yếu, dễ bị nhiễm bệnh. Mọi

sự biến động pH đều có ảnh hưởng đến đời sống của tôm, cá. Ao hồ nuôi tôm mà có

độ pH trong khoảng 7,2-8,8 thì được coi là thích hợp.

- Q trình trao đổi chất của các lồi trong nước và các loại sinh vật khác sinh ra

nhiều loại chất khác nhau. Ví dụ như khí CO2 và NH3 sinh ra từ quá trình trao đổi

chất và phân huỷ chất thải. Đối với tôm, sự phân huỷ các chất thải của tôm, thức ăn

thừa, chất hữu cơ, tảo chết,…sẽ tạo nhiều chất dưỡng chất nhưng cũng tạo ra các

khí độc khác có tác hại đối với tơm mà chủ yếu là ở tầng đáy như H 2S, NH3, NO2,…

H2S trong nước độc với tôm, hàm lượng sẽ tăng khi pH, oxy hoà tan thấp và nhiệt

độ cao.

- Độ đục cũng có vai trò trong q trình ni tơm vì thức ăn của tơm, cá, và một

số lồi thuỷ sản là tảo. Nhờ ánh sáng mặt trời, tảo mới phát triển và là nguồn thức



27



ăn cung cấp cho các loài.

- Các yếu tố như kim loại nặng, dầu mỡ, thuốc trừ sâu,…là những nhân tố có

ảnh hưởng đến sự sống các loài trong nước. Khi nồng độ của chúng trong môi

trường nước quá cao, sẽ gây chết đột ngột các lồi thuỷ sản. Với hàm lượng thấp

các thơng số này nhiễm vào các lồi ni trồng, tích luỹ lại trong cơ thể các loài và

gây hại đối với con người khi sử dụng các sản phẩm thuỷ sản đã bị nhiễm độc này. Thuốc bảo vệ thực vật: các loại hố chất độc hại xâm nhập vào mơi trường nước,

với liều lượng cao có thể gây chết. Ngồi ra, chúng còn có thể lắng đọng và xâm

nhập vào cơ thể các loài, nguy cơ độc hại với con người khi sử dụng các sản phẩm

thuỷ sản.

Các tác động đến môi trường của hoạt động nuôi trồng thuỷ sản

Trong nuôi trồng thuỷ sản, trừ phương thức nuôi quảng canh, nuôi sinh thái là

không sử dụng các loại thức ăn bổ sung, còn các phương thức ni còn lại ( (thâm

canh, bán thâm canh,..) đều sử dụng thức ăn dưới nhiều dạng như: thức ăn thô, sơ

chế và thức ăn tổng hợp. Các loài thuỷ sản ở giai đoạn đầu của quá trình sinh trưởng

và phát triển cần một lượng Protein rất lớn. Do vậy thức ăn dùng trong nuôi trồng

thuỷ sản thường có độ đạm cao từ 30-57% tuỳ theo lồi, kích cỡ, độ tuổi và điều

này gây nhiều phiền tối trong việc kiểm sốt mơi trường ni.

Các vấn đề môi trường liên quan đến sản xuất phát sinh từ nuôi trồng thuỷ sản

phần lớn gắn với các yếu tố đầu vào và các chất thải từ các ao hồ hay lồng nuôi.

Việc nuôi trồng phụ thuộc vào việc thay đổi nước có thể tạo ra ảnh hưởng mơi

trường do việc thải các chất dinh dưỡng, các chất hoá học và các mầm bệnh. Tại

Việt Nam, các tác động này xuất hiện chủ yếu từ việc nuôi tôm và nuôi cá lồng.

Mặc dù hiện nay nuôi tôm đang được tiến hành một cách dàn trải, nhưng sự tập

trung các trại nuôi tôm lớn trong một vài khu vực cộng thêm việc xử lý nước kém sẽ

dẫn tới việc tái sử dụng nước giữa các trại tơm và đó là nhân tố chính gây nên dịch

bệnh lan tràn. Việc sử dụng chất hố học và thuốc trừ bệnh trong ni trồng thuỷ

sản có thể dẫn tới hiện tượng nhiễm độc do các chất đọng lại trong nước thải của

trại nuôi. Sử dụng các chất hoá học nhằm kiểm soát dịch hại trong nuôi trồng bán

thâm canh đã gây nên những tác động xấu cho mơi trường khi khơng được kiểm

sốt thích hợp.



