Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ảnh hưởng của nồng độ muối lên tỉ lệ nở của phôi

ảnh hưởng của nồng độ muối lên tỉ lệ nở của phôi

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nồng độ muối là một trong những nhân tố quan trọng quyết định tỉ lệ nở của

phôi cá giò. Tỉ lệ nở ở các nồng độ muối khác nhau thì khác nhau. Nồng độ

muối càng cao, tỉ lệ nở càng tăng (độ tin cậy 95%). Tỉ lệ nở cao nhất đạt đợc

tại mức 35o/oo. Đến mức 40o/oo, tỉ lệ nở có xu hớng giảm dần (71%) và không

có sự sai kh¸c ý nghÜa víi møc 30o/oo (74%). Cơ thĨ ë c¸c møc thÝ nghiƯm

15o/oo, 20 o/oo; 25 o/oo; 30 o/oo; 35 o/oo và 40 o/oo tỉ lệ nở tơng ứng là 8%, 30%,

49%, 74%, 83%, 71% .

100



%

83



80



71



74

60

49

40

30

20

8

0



o



15



20



25



30



35



40



/oo



Hình 3.7: ảnh hởng của nồng độ muối lên tỉ lệ nở của phôi

Đồ thị biểu diễn tỉ lệ nở của phôi cá giò ở các mức nồng độ muối khác nhau

có dạng của phơng trình y=ax2 +bx+c, cụ thể :

y= - 0.0283x2 + 0.341 x- 0.2554 (víi r2 =0.9328)

§−êng Parabol cã hƯ sè a <0, chứng tỏ rằng phơng trình có điểm cực đại.

Hay nói cách khác, có mức nồng độ muối cho tỉ lệ nở cao nhất. Các mức nồng

độ muối khác ®Ịu cho tØ lƯ në thÊp h¬n.

Cã mèi quan hƯ giữa nồng độ muối và tỉ lệ chết ở trứng cá nổi. Phôi chết khi

không thể duy trì áp suất thẩm thấu bình thờng do gradient nồng độ không

thích hợp. Theo Bunn N. A.; Fox C.J. vµ Webb T. (2000) [33], trứng cá biển

có khả năng điều hoà thẩm thấu để phản ứng lại sự thay đổi nhỏ nồng độ

muối. Nếu biên độ này lớn quá khả năng chịu đựng của phôi, phôi sẽ không

thể điều hòa đợc áp suất thẩm thấu và dẫn đến chết.



47



Mô có khả năng chịu ®ùng vµ ®iỊu hoµ thÈm thÊu ë nång ®é mi nào, cơ thể

sẽ có khả năng sống ở nồng độ muối ấy (Weisbart, 1968) [29]. Nhiều công

trình nghiên cứu cho thấy nồng độ muối có ảnh hởng lên sự phát triển phôi.

Nghiên cứu trên cá bơn, Gerd Wengner (2002) [19] cho rằng trong những giờ

đầu tiên sau khi thụ tinh, cấu tạo của trứng có khả năng chịu đựng rất kém với

môi trờng, đặc biệt là các nhân tố vật lý nh nồng độ muối. Khi trứng phát

triển lớn hơn, khả năng chịu đựng của trứng tăng lên và làm cho tỉ lệ chết

giảm bớt.

Tổng hợp các nghiên cứu trên cá xơng, N.A.Bunn (2000) [33] cho thấy khả

năng chịu đựng víi sù biÕn ®éng nång ®é mi thÊp nhÊt ë giai đoạn phôi

nang và đầu giai đoạn phôi vị [33].

Khi nghiên cứu trên phát triển phôi cá vợc đá Gymnocephalus cernuus nớc

ngọt và nớc lợ, Markuss Vetemaa (1996) [29] lại cho r»ng, tØ lƯ chÕt cđa ph«i

cao nhÊt trong st giai đoạn phôi vị. Tỉ lệ phôi chết cao nhất khi nồng độ

muối tăng (so với điều kiện thích hợp), xảy ra trong giai đoạn phôi vị. Tỉ lệ

chết thấp ở những giai đoạn sau do phôi đã có thể bắt đầu điều hoà thẩm thấu

qua phôi vị.

Trong khi đó, Klinkhart và Winklerr (1989) xác định phôi phát triển thành 3

giai đoạn: thụ tinh, phôi dâu/phôi vị, điểm mắt. Các ông đã cho thấy, tỉ lệ phôi

chết tăng ở giai đoạn điểm mắt khi nồng độ muối quá thấp hoặc quá cao. ở

nồng độ muối thấp, nhiều phôi sẽ chết khi nở hoặc khi hình thành cơ quan

[29]. Theo Taylor (1971) phôi nhạy cảm nhất trớc khi đóng lỗ phôi và ngay

trớc khi nở.

Mặc dù các kết quả nghiên cứu khác nhau, nhng đều có chung một kết luận

rằng: nồng độ muối có ảnh hởng rõ rệt đến sự phát triển phôi cá. Thực tế

trong thí nghiệm với cá giò, quan sát dới kính hiển vi, chúng tôi thấy: ở giai

đoạn phôi nang và trong suốt giai đoạn phôi vị, tỉ lệ phôi chết xảy ra ở các



48



mức nồng độ muối. Trong đó, các mức 15, 20 và 25/oo tỉ lệ chết rất cao. Trong

giai đoạn thể phôi, tỉ lệ chết giảm. Đến giai đoạn nở tỉ lệ chết lại tăng.

Holiday (1969) cho rằng khi trọng lực thấp nh khi nồng độ muối thấp sẽ

khiến cho việc giải phóng ấu trùng khỏi nang trứng trở nên khó khăn. Trong

khi với nồng độ muối cao, màng đệm không thể vỡ ra 1 cách dễ dàng. Quá

trình trứng cá nở yêu cầu sù hiƯn diƯn cđa enzym në Chorionase, enzyme nµy

sÏ thủ phân lớp bên trong của trứng, bộ phận chịu trách nhiệm phát triển

thành hệ thống cơ của cuống đuôi giúp cho việc phá vỡ màng đệm của trứng.

ở nồng độ muối thấp hoạt động của enzyme nở sẽ bị hạn chế kết quả là sự

phát triển không đầy đủ của cơ cuống đuôi và cơ đuôi. Điều này đã giải thích

đợc lý do vì sao giảm nồng độ muối lại không thích hợp cho việc nở của

trứng cá biển [41]. ë nång ®é muèi cao, theo Markus Veteman (1996) [29]

nång độ muối tăng lên làm ảnh hởng đến hình thái và sinh lý của phôi từ đó

ảnh hởng gián tiếp đến tuyến nở của phôi làm cho tỉ lệ nở của cá thấp hơn.

Mặt khác, quá trình phát triển phôi đòi hỏi một nhu cầu Ôxy rất lớn. Nhng ở

những mức nồng độ muối thấp, trứng cá giò bị chìm dới đáy dụng cụ thí

nghiệm. Những trứng này không đợc cung cấp đầy đủ Ôxy, đặc biệt là các

giai đoạn nhạy cảm: phân cắt, phôi vị, hình thành các cơ quan, và giai đoạn

nở. Vì thế, tỉ lệ sống của các giai đoạn này bị giảm dần dẫn đến tỉ lệ nở thấp.

Khi nghiên cứu trên cá tuyết, Ingegjerd Opstad (2003) [23] cho rằng phôi cá

phát triển tốt nhất ở môi trờng đẳng trơng với dịch chất tế bào. Là những

giai đoạn không thể thích nghi cho việc điều hoà áp suất thẩm thấu nh những

cá thể hoàn chỉnh [32], khi phát triển ở nồng độ muối đẳng trơng phôi và ấu

trùng có thể tiết kiệm tối đa năng lợng phát triển cho việc điều hoà áp suất

thẩm thấu [23]. Tuy nhiên, Wen-Bin Huang (1998) [41] trong nghiên cứu về

cá mùi lại cho rằng phôi cá biển tồn tại trong môi trờng u trơng tốt hơn

trong môi trờng đẳng trơng, mặc dù phôi phải mất năng lợng trong điều

hoà áp suất thẩm thấu.



49



Kết quả thí nghiệm của chúng tôi trên cá giò tơng tự với kết quả của WenBin Huang (1998) trong thí nghiệm trên cá mùi Acanthopagrus schlegeli ở các

nồng độ muối 28, 31, 34 và 37o/oo, nồng độ mi cao cho tØ lƯ në cao. TØ lƯ në

lµ 85% ë 34 vµ 37 o/oo, 60% ë 31 o/oo, không có trứng nào nở ở 28 o/oo [41].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi tơng đối phù hợp với kết quả của Trơng

Văn Thợng (2000) [6] trên cá giò rằng tỉ lệ nở ở các mức nồng độ 30 o/oo và

34 o/oo cao hơn nồng độ 26 o/oo. Tỉ lệ nở các nồng độ 26 o/oo, 30 o/oo và 34 o/oo là

73,36%; 90% và 89,96%.

