Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỉ lệ dị hình của ấu trùng

ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỉ lệ dị hình của ấu trùng

Tải bản đầy đủ - 0trang

NhiƯt ®é (oC)



20



TØ lƯ në (%)



23



26



29



32



9 ± 0,38



4 ± 0,68



6 0,53



17 2,66



35



%

20

17



15

10



9

6



5



4



0

23



26



29



32



o



C



Hình 3.3 : ảnh hởng của nhiệt độ lên tỉ lệ dị hình của phôi

Đồ thị biểu diễn ảnh hởng của nhiệt độ đến tỉ lệ dị hình của ấu trùng ở các

mức nhiệt độ từ 23 - 32oC có dạng phơng trình bậc 2, cụ thể nh sau:

y =



0.0658x2 - 0.4304x + 0.7436



r2 = 0.9996



Phơng trình cã hÖ sè a = 0.0658 > 0 cho thÊy đờng phơng trình có điểm

cực tiểu. Hay nói cách khác, có điểm nhiệt độ trên đờng phơng trình cho giá

trị tỉ lệ dị hình thấp nhất.

Nhiệt độ cao, phôi phát triển nhanh hơn nhng nếu nhiệt độ quá cao, quá trình

phát triển này bị rối loạn đặc biệt là giai đoạn hình thành và hoàn thiện các cơ

quan do nhiệt độ cao đã làm hỏng các enzyme tới hạn [33]. Vì thế, ấu trùng

nở ra không bình thờng (còn gọi là dị hình) thể hiện ở hình dạng cong queo

với cột sống bị vẹo. Nhiệt độ càng cao, tỉ lệ ấu trùng dị hình nở ra càng lớn.

Cụ thể trong thí nghiệm này, ở các mức nhiệt độ 26oC, 29oC và 32oC tỉ lệ ấu

trùng dị hình tơng ứng là 4%, 6% và 17% (bảng 2).

Ngợc lại, nếu nhiệt độ thấp, tỉ lệ dị hình cũng tăng. Cụ thể ở 23oC tỉ lệ dị

hình lên đến 9% (bảng 2). ấu trùng dị hình thể hiện bên ngoài là kích thớc

noãn hoàng nhỏ, ấu trùng nhỏ, ngắn, yếu. Phôi phải sử dụng nhiều năng lợng



40



cho quá trình phát triển, đặc biệt là việc hình thành và hoàn thiện chức năng

các cơ quan. Nhng ở mức nhiệt độ thấp quá trình này bị kéo dài khiến cho

lợng noãn hoàng bị tiêu tốn nhiều hơn ngay trong quá trình phát triển phôi.

Nhiệt độ cµng thÊp, Êu trïng në ra cã kÝch th−íc no·n hoàng càng nhỏ [34].

Một số hình ảnh phôi và ấu trùng dị hình do ảnh hởng của nhiệt độ



So sánh phôi giai đoạn đa tế bào dị hình và bình thờng



Hình 3.4.a: Giai đoạn ĐTB dị hình



Hình 3.4.b. Giai đoạn ĐTB bình thờng



quá trình phân cắt bị rối loạn.

Những phôi bào dị hình đợc Manira Sultana Rani (2005) [30] mô tả gồm 2

loại: những tế bào lồi ra và phôi bào phân chia tách ra hoàn toàn.

Phôi với những tế bào lồi ra biểu hiện ở 1 hoặc hai tế bào lồi ra khỏi nhóm

tế bào chính.

Phôi bào tách hoàn toàn đợc thấy với hai nhóm phôi bào, nó xuất hiện với

hai tế bào đầu tiên tách ra sớm khi phát triển nhng tiếp tục trải qua sự phân

bào để phân chia.

Hình 3.4.a chúng tôi quan sát đợc nằm ở loại thứ nhất (có những tế bào tách

ra khỏi nhóm tế bào chính).



41



42



So sánh phôi giai đoạn thể phôi dị hình và bình thờng



Hình 3.5.a. Thể phôi dị hình



Hình 3.5.b. Thể phôi bình thờng



thể phôi co rút, cột sống vẹo



So sánh ấu trùng bình thờng và ấu trùng dị hình



Hình 3.6.a : Êu trïng b×nh th−êng (3 giê sau khi nở)



43



Hình 3.6.b: ấu trùng dị hình do nhiệt độ cao (1 giờ sau khi nở)

(Cột sống biến dạng, chiều dài cơ thể ngắn, co rút).



Hình 3.6.c: ấu trùng dị hình do nhiệt độ thấp (1 giờ sau khi nở)

(Cơ thể ấu trùng ngắn, kích thớc noãn hoàng nhỏ, thậm chí không có)

Chúng tôi đã đo chiều dài 13 ấu trùng khoẻ và 13 ấu trùng dị hình 2 giờ sau

khi nở. Kết quả cho thấy chiều dài của ấu trùng khoẻ là 3,26 0,33 mm trong

khi của ấu trùng dị hình chỉ là 1,79 0,48mm (phụ lục 1).

ấu trùng dị hình yếu ớt hơn ấu trùng bình thờng. Hơn nữa các cơ quan bộ

phận của cơ thể có khiếm khuyết, không thực hiện đợc đầy đủ chức năng của

chúng nên thời gian tồn tại của ấu trùng dị hình ngắn. Nếu trong một đợt sinh

sản, tỉ lệ ấu trùng dị hình càng cao thì tỉ lệ sống của ấu trùng sẽ càng thấp.