28



Ni trồng thuỷ sản cũng dẫn tới việc hình thành bùn thải do phân cá và các

thức ăn còn lại, phần lớn là trong nuôi thâm canh. Các bùn này cần được thường

xuyên nạo vét khỏi các ao hồ. Bùn và các chất lắng đọng ở đáy ao hồ thường có tỉ lệ

BOD và mức dinh dưỡng cao và do đó, nếu được thải bằng cách tháo nước như hiện

nay nông dân vẫn làm sẽ dẫn tới việc lạm phát dinh dưỡng và mất dần khí oxy trong

nước.

Trên thực tế, các nguyên nhân dẫn tới việc tôm chết trên diện rộng là do những

biến động bất thường của thời tiết, hạn hán kéo dài, nhiệt độ và độ mặn trong ao

nuôi tăng cao. Mặt khác, do tốc độ tăng diện tích ni trồng thuỷ sản nhanh nên hệ

thống thuỷ lợi chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển, thiếu hệ thống cấp nước ngọt,

thiếu tôm bố mẹ và chất lượng tôm mẹ kém dẫn đến nhiều nơi tôm giống thả khơng

đạt tiêu chuẩn kỹ thuật.

1.6. Vị trí và vai trò của các chủ thể trong nuôi trồng thủy sản để bảo đảm

ni trồng được bền vững

Thơng qua việc phân tích sự phụ thuộc của đời sống thuỷ sản vào các yếu tố môi

trường và các tác động qua lại giữa mơi trường và ni trồng thuỷ sản kể trên, có

thể thấy vai trò và chức năng của các chủ thể trong việc đảm bảo nuôi trồng thuỷ

sản bền vững như sau:

Người ni: Tính bền vững của hoạt động ni trồng thuỷ sản phụ thuộc thực sự

vào cách quản lý và chăm sóc của người ni. Nhân tố thời tiết cũng đóng một vai

trò nhất định, nhưng người ni là chủ thể quyết định đến tính bền vững của nghề

ni trồng. Đặc biệt, quan trọng nhất là công tác quản lý môi trường nuôi và các

yếu tố đầu vào như: thức ăn, con giống của người nuôi. Đây là nhân tố chính quyết

định tính bền vững của ni trồng thuỷ sản.

Các cơ quan chức năng địa phương: có vai trò tạo điều kiện thuận lợi cho người

nuôi trồng thông qua việc ban hành các cơ chế, chính sách hỗ trợ cho người ni về

các phương pháp khoa học, các quy trình trong ni trồng. Lên lịch thời vụ cho các

nhóm cộng đồng, phát động phong trào thả tôm đúng thời vụ, kiểm dịch chất lượng

con giống, các cán bộ thực địa thường xuyên tư vấn kỹ thuật, cùng với hộ nuôi giải

quyết các vấn đề khó khăn trong kỹ thuật quản lý và chăm sóc ao ni. Tạo điều



29



kiện đầu tư tái sản xuất, xây dựng ao đầm, giải quyết kịp thời những vướng mắc của

người dân. Xây dựng ban quản lý có nhiệm vụ cấp thốt nước, dự báo mơi trường,

thời tiết, vụ nuôi. Hướng dẫn người nuôi sử dụng hố chất, thức ăn có hiệu quả.

Như vậy để phát triển bền vững nuôi trồng thuỷ sản, cần quản lý chặt chẽ các nhân

tố môi trường nước, là các nhân tố quyết định đến đời sống của các loài thuỷ sản.

Mà trong ni trồng thuỷ sản thì dịch bệnh và môi trường là hai nhân tố luôn gắn

kết với nhau và luôn tiềm ẩn những rủi ro cho người nuôi trồng nếu chúng khơng

được quản lý và kiểm sốt chặt chẽ.

1.7. Các nội dung cần quản lý khi thực hiện quản lý mơi trường ni.

Qua phân tích ta thấy rằng để nuôi trồng thuỷ sản ổn định và bền vững, người dân

cần quản lý các nhân tố:

- Chuẩn bị ao nuôi: vệ sinh ao, xử lý môi trường ao nuôi, xử lý nước cấp vào ao, có

sự thống nhất trong cộng đồng về lịch lấy nước và xả nước để tránh các tác động

khơng đáng có.