3.2.3. ảnh hởng của nồng độ muối lên tỉ lệ dị hình của ấu trùng

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: tỉ lệ dị hình của ấu trùng ở các

mức nồng độ muối khác nhau thì khác nhau (độ tin cậy > 0,95). Từ mức 15o/oo

đến 35o/oo nồng độ muối càng tăng tỉ lệ dị hình càng giảm. Tỉ lệ dị hình lại

tăng lên ở mức nồng độ muối 40o/oo. Kết quả thể hiện cụ thể ở bảng 3.6 và

hình 3.8

Bảng 3.6: ảnh hởng của nồng độ muối lên tỉ lệ ấu trùng dị hình

Nồng độ muối



15



o



( /oo)



Tỉ lệ (%)



27 4,71



20



25



30



35



40



21 2,26



15 2,16



7 1,15



5 1,15



92,33



%



30



27



25



21



20

15



15



10



9



7



5



5



0



o



15



20



25



30



35



40



/oo



Hình 3.8: ảnh hởng của nồng độ muối lên tỉ lệ ấu trùng dị hình



50



Tỉ lệ ấu trùng dị hình ở các nồng độ muối khác nhau phân bố theo phơng

trình sau:

y = 0.0154x2 - 0.1504x + 0.4511



r2 = 0.9911



Phơng trình bậc hai có a> 0 chứng tỏ rằng phơng trình có điểm cực tiểu.

Hay nói cách khác, có mức nồng độ muối cho tỉ lệ dị hình thấp nhất. Ngoài

điểm này, nồng độ muối quá cao hay quá thấp đều cho tỉ lệ dị hình cao hơn.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi khẳng định thêm các kÕt ln cđa Huang,

W,B. (2000) [41] vµ cđa Horvath L; Tamas G. và Tolg I (1984) [29] là : Khả

năng tồn tại của các giai đoạn phát triển sớm ở những nồng độ muối khác

nhau phụ thuộc vào chức năng của dịch chất bên trong tế bào. ở nồng độ

muối khác xa với nồng độ phân bố tự nhiên, hiện tợng phôi dị hình sẽ xuất

hiện. Sự phát triển phôi bị dừng, màng trứng sẽ phồng lên khoảng 20% [41].

Nếu phôi cá đợc ấp ở nồng độ muối không thích hợp mà đã phát triển đợc

đến giai đoạn phôi vị thì sẽ tồn tại cho đến trớc khi nở. Tuy nhiên, những

phôi này khi nở đều có dấu hiệu dị hình biểu hiện đuôi ngắn và cong hơn, tim

đập rất chậm [29].

Khi nghiên cứu về sự phát triển phôi của một số loài cá xơng nói chung,

Bunn N. A.; Fox C.J. vµ Webb T. (2000) [33] cho r»ng: Thêi gian nở của

trứng tăng khi nồng độ muối không thích hợp. Quá trình phát triển phôi kéo

dài đã tiêu tốn một phần năng lợng làm cho kích thớc noãn hoàng của trứng

bị giảm đi sau khi nở. Kích thớc noãn hoàng nhỏ thờng thấy khi trứng đợc

ấp trong nồng độ muối quá thấp hoặc quá cao. Điều này bắt gặp ở đa số các

loài cá, ngay cả với những loài rộng muối. Kích thớc ấu trùng nhỏ hơn khi

trứng đợc ấp trong nồng độ muối khác với môi trờng tự nhiên [33].

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi đối với phôi cá giò cho thấy: tuy mức độ

ảnh hởng không mạnh mÏ nh− nhiƯt ®é nh−ng nång ®é mi còng cã ảnh

hởng khá rõ đến quá trình phát triển phôi cá giò. ở nồng độ muối 30, 35,

40o/oo phôi cá giò có thời gian nở ngắn hơn, tỉ lệ nở cao hơn và tỉ lệ dị hình



51



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ảnh hưởng của nồng độ muối lên tỉ lệ nở của phôi

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×