44



Kết quả của 3 thí nghiệm về ảnh hởng của nhiệt độ lên phát triển phôi cá giò

cho thấy: 2 mức 20oC và 35oC hoàn toàn không đợc sử dụng để ấp trứng cá

giò vì ở 2 mức này phôi sẽ không thể nở đợc. Hai mức 26 và 29oC là 2 mức

thích hợp cho sự phát triển phôi (tỉ lệ dị hình thấp, tỉ lệ nở cao và thời gian nở

tơng đối ngắn). ở mức 23oC, tuy thời gian nở khá dài nhng tỉ lệ nở cao hơn

và tỉ lệ dị hình thấp hơn 32oC nên chúng tôi vẫn chọn để sử dụng trong thí



nghiệm 2 nhân tố.

3.2. ảnh hởng của nồng độ muối lên phát triển phôi cá giò



3.2.1. ảnh hởng của nồng độ muối lên thời gian phát triển của phôi

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy: ở nồng độ muối 30o/oo thời gian nở

của phôi ngắn nhất (24 giờ). Thời gian nở của phôi ở 2 nồng độ 30 và 35o/oo cã

sù sai kh¸c râ rƯt so víi ë c¸c nồng độ muối khác (ở mức tin cậy 95%). Các

nồng độ muối còn lại (15, 20, 25 và 40o/oo) thời gian nở của phôi ít chênh lệch

nhau. Kết quả thể hiƯn cơ thĨ ë b¶ng 3.4.

B¶ng 3.4 : ¶nh h−ëng của nồng độ muối lên thời gian phát triển phôi

Nồng độ muối (o/oo)



15



20



25



30



35



40



Thời gian nở (giờ)



26



26



26



24



25



26



Cá giò là loài cá hẹp muối, sinh sản trong điều kiện nớc biển tự nhiên. Trứng

cá đã có những cấu tạo đặc biệt để thích nghi với nồng độ này. Trong điều

kiện nồng độ muối môi trờng thấp quá hay cao quá, phôi đều phải sử dụng

một phần năng lợng của mình trong việc điều hoà áp suất thẩm thấu để duy

trì sự cân bằng và hình dạng của chúng [49]. Một phần năng lợng dành cho

sự phát triển bị hao hụt làm giảm năng lợng phục vụ cho quá trình phát triển

và nở. Vì thế thời gian nở dài hơn.



45



Khi nghiên cứu về sự phát triển và tỉ lệ sống của ấu trùng cá



tuyết



Melanogrammus aeglefinus ở các nồng độ muối khác nhau, Ingegjerd Opstad

(2003) [23] cho rằng trứng và ấu trùng cá biển có áp suất thẩm thấu thấp hơn

môi trờng nớc biển, vì thế trứng cá có thể nổi lên đợc trên mặt nớc mà

không cần phải có bất kỳ một tác động cơ học nào. Trong khoảng nồng độ

muối phù hợp cho khả năng nổi của trứng cá (từ 30 40 o/oo), ở nồng độ muối

càng thấp thời gian nở càng nhanh do năng lợng tiêu tốn cho sự điều hoà áp

suất thẩm thấu ít hơn.

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi có sự sai khác với thí nghiệm trên cùng đối

tợng ở các nồng độ 180/00, 220/00, 260/00, 300/00, 340/00 của trơng văn

thợng (2000) [6] rằng: không có sự sai khác về thời gian nở giữa các mức

nồng độ muối, ngoài hai mức 18 và 22 o/oo phôi cá giò chết trớc khi đến giai

đoạn phôi vị; ba mức còn lại đều có thời gian nở là 25 giờ 30 (nhiệt độ 27oC).

Tuy nhiên, thí nghiệm của chúng tôi phù hợp với thí nghiệm về ảnh hởng của

các mức ®é mỈn 0 o/oo; 7 o/oo; 17 o/oo; 27 o/oo; 37 o/oo; 47 o/oo và 57 o/oo lên thời

gian nở trên cá song chấm nâu (E.coioides) của S. Kawahara rằng thời gian cá

nở nhanh nhất tại mức nhiệt độ 37 o/oo. Các mức nồng độ muối cao hơn hoặc

thấp hơn đều cho thời gian nở chậm hơn.

Kết quả của chúng tôi còn tơng tự với kết quả thí nghiệm trên cá mùi của

Wen-Bin Huang. Trong khoảng thích hợp (31 đến 37 o/oo), nồng độ muối tăng

thời gian nở sẽ tăng.

3.2.2. ảnh hởng của nồng độ muối lên tỉ lệ nở của phôi

Kết quả của chúng tôi đợc thể hiện qua bảng 3.5 và hình 3.7

Bảng 3.5: ảnh hởng của nồng độ muối lên tỉ lệ nở của phôi



Nồng độ muối (o/oo)

TØ lÖ në (%)



15



20



25



30



35



40



8

± 1,15



30

± 4,76



49

± 2,75



74

± 3,21



83

± 3,01



71

± 1,96



46



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ảnh hưởng của nhiệt độ đến tỉ lệ dị hình của ấu trùng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×