Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến phát triển phôi c

ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến phát triển phôi c

Tải bản đầy đủ - 0trang

đơn vị nớc từ 9oC lên 15oC sẽ làm giảm 13% Ôxy hòa tan trong khi làm tỉ lệ

đồng hóa tăng 68% và bài tiết Ammonia tăng 99%.

Giảm nhiệt độ nớc sẽ làm cho nhiệt độ phôi hạ thấp, giảm hoạt động phản

ứng và giảm tốc độ phát triển. Mỗi loài động vật thủy sản có một khoảng nhiệt

độ nớc thích hợp có nghĩa là trong khoảng ấy chúng phát triển mạnh nhất.

Nhìn chung cá ở vùng ôn đới và hàn đới có giới hạn nhiệt độ phát triển phôi

trong khoảng 3 14oC, còn ở nhiệt đới khoảng từ 18 32oC. Trong giới hạn

đó, khi nhiệt độ tăng thì tốc độ phát triển tăng lên. Nếu kéo dài nhiệt độ ngoài

khoảng này hoặc có sự thay đổi nhiệt độ một cách đột ngột trong khoảng này

sẽ gây ra stress hoặc sẽ là nhiệt độ gây chết. Rowland (1986) [13] cho rằng,

nhiều loài thích hợp cho sự tồn tại trong một khoảng nhiệt độ rộng, nhng

khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển tối u (nhiệt độ thích hợp nhất) thì

hẹp hơn. Ví dụ: một loài có thể chịu đợc nhiệt độ từ 5 36oC nhng khoảng

nhiệt ®é cho ph¸t triĨn tèi −u chØ tõ 25 – 30oC.

Trong nhiệt độ bình thờng đối với điều kiện phân bố tự nhiên của loài, tỉ lệ

các phản ứng sinh hóa liên quan đến nhiệt độ theo định luật Van Hoff, có

nghĩa là: cứ tăng lên 10oC thì tỉ lệ các phản ứng cũng tăng lên gấp đôi. Mối

quan hệ giữa nhiệt độ và các phản ứng sinh hóa đợc biểu diễn qua hình sau:

2



Phản ứng

sinh hóa



3

1

4

Nhiệt độ

Hình 1.4: Mối quan hệ giữa nhiệt độ và các phản ứng sinh hoá trong cơ thể

sinh vật



14



Trong đó,

(1) Phản ứng sinh hoá tăng khi nhiệt độ tăng theo định luật Van Hoff cho

đến khi đạt giá trị cực đại.

(2) Điểm phản ứng sinh hoá đạt giá trị cực đại đợc duy trì trong một

biên độ nhiệt độ hẹp.

(3) Phản ứng sinh hoá giảm nhanh chóng khi nhiệt độ vẫn tiếp tục tăng

(4) Cuối cùng là nhiệt độ gây chết. Động vật thủy sản không thực hiện

phản ứng sinh hoá nữa.

Do nhạy cảm hơn nên khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển phôi hẹp

hơn so với sự phát triển của cơ thể động vật.

Để minh chứng cho tầm quan trọng của nhiệt độ đối với quá trình phát triển

của phôi cá xơng nói riêng, của động vật thuỷ sản nói chung, ngời ta sử

dụng khái niệm degree-days hoặc degree-hours (độ - ngày hoặc độ - giờ) để

chỉ về mối liên quan giữa thời gian của một quá trình với nhiệt độ. Marcuel

Huet định nghĩa degree-days/dgree-hours là số ngày/giờ yêu cầu cho việc

hoàn thành một quá trình của một loài nào đó với nhiệt độ mỗi ngày/giờ giả sử

là 1oC.

Ví dụ: Thời gian ấp trứng của cá hồi brown trout là từ 400 460 degree- days

(độ ngày) có nghĩa là thời gian ấp trứng của cá hồi sẽ kéo dài 20 23 ngày

nếu nhiệt độ trung bình mỗi ngày là 20oC.

