Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 4.6: Năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của nông hộ

Bảng 4.6: Năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của nông hộ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tóm lại, năng suất các loại cây trồng của nhóm hộ khá đều lớn hơn nhóm hộ

trung bình và hộ nghèo, sự chênh lệch này do nhóm hộ khá có điều kiện đầu tư về

vốn và chăm sóc tốt hơn.

4.1.2.2. Ngành chăn nuôi

Hiện nay, chăn nuôi ở huyện Krông Ana vẫn chưa cao. Các hộ gia đình vẫn ở

quy mơ vừa và nhỏ, lượng cung cấp thịt đáp ứng cho thị trường còn ít. Mang tính tự

cung tự cấp còn cao.

Từ bảng 4.7: Số lượng một số vật ni chính của nông hộ, ta thấy được:

Chăn nuôi chủ yếu của nơng hộ gồm trâu, bò, heo, còn gia cầm chủ yếu là

ni số lượng ít để cung cấp nhu cầu trong gia đình, họ hàng. Đa số những vật ni

được các nông hộ nuôi nhằm tăng thêm thu nhập và có phân chuồng để chăm sóc

cho cây trồng

Bảng 4.7: Số lượng một số vật ni chính của nơng hộ

Đơn vị tính: Con

Vật ni



Nhóm hộ

Khá



Trung bình



Nghèo



Trâu



23



21



8







132



29



20



Heo



101



51

9

Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra



Chăn ni bò ở huyện Krơng Ana phát triển lâu dài qua nhiều năm, do địa

bàn huyện có nguồn lượng thức ăn cho bò ăn lớn, nhiều tập trung từ rơm trồng lúa

của các nông hộ, đây là nguồn thức ăn dinh dưỡng giúp bò lớn nhanh và đẻ nhiều

mang lại thu nhập cao cho nơng hộ và phân bò còn đáp ứng được cho trồng trọt. Giá

hiện nay một con bê là 18 triệu đồng/con và con bò trưởng thành là 35 đến 40 triệu

đồng/con.

Ngồi ra, chăn ni heo cũng đang được phát triển ở địa bàn huyện Krông

Ana do những năm gần đây heo bán được giá mang lại thu nhập cho nông hộ, phân

heo được tận dụng để phục vụ lại cho trồng trọt.

Số lượng chăn nuôi trâu ít, chủ yếu để phục vụ cho cày kéo, thu nhập từ trâu

không cao. Hiện nay, khoa học công nghệ ngày càng phát triển nên việc cày đất,



44



làm tơi đất chủ yếu được thực hiện bằng máy móc nên việc nuôi trâu của bà con ở

đây cũng giảm dần qua các năm.

Nhìn chung, chăn ni của các nhóm hộ chỉ là tự phát, rời rạc, chưa phát

triển mạnh. Cần có định hướng phát triển hài hòa để chăn ni và trồng trọt trở

thành hai mũi nhọn của phát triển kinh tế.

4.1.3. Tình hình thu nhập của nơng hộ

4.1.3.1. Thu từ trồng trọt

Trồng trọt là ngành sản xuất chính của nông hộ tại các xã ở huyện Krông

Ana, tỉnh Đắk Lắk. Cây trồng chủ yếu là cây cà phê, cây lúa, cây tiêu.

Bảng 4.8: Tình hình thu từ trồng trọt của nơng hộ

Nhóm hộ

Loại cây trồng



Khá

Giá trị

(tr.đ)



Trung bình

Tỷ lệ

(%)



Giá trị

(tr.đ)



Tỷ lệ

(%)



Nghèo

Giá trị

(tr.đ)



Tỷ lệ

(%)



Cà phê



91,3



46,2



33,2



33,3



36,3



49,1



Lúa



50,9



25,8



25,4



25,5



9,5



12,9



Tiêu



26,8



13,6



22



22,04



11,5



15,6



Điều



9,2



4,7



10,4



10,4



8,9



12,04



Khoai



19,4



9,8



8,8



8,82



7,7



10,42



Tổng thu

BQ/hộ/năm từ trồng

trọt (tr.đ)



197,6



100



99,8



100



73,9



100



Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra



Từ bảng 4.8: Tình hình thu từ trồng trọt của nông hộ, ta thấy:

Chênh lệch thu nhập từ trồng trọt giữa các nhóm hộ rất cao, giữa nhóm hộ

khá và nhóm hộ trung bình là 2 lần, nhóm hộ khá và nhóm hộ nghèo là 2,7 lần,

nhóm hộ trung bình và nhóm hộ nghèo là 1,4 lần.



45



Về cơ cấu thu nhập: Nguồn thu của hộ khá chủ yếu từ sản xuất cây công

nghiệp lâu năm là cà phê (46,2%), đến cây lúa là (25,8%), cây tiêu (13,6%), cây

khoai (9,8%), và cuối cùng là cây điều (4,7%).

Hộ trung bình có nguồn thu từ cây cà phê cao (33,3%), thu từ cây lúa

(25,5%), cây tiêu (22,04%), cây điều (10,4%) và cây khoai (8,82%).

Hộ nghèo có nguồn thu nhập chủ yếu từ cây cà phê (49,1%), thu từ cây tiêu

chiếm (15,6%), cây lúa (12,9 %), cây điều (12,04%) và cây lúa chiếm (10,42%).

Qua bảng số liệu này nói lên được địa bàn huyện Krơng Ana có điều kiện

thời tiết thổ nhưỡng phù hợp với cây công nghiệp dài ngày và cây cơng nghiệp ngắn

ngày, đối với nhóm hộ khá và trung bình thì họ có điều kiện chăm sóc cây cà phê,

cây lúa, tiêu nên năng suất cao hơn nhóm hộ nghèo, thu nhập từ các loại cây này

cao, đối với loại khoai lang thì năm 2015 người dân bị thua lỗ do giá năm trước

tăng đột biến làm người dân đỗ xô chuyển canh tác sang trồng khoai mặc những

khuyến cáo từ phòng nơng nghiệp, dẫn đến tình trạng lượng cung quá nhiều mà

lượng cầu chưa ổn định,làm giá khoai rớt thậm tệ, nên nhiều bà con nông hộ bị thua

lỗ. Nhóm hộ nghèo khơng đủ khả năng về vốn nên năng suