Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ảnh hưởng đồng thời của nhiệt độ và nồng độ muối lên tỉ lệ d

ảnh hưởng đồng thời của nhiệt độ và nồng độ muối lên tỉ lệ d

Tải bản đầy đủ - 0trang

Cùng một nhiệt độ, tỉ lệ dị hình ở các nồng độ muối có sự sai khác nhau (độ

tin cậy >95%). Sự sai khác rõ ràng nhất ở mức nhiệt độ 23oC. ở nhiệt độ này,

tỉ lệ dị hình của ấu trùng cá tại các nồng độ muối 30o/oo, 35o/oo, 40o/oo lần lợt

là 9%, 7% và 15%. Trong khi đó, ở nhiệt độ 29oC, cũng ở các mức nồng độ

trên, tỉ lệ dị hình lần lợt là: 7%, 6% và 8%. ở nhiệt độ 26oC, tỉ lệ dị hình ở

các mức nồng độ trên là 5%, 3%, 6%.

Cùng một mức nồng độ muối, ở các nhiệt độ khác nhau, tỉ lệ dị hình có sự sai

khác nhau (độ tin cậy 95%). Sự sai khác rõ ràng nhất ở mức nồng độ muối

40o/oo. Tỉ lệ dị hình ở các nhiệt độ 23oC, 26oC và 29oC lần lợt là 15%, 6% và

8%. Trong khi đó, cũng ở các nhiệt độ trên, tỉ lệ dị hình tại nồng độ muối

30o/oo là 9%, 5% và 7%. Tại nồng độ muối 35o/oo là 7%, 3% và 6%.

Tỉ lệ dị hình cao nhất (15%) thu đợc ở điều kiện 23oC và nồng độ muối

40o/oo. Nhiệt độ thấp (23oC) làm giảm tốc độ của các phản ứng sinh hoá của

phôi. Mặt khác, nồng độ muối cao (gradient nồng độ muối giữa nồng độ dịch

chất trong tế bào và nồng độ môi trờng lớn), đòi hỏi phôi phải mất năng

lợng cho quá trình điều hòa thẩm thấu. Thời gian nở dài (37 giờ). Vì thế,

phôi vừa mất năng lợng cho thời gian nở bị kéo dài vừa mất năng lợng cho

điều hoà thẩm thấu. Năng lợng dự trữ bị sử dụng nhiều, noãn hoàng còn ít, ấu

trùng nở ra có kích thớc cơ thể nhỏ và yếu.

Tỉ lệ dị hình thấp nhất của các mức nồng độ muối luôn đạt đợc ở nhiệt độ

26oC. Nồng độ muối cao có ảnh hởng bất lợi lên nhiệt độ phát triển ®· ®−ỵc

David S. Nichols (2000) [30] chøng minh chØ khi nhiệt độ không phù hợp. Mặt

khác, tỉ lệ dị hình thấp nhất của nhiệt độ khác nhau luôn tìm thấy ë nång ®é

muèi 35o/oo. Theo Thomas P. Hurst (2002) [31], ở nhiệt độ thấp tỉ lệ sống cao

nhất đợc quan sát ở nồng độ muối phù hợp. Nếu một điều kiện bất lợi xảy ra

(nhiệt độ hoặc nồng độ muối), điều kiện còn lại nằm trong khoảng phù hợp sẽ

làm giảm tỉ lệ dị hình.



58



Kết quả của chúng tôi cho thấy, phôi cá giò phát triển tốt ở các mức nhiƯt ®é

26oC ®Õn 29oC, nång ®é mi tõ 30 ®Õn 40 o/oo. Trong ®ã, tèt nhÊt ë møc nhiƯt

®é 26oC và nồng độ muối 35/oo. Điều này phù hợp với nghiên cứu về thời gian

và địa điểm sinh sản của Cathleen Bester [45] rằng : cá giò thờng đẻ trứng

vào ban ngày giữa tháng Sáu và tháng Tám ở Đại Tây Dơng gần Vịnh

Chesapeake, ngoài khơi Bắc Carolina vào tháng Năm và tháng Sáu, ở Vịnh

Mexico trong suốt tháng T đến tháng Chín. Nh vậy, cá giò thờng đẻ ở

Vịnh chứng tỏ phát triển phôi cá giò thích hợp với nồng độ muối cao và nhiệt

độ cao. Cụ thể là nhiệt độ 26,5oC và nồng độ muối 33 35o/oo (Hassler et al. ,

1975) [48].



59



Chơng 4. kết luận và đề xuất ý kiến

4.1.



Kết luận



Từ các kết quả nghiên cứu trên, chóng t«i rót ra mét sè kÕt ln sau:

1. NhiƯt độ thích hợp nhất cho sự phát triển phôi cá giò là 26oC. ở nhiệt độ

này cá có thời gian në kh¸ nhanh (25 giê), tØ lƯ në cao nhÊt (81%), tỉ lệ dị

hình thấp nhất (4%). ở nhiệt độ 35oC, phôi chết ngay từ sau giai đoạn phân

cắt. Nhiệt độ 20oC, phôi không thể nở đợc.

2. Nồng độ muối thích hợp nhất cho sự phát triển phôi cá giò là 35o/oo. ở

nồng độ muối này thời gian nở của phôi cá giò tơng đối nhanh (25 giờ), tỉ

lệ nở cao nhất (83%), tỉ lệ dị hình thấp nhất (5 %). ở các mức nồng độ

muối 15, 20 và 25o/oo, trứng cá giò bị chìm dới đáy dụng cụ ấp.

3. Nhiệt độ 26oC, nồng độ muối 35o/oo là mức thích hợp nhất cho sự phát triển

phôi cá giò với thời gian në kh¸ nhanh (25 giê), tØ lƯ në cao nhất (82%), tỉ

lệ dị hình thấp nhất (3%). Không nên ấp trứng cá giò ở mức nhiệt độ thấp

(23oC) đồng thời với nồng độ muối cao 40o/oo, vì ở điểm này phôi cá có

thời gian nở dài nhất (37 giờ), tỉ lệ nở thấp nhất (35%), tỉ lệ dị hình cao

nhất (15%).

Cùng một nồng độ muối, quá trình phát triển phôi tốt nhất ở nhiệt độ 26oC.

Cùng một nhiệt độ, phôi cá giò phát triển tốt nhất ở nồng độ muối 35o/oo.

4. Nếu một trong hai nhân tố nhiệt độ và nồng độ muối nằm trong khoảng bất

lợi, ta có thể điều khiển nhân tố kia ở mức thích hợp nhất để tăng hiệu quả

sản xuất.



60



4.2.



Đề xuất ý kiến



1. Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy nhiệt độ và nồng độ muối là 2 nhân

tố vật lý có ảnh hởng khá rõ rệt đến sự phát triển phôi cá giò. Tuy

nhiên, chúng tôi chỉ mới nghiên cứu ảnh hởng của chúng lên thời gian

nở, tỉ lệ nở và tỉ lệ dị hình. Vì vậy, cần có những nghiên cứu tiếp tục để

xác định rõ bản chất của sự ảnh hởng này nhằm khẳng định thêm mức

nhiệt độ và nồng độ muối phù hợp nhất.

2. Trong quá trình tiến hành thí nghiệm, chúng tôi phải mất thời gian để

điều chỉnh nhiệt độ và nồng độ muối. Vì thế, chúng tôi không theo dõi

đợc ảnh hởng của nhiệt độ và nồng độ muối lên sự phát triển ban đầu

của phôi. Cần nghiên cứu ảnh hởng của hai nhân tố này bằng cách

thiết lập điều kiện môi trờng cá đẻ ở các mức yêu cầu để có đợc kết

quả chính xác hơn ngay từ giai đoạn phân cắt.

3. ảnh hởng của nhiệt độ và nồng độ muối đến sự phát triển phôi chắc

chắn sẽ gây ra những ảnh hởng nhất định đến sự phát triển tiếp tục của

các giai đoạn ấu trùng sau này. Cần tiến hành các nghiên cứu này trong

thời gian dài hơn, liên tục hơn đối với quá trình biến thái và phát triển

của ấu trùng nhằm khẳng định thêm mức nhiệt độ và nồng độ muối phù

hợp nhất.

4. Ngoài các yếu tố trên, cần nghiên cứu thêm các ảnh hởng của các yếu

tố môi trờng khác nh: ánh sáng, DO và mật độ ấp đến quá trình phát

triển phôi cá giò.



61



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ảnh hưởng đồng thời của nhiệt độ và nồng độ muối lên tỉ lệ d

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×