Theo dõi trên các loài cá hồi, ngời ta thấy, thời gian nở và thời gian tiêu thụ

noãn hoàng khác nhau theo mỗi loài. Thời gian nở ở cá hồi brown trout là 400

- 460 độ-ngày; cá rainbow trout 290 - 330 độ-ngày. Thời gian tiêu thụ noãn

hoàng của cá brown trout vµ brook trout mÊt 220 degree-days vµ víi cá

rainbown trout mất 180 degree-days. [31]

Nghiên cứu trên đối tợng c¸ chã (Pike), Dorier cho thÊy thêi gian Êp trøng

cđa cá chó ngắn hơn cá hồi, trung bình 120 độ ngày, sau 30 độ - ngày, phôi



15



có thể nhìn thấy rõ [15]. Sau 160 độ- ngày cá đến giai đoạn điểm mắt. Từ giai

đoạn điểm mắt đến khi nở, cá Pike mất 300 360 độ - ngày. Thời gian tiêu

thụ noãn hoàng của Pike khoảng 160 180 độ ngày [15].

Tuy nhiên, không thể chỉ dùng khái niệm độ-ngày để chỉ thời gian cần thiết

cho quá trình phát triển phôi theo nhiệt độ nh một phơng trình bậc nhất.

Theo Clau Deboy (1990) [13] nhiệt độ và các quá trình sinh hoá quan hệ theo

phơng trình bậc 2. Mỗi động vật, mỗi giai đoạn phát triển của động vật có

một biên độ nhiệt thích hợp. Nằm ngoài khoảng này, quá trình phát triển phôi

sẽ không phát triển hoặc nếu phát triển thì tỉ lệ dị hình sẽ cao, tỉ lệ sống của ấu

trùng giảm. Theo Ammann và Steinmann, trong giai đoạn nở của cá Pike nhiệt

độ nớc đảm bảo từ 3 - 5oC không chỉ là một điều thuận lợi mà còn là một

điều không thể thiếu đợc. Những trứng đợc ấp trong mùa xuân, nhiệt độ

nớc cao hơn mức này, tốc độ nở của trứng và tốc độ phát triển của cá bột

nhanh hơn nhng sức sống của cá bột giảm đi [15].

Khi nghiên cứu trên các đối tợng cá song B.M.Rasem và các CTV cho thấy

thời gian phát triển phôi và tỉ lệ nở lên trứng cá E. fuscoguttatus và cá E.

malabaricus là 19 giờ ở 29oC và 23-24giờ ở 27oC trong khi cá song mỡ

(E.tauvina) là 35 giờ ở 28oC [12].

Để đảm bảo cho sự bảo toàn giống nòi, cá xơng cũng nh các động vật thuỷ

sản khác, chọn môi trờng sinh sản tốt nhất, thích hợp nhất cho sự phát triển

của phôi cũng nh cho các con non của chúng sau này. Chính bản năng của

chúng đã khiến chúng phải chọn mùa vụ sinh sản cũng nh vùng sinh sản phù

hợp về nhiệt độ cho sự phát triển phôi.

E.F. Orlando và các cộng tác viên đã thực hiện nghiên cứu trên đối tợng cá

nhái (Lepisosteus platyrhincus) cho thấy có sự liên quan giữa mùa và sự thành

thục sinh dục cũng nh hiện tợng sinh sản. Vào những tháng mùa hè (tháng

5 tháng 8), tuyến sinh dục không phát triển. Vào những tháng mùa ma,

lạnh (tháng 9 tháng 12) tuyến sinh dục, đờng kính nang trứng, tỉ lệ noãn



16



hoàng trong noãn bào đều tăng lên. Sau đó, lợng hormon sinh dục trong cơ

thể cá tăng lên rõ rệt, đỉnh điểm là vào tháng giêng. Đến mùa xuân (tháng 2

tháng 3) là mùa cá sinh sản [16].

Hay với cá măng, một loài cá nhiệt ®íi, nhiƯt ®é sinh s¶n cđa chóng tõ 26 34,5oC. Vào mùa đẻ trứng, ban ngày nhiệt độ nớc thờng vào khoảng 29 33oC. Hầu hết cá măng đẻ vào sau nửa đêm, đặc biệt là những ngày trời nắng

nóng làm cho nhiệt độ nớc cao hơn [37]. Tập tính đẻ trứng về đêm của đa số

động vật do lúc này nhiệt độ thờng phù hợp với nhiệt độ phát triển của phôi.

Tơng tự với cá chép, đây là một đối tợng có thể sinh sản tự nhiên trong điều

kiện nuôi, vì thế, yếu tố mùa vụ đối với đối tợng này là rất quan trọng. Nếu

ấp trứng trong điều kiện môi trờng có nhiệt độ thấp, cá bột sẽ nở ít hơn và tỉ

lệ chết của cá bột cũng sẽ cao hơn. László Horváth và CTV cho rằng một

trong những điều kiện cần thiết cho cá chép sinh sản là nớc phải ở khoảng

nhiệt độ thích hợp (18 23oC). Nếu nằm ngoài khoảng này, cá sẽ không đẻ

[29]. Ngoài ra, nhiệt độ ấp trứng thích hợp nhất phải từ 20 24oC. ở nhiệt độ

cao hơn, diễn biến quá trình phát trình phôi sẽ đợc thúc đẩy nhanh hơn nếu

nhu cầu Ôxy đợc đáp ứng đầy đủ. Trứng cá chép có thể tồn tại đợc ở dới

20oC nhng quá trình phát triển phôi sẽ chậm lại và có nguy cơ cảm nhiễm

Saprolegnia. Một bất lợi khác của việc ấp trứng cá chép trong môi trờng

nhiệt độ thấp hơn là thời gian ấp trứng sẽ dài hơn. Khi đó, ấu trùng đã sử dụng

phần lớn lợng noãn hoàng dự trữ làm cho chúng nhỏ hơn, yếu hơn, sức sống

thấp hơn và tỉ lệ chết cao hơn.

Trong các giai đoạn sinh sản và trứng nở, động vật thủy sản nhạy cảm hơn với

nhiệt độ so với thời kỳ phát triển. Trong sinh sản nhân tạo điểm nhiệt độ gây

chết rất đợc quan tâm. Điểm gây chết của một số loài có giá trị kinh tế [18]:



17



STT



Loài cá



Điểm gây chết



(1)



Cá hồi rainbow trout



0 và 26oC



(2)



Cá chép



0 và 30 oC



(3)



Cá nheo



4 và 35oC



(4)



Rô phi



10 và 38oC



Để đánh giá quá trình phát triển phôi cá, tỉ lệ ấu trùng dị hình trong đàn cũng

là một chỉ tiêu đáng quan tâm.

Hiện tợng ấu trùng bị dị hình do phôi phát triển không bình thờng, biểu

hiện rõ nhất là cơ thể bị co rút, cột sống bị vẹo. Hiện tợng này xảy ra khá phổ

biến đối với nhiều loài cá khi phôi phát triển trong môi trờng không thích

hợp. Một trong những yếu tố quan trọng gây ra hiện tợng dị hình là nhiệt độ.

Trong nghiên cứu ảnh hởng của nhiệt độ đến quá trình phát triển phôi cá bớp,

Trần Văn Đan đã tìm thấy khoảng nhiệt độ thích hợp cho sự phát triển phôi là

từ 25 - 33oC, trong khoảng này, tỉ lệ nở dao ®éng tõ 55- 81%. Trong ®ã, ë

nhiƯt ®é 28 - 30oC, tỉ lệ nở đạt giá trị cao nhất (81%). Các khoảng nhiệt độ

khác dao động từ 55 75%. Trong khoảng nhiệt độ thích hợp, phôi cá phát

triển bình thờng, cá bột nở ra hầu nh không xuất hiện cá thể dị hình. Ngoài

khoảng này, tỉ lệ cá dị hình cao (nhiệt độ 31- 37oC với tỉ lệ dị hình từ 12

35%) hoặc phôi không phát triển đợc (nhiệt độ <16oC hoặc >38oC).

Thời gian nở và tỉ lệ nở của phôi còn khác nhau theo sự chênh lệch giữa nhiệt

độ môi trờng cá sinh sản và môi trờng ấp trứng. Nếu biên độ nhỏ, nằm trong

khoảng thích hợp thì phôi sẽ thích nghi và phát triển bình thờng. Nhng khi

biên độ lớn, mặc dù vẫn còn nằm trong khoảng thích hợp, các phản ứng sinh

hoá của phôi cũng sẽ bị thay đổi đột ngột gây sốc ấu trùng nở ra sẽ bị dị hình

thậm chí không nở đợc. Hoặc nếu quá trình thay đổi nhiệt độ diễn ra từ từ

nhng nằm ngoài khoảng thích hợp, ấu trùng cũng sẽ không nở đợc [13].



18



Nghiên cứu về ảnh hởng của nhiệt độ nớc trong môi trờng sinh sản và ấp

trứng lên phát triển phôi của cá song chấm nâu (Epinephelus coioides) với

nhiệt độ nớc trong sinh sản ở các mức 23, 25 và 27oC, nhiệt độ nớc trong ấp

trứng từ 20 34oC, S.Kawahara và CTV đã cho thấy, phôi cá song chấm nâu

có tỉ lệ nở cao khi nhiệt độ từ 24-30oC. Trong đó phôi phát triển tốt trong

khoảng 24-28oC (thời gian nở nhanh hơn (19-26 giờ), tỉ lệ nở cao hơn (85.1

98,3%). Ngoài khoảng này, trứng cá sẽ có thời gian nở chậm hơn hoặc tỉ lệ nở

thấp hơn thậm chí trứng không nở (ở 20oC) hoặc tỉ lệ dị hình 100% (ở 34oC).

Tuy nhiên, nếu chênh lệch nhiệt độ môi trờng nớc đẻ trứng với nhiệt độ môi

trờng ấp thấp (2oC) thì tỉ lệ nở cao hơn, tỉ lệ dị hình thấp hơn so với những

mức nhiệt độ có biên độ sai khác cao. Nh trong trờng hợp nhiệt độ ấp là

30oC, nếu nhiệt độ đẻ trứng là 27oC, , tỉ lệ nở (93,8%) cao hơn so với khi nhiệt

độ nớc môi trờng đẻ trứng là 23 và 26oC (90,2% và 67%), không những thế

tỉ lệ dị hình (5%) lại thấp hơn (so với 14,7 và 15,5%) [36].

Chính vì thế, ngoài việc phải quan tâm đến nhiệt độ thích hợp trong môi

trờng ấp, chúng ta còn phải quan tâm đến sự chênh lệch nhiệt độ giữa môi

trờng đẻ trứng và môi trờng ấp để tránh hiện tợng phôi bị chết hoặc ấu

trùng nở ra bị dị hình. Vì vậy, nhiệt độ nên đợc điều chỉnh từ từ đặc biệt chú

ý trong quá trình vận chuyển trứng từ bể đẻ sang bể ấp. Theo Clau E. Boyd

nếu thay đổi 0,2oC/phút mà không vợt quá vài độ thì động vật có thể thích

nghi đợc [13]. Với phôi, giai đoạn nhạy cảm hơn, chúng ta nên thay đổi ở

biên độ thấp hơn.

Trong khuôn khổ của một đề tài tốt nghiệp đại học, Trơng Văn Thợng

(2001) [6] đã có những tìm hiểu ban đầu về ảnh hởng của nhiệt độ đến quá

trình phát triển phôi cá giò ở các mức nhiệt độ 20oC, 23oC, 24oC, 28oC và

32oC. Kết quả cho thấy, khi nhiệt độ càng tăng thời gian nở của cá giò càng

giảm. Thời gian nở của các mức nhiệt độ 23oC, 24oC, 28oC lần lợt là 37 giờ,

23 giờ và 34 giờ 35 phút. Cá không nở ở 2 mức còn lại (20 và32oC). Tỉ lệ nở



19



cao nhất đạt đợc khi nhiệt độ bằng 24oC (85%), tiếp theo lµ møc 23oC

(77,6%) vµ thÊp nhÊt lµ møc 28oC (64%). Thí nghiệm mới đợc thực hiện với

số lần lặp ít. Chúng tôi cần phải khẳng định lại các kết quả này.

1.3.2.2. Nồng độ muối

Nồng độ muối là một nhân tố môi trờng quan trọng khác có ảnh hởng lên

quá trình në cđa trøng. NÕu chóng ta xem nguyªn sinh chÊt trong tế bào phôi

là một dung dịch, môi trờng nớc xung quanh là một dung dịch khác, phần

màng tế bào trứng ngăn cách 2 dung dịch này chính là màng. Chúng ta sẽ thấy

hiện tợng dung môi vợt qua màng để đi từ dung dịch có nồng độ thấp đến

nơi có nồng độ cao hơn. Có thể nhận thấy cả 2 bề mặt của màng bị tấn công

liên tục của cả dung môi và chất hòa tan. Trên mặt của màng tiếp xúc với

dung dịch nồng độ thấp, các phân tử của dung môi sẽ tấn công vào bề mặt

màng nhiều hơn là trên bề mặt tiếp xúc với dung dịch nồng độ cao do có nhiều

phân tử dung môi trên một đơn vị thể tích ở dung dịch loãng hơn là trong một

dung dịch đặc. Vì thế, sẽ có sự di chuyển của các phân tử dung môi đi từ dung

dịch loãng đến dung dịch đặc cho đến khi nồng độ 2 bên bề mặt màng đợc

cân bằng.

Nói chung, một tế bào từ bất kỳ một động vật thuỷ sản nào cũng nằm trong

một môi trờng có nồng độ muối khác với nồng độ chất dịch cơ thể. Phân tử

hoặc ion từ nơi có nồng độ muối cao đến nơi có nồng độ muối thấp cho đến

khi chúng đạt đến trạng thái cân bằng. Điều này đúng cho mọi trờng hợp.

Trong môi trờng nớc ngọt, nồng độ ion chất hòa tan trong cơ thể động vật

cao hơn trong môi trờng nớc. Những loài nớc mặn có nồng độ ion chất hòa

tan trong môi trờng cao hơn. ở nớc biển, hiện tợng khuyếch tán của Na+,

K+, Ca++ có xu hớng từ môi trờng vào dịch tế bào. ở nớc ngọt, xảy ra hiện

tợng ngợc lại. Cá nớc ngọt điều hòa thẩm thấu bằng cách lấy ion từ trong

môi trờng và ngăn không cho nó mất đi. Trong khi đó, điều hòa thẩm thấu

của cá nớc mặn đòi hỏi phải giữ nớc và thải ion.



20



Ngay cả với những loài cá rộng muối, giai đoạn phát triển sớm của chúng

cũng rất nhạy cảm với nồng độ muối của môi trờng [49]. Tế bào phải duy trì

sự chênh lệch về nồng độ này, để duy trì áp suất chất dịch bên trong và vì vậy

cả hình dạng của chúng [49]. Trứng có khả năng điều hoà khác nhau giữa các

loài và giai đoạn phát triển. Ví dụ: Trứng nổi nh cá bơn sao có thể điều hoà

thẩm thấu từ khi thụ tinh. Nếu không có cơ chế này để điều hoà lấy nớc biển

từ giai đoạn này, trứng sẽ chìm và chết. Mặt khác, trứng dính nh của cá trích

không thể điều hoà áp suất thẩm thấu cho đến khi hình thành phôi vị. Khi đẻ,

trứng trở nên đẳng trơng với môi trờng bên ngoài. Kết quả làm cho trứng

chóng chìm và bám chặt vào giá thể [33].

Nếu nằm trong một nồng độ muối khác, hiện tợng mất cân bằng về áp suất

thẩm thấu sẽ xảy ra. Nếu trong môi trờng nồng độ quá cao, lợng ion đi vào

trong tế bào sẽ quá khả năng điều hoà, làm cho nồng độ muối trong tế bào

tăng lên. Hiện tợng này sẽ làm cho tế bào bị mất nớc, vì thế thiếu nớc phục

vụ cho các quá trình trao đổi chất. Điều này làm cho tế bào phát triển chậm

hơn. Nếu nồng độ muối vẫn tiếp tục tăng, quá trình trao đổi chất sẽ ngừng.

Nếu trong môi trờng nớc có nồng độ muối quá thấp, ion trong tế bào lại có

hiện tợng đi ra ngoài tế bào làm cho lợng ion trong tế bào giảm đi. Điều này

gây hiện tợng mất thăng bằng cho tế bào, làm chậm lại quá trình phát triển tế

bào. Nếu nồng độ muối quá thấp, tế bào sẽ không phát triển.

Mỗi loài có một khoảng nồng độ muối thích hợp. Ngoài khoảng này, động vật

sẽ phải sử dụng năng lợng của các quá trình sinh trởng, phát triển để

phục vụ cho việc điều hòa thẩm thấu. Tất nhiên, nếu nồng độ muối quá chênh

lệch so với nồng độ muối thích hợp thì động vật sẽ chết do không thể duy trì

đợc sự cân bằng. Tơng tự, mỗi loài có một nồng độ muối thích hợp cho quá

trình phát triển phôi. Nếu nằm ngoài khoảng này, phôi sẽ không thể điều hoà

đợc áp suất thẩm thấu dẫn đến hiện tợng hoặc là mất nớc hoặc là bị trơng

nớc cuối cùng là ấu trùng nở ra bị dị hình hoặc không nở đợc.



21



Điều này có thể lý giải đợc hiện tợng di c sinh sản trên nhiều loài cá. Mặc

dù qua một quá trình tiến hoá lâu dài, chúng đã thích nghi đợc với môi

trờng mới, nhng đến mùa sinh sản chúng vẫn tìm về môi trờng nguyên

thuỷ của chúng. Ví dụ, với đối tợng cá chình trong giai đoạn trởng thành

chúng hoàn toàn sống trong môi trờng nớc ngọt, nhng đến mùa sinh sản

chúng lại di c ra biển và sinh sản. Quá trình phát triển phôi và giai đoạn ấu

trùng của chúng đều diễn ra tại đây. Sau đấy chúng mới di chuyển vào vùng

nớc ngọt để sinh trởng và phát triển. Hay tơng tự với cá mòi, tôm càng

xanh... Chính bản năng đã giúp chúng tìm về môi trờng sống của tổ tiên

chúng và đây cũng là môi trờng thích hợp nhất cho sự phát triển phôi góp

phần bảo toàn, duy trì nòi giống.

Với những loài cá không di c sinh sản, ngay cả với những đối tợng rộng

muối, chúng cũng không bao giờ sinh sản trong điều kiện bất lợi cho sự phát

triển phôi. Khi nghiên cứu trên cá măng biển (Chanos chanos), Su.Lean

Chang và các CTV cho thấy ở nồng độ muối cao hơn 30 o/oo, chất lợng trứng

sẽ tốt hơn khi nồng độ muối thấp. Mặc dù các giao tử của cá măng có khả

năng tồn tại trong một khoảng nồng độ muối rất rộng: 0 125 o/oo nhng việc

sinh sản tự nhiên ít thấy ở những nơi có nồng độ muối thấp hơn 26o/oo . ở

nồng độ muối này, trứng bị chìm xuống đáy ao một vài giờ sau khi đẻ [37].

Đã có những nghiên cứu ảnh hởng của nồng độ muối lên sự phát triển phôi

cá xơng. Năm 1998, Wen-Bin Huang và các cộng tác viên thí nghiệm về qúa

trình phát triển phôi và giai đoạn ấu trùng sau khi nở của cá mùi đen,

Acanthopagrus schlegeli, ở các nồng độ muối 28, 31, 34 và 37 o/oo . Ông đã

tìm thấy tỉ lệ nở là 85% ở nồng độ muối 34 và 37o/oo, tỉ lệ nở 60% ở 31o/oo,

không có trứng nào nở ở 28o/oo. Thời gian nở tăng lên khi nồng độ muối tăng

từ 31 đến 37o/oo, nhng chiều dài cơ thể, kích thớc noãn hoàng và kích thớc

giọt dầu của cá nở và sau khi nở giảm. Nghiên cứu cho thấy trong khoảng từ



22



31 37o/oo, nồng độ muối càng cao tỉ lệ nở càng cao. Trong khi đó, ở nồng độ

muối thấp kích thớc noãn hoàng còn nhiều hơn.

Trong nghiên cứu về ảnh hởng của nồng độ muối lên phát triển phôi của cá

song chấm nâu (E.coioides) từ 0 57o/oo, S. Kawahara và các CTV cho thấy,

mặc dù không ảnh hởng mạnh mẽ đến thời gian nở nhng nồng độ muối vẫn

có những tác động nhất định đến quá trình phát triển phôi cá. Nồng độ muối

càng thấp phôi càng nhanh nở nhng tỉ lệ dị hình cũng tăng lên và ngợc lại

nồng độ muối càng cao phôi càng chậm nở. ở nồng độ muối thích hợp, phôi

sẽ có tốc độ phát triển nhanh nhất và có tỉ lệ nở cao nhất, tỉ lệ dị hình thấp

nhất. Trong thí nghiệm, ở nồng độ muối 37o/oo, phôi cá song phát triÓn nhanh

nhÊt (cã thêi gian në tõ 20 giê nÕu nhiệt độ là 27,4oC đến 26 giờ nếu nhiệt độ

là 25,2oC) vµ tØ lƯ në cao nhÊt (tõ 85,8 – 87,6%), các khoảng khác cá sẽ nở

chậm hơn và tỉ lƯ në thÊp h¬n (vÝ dơ: ë 27o/oo, thêi gian në lµ 21 giê, tØ lƯ në lµ

84,5 – 85,6%; ë 17 o/oo thêi gian në lµ 20,5 giê; tØ lệ nở là 82,2 86,3 %)

thậm chí không nở đợc (ở 0o/oo).