- Chọn tơm giống và thả giống

- Quản lý Dịch bệnh: Phương châm trong quản lý bệnh tơm là “Phòng bệnh hơn trị

bệnh”. Để quản lý tốt bệnh tôm người dân cần phải:

Theo dõi chặt chẽ hoạt động tôm hàng ngày. Kiểm tra sức khoẻ tơm hàng ngày.

Bằng kinh nghiệm của mình về thời tiết ở địa phương, thông qua đài báo, dự kiến

sự biến động của thời tiết để có biện pháp xử lý trong ao nuôi kịp thời. Những biện

pháp xử lý đối với sự biến động của thời tiết sẽ nâng cao đáng kể sức khoẻ và khả

năng đề kháng của tôm ni.

1.8. Ni trồng thuỷ sản có sự tham gia của cộng đồng tại Quỳnh Bảng và

Hưng Hoà.

Xã Quỳnh Bảng là một trong 29 xã ven biển của tỉnh Nghệ An thuộc huyện Quỳnh

Lưu. Là một trong những xã có phong trào nuôi trồng thuỷ sản phát triển mạnh nhất

tỉnh Nghệ An với 112,7 ha diện tích ni và hơn 150 hộ nuôi thuỷ sản. Đối tượng

được nuôi ở đây chủ yếu là tôm sú, nơi tập trung nuôi nhiều và phát triển mạnh nhất

đó là khu ni tơm cơng nghiệp Quỳnh Bảng. Đặc biệt, với sự đầu tư trong khu

nuôi tôm công nghiệp, sản lượng NTTS cũng như thu nhập của người dân tăng lên



30



đáng kể. Để đảm bảo cuộc sống ổn định của người dân trong xã, vấn đề môi trường

trong nuôi trồng thuỷ sản cần được đặc biệt quan tâm. Cần có sự kết hợp giữa

những người ni và chính quyền các cấp để tìm ra biện pháp quản lý môi trường

phù hợp và bền vững. Quỳnh Bảng cũng là một điểm thử nghiệm của dự án VIE/

97/030, thực hiện tiến hành một số thử nghiệm quản lý môi trường trong NTTS dựa

vào cộng đồng ở khu vực Bắc Trung Bộ. Những thử nghiệm này nhằm xem xét khả

năng thực hiện và phổ biến nhân rộng mơ hình quản lý mới trong NTTS.

Hưng Hoà là một xã ngoại thành- thành phố Vinh nằm ở phía Nam thành phố, tiếp

giáp với sông Lam, cách cửa biển 6 Km.Xã Hưng Hoà với 250 ha đất chưa được sử

dụng, hiện nay hầu hết nằm trong vùng ngập trũng của cánh đồng cói hoang hố,

hoặc năng suất thấp, là tiềm năng lớn thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thuỷ

sản. Đây là vùng đã được quy hoạch bài bản, hệ thống cấp, tiêu được quản lý, điều

tiết chặt chẽ. Trong quá trình ni, ở vùng mới do dân lần đầu tiên bước vào sản

xuất nên các khâu kỹ thuật cơ bản còn nắm chưa rõ nhưng được sự giúp đỡ của Đội

thanh niên tình nguyện của Sở Thủy sản, bà con yên tâm sản xuất và đã đạt được

kết quả rất cao với 100% hộ ni có lãi với mức bình quân trên 30triệu/ha, năng

suất đạt 0.95 tấn /ha.

Với quy mô nuôi trồng thuỷ sản và các hoạt động quản lý môi trường hiện tại ở 2 xã

như vậy, Quỳnh Bảng và Hưng Hoà là hai địa điểm được chọn để nghiên cứu.

1.9. Phương pháp đánh giá nhanh có sự tham gia

PRA là chữ viết tắt của ba từ tiếng Anh: Participatory Rural Appraisal, nghĩa là

phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân. PRA bao gồm một

loạt cách tiếp cận và phương pháp khuyến khích, lơi cuốn người dân nông thôn

cùng tham gia chia sẻ, thảo luận và phân tích kiến thức của họ về đời sống và điều

kiện nông thôn để họ lập kế hoạch và thực hiện.

PRA là hướng phát triển cộng đồng để hỗ trợ cộng đồng có khả năng đưa ra quyết

định cho chính họ. Từ đó cộng đồng có thể xác định rõ những hoạt động và kế

hoạch phù hợp với những thế mạnh và nguồn lực của họ để thực hiện sự phát triển

bền vững (Aversa và ctv, 2003).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1.3. Quản lý môi trường dựa vào cộng đồng trong nuôi trồng thuỷ sản.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×