Khi nồng độ muối thay đổi hơn 10% trong một vài phút hoặc vài giờ, động vật

sẽ không thĨ thÝch nghi. §éng vËt cã thĨ thÝch nghi víi nồng độ muối thấp

hơn hoặc cao hơn nhiều so với môi trờng đang sống nhng vẫn nằm trong

khoảng thích hợp với điều kiện sự thay đổi này diễn ra từ từ. Cha có nghiên

cứu về vấn đề này trên cá xơng nhng trên một số đối tợng khác nh trên

hậu ấu trùng tôm sú, Tangko và Wardoyo (1985) đã có nghiên cứu đa tôm sú

từ môi trờng 33o/oo đến môi trờng 3o/oo với mức hạ 2,5; 5; 7,5 và 10 o/oo trong

mét giê. TØ lƯ sèng ë møc h¹ 2,5o/oo/giê là 82,2% trong khi ở mức hạ 10o/oo/giờ

tỉ lệ sống chỉ còn 56,7%. Tôm sú có thể đợc thuần hóa víi møc 1 - 2 o/oo

trong mét giê [13].

§èi víi cá giò, Trơng Văn Thợng (2001) [6] đã có những nghiên cứu ban

đầu về ảnh hởng của nồng độ muối lên quá trình phát triển phôi cá giò ở các

mức nång ®é muèi 180/00, 220/00, 260/00, 300/00, 340/00 trong cïng một nhiệt độ



23



270C. Thí nghiệm cho thấy thời gian phát triển phôi không phụ thuộc vào độ

mặn (sau khi thụ tinh 25 giờ 30 phút thì trứng nở trên các mức nồng độ muối

thích hợp) mà chỉ ảnh hởng đến tØ lƯ sèng cđa ph«i. TØ lƯ në cđa ph«i cao

nhất khi nồng độ muối bằng 30 và 35/oo. ở nồng độ muối 26/oo, 30/oo 34 /oo

tỉ lệ nở lần lợt là 73,36%; 90%; 89,96%. Tỉ lệ nở bằng 0 khi nồng độ muối

quá thấp (18/oo và 22/oo). Nghiên cứu cha đợc thực hiện ở các mức nồng độ

muối xa hơn (cao hơn và thấp hơn) hơn nữa số lần lặp cha nhiều, còn cần

phải đợc khẳng định lại.

1.3.2.3. ảnh hởng đồng thời của nồng độ muối và nhiệt độ:

Nhiệt độ ảnh hởng lên tỉ lệ sống của trứng cá biển khác nhau theo nồng độ

muối. Vì thế, nhiệt độ và nồng độ muối thờng đợc nghiên cứu đồng

thời[33]. Thomas P.Hust (2002) [38] thí nghiệm ảnh hởng của độ mặn và

kích thớc cơ thể lên khả năng chịu nhiệt độ thấp của cá vợc (Morone

saxatilis) để xác định nơi c trú qua đông của cá. Thí nghiệm đợc xác định ở

nồng độ muối 15 o/oo và 30 o/oo. Kết quả cho thÊy tØ lƯ sèng cao nhÊt khi nång

®é mi trung bình(15o/oo). Các kết quả này cho thấy nơi phân bố của cá vợc

qua đông liên quan tới khả năng ®iỊu hoµ thÈm thÊu ë nhiƯt ®é thÊp. Trong khi

®ã, khả năng chịu đợc nhiệt độ thấp không liên quan đến kích thớc cơ thể

và năng lợng dự trữ của cá.

Mỗi loài cá có một khoảng nồng độ muối và nhiệt độ thích hợp nhất khác

nhau cho sự phát triển phôi (Bảng 1.1). Các nghiên cứu của các tác giả khác

nhau xác định nhiệt độ và nồng độ muối thích hợp cho sự phát triển phôi của

một số loài cá khác nhau. Nhìn chung, ảnh hởng của nhiệt độ lên tỉ lệ sống

của phôi lớn hơn ảnh hởng của nồng độ muối, đặc biệt là thời gian ấp. Tuy

nhiên, có một mối quan hệ cao-cao; thấp-thấp giữa hai nhân tố này. Chẳng

hạn, tỉ lệ sống cao nhất của phôi ở nồng độ muối cao đạt đợc khi tăng nhiệt



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường đến phát triển phôi c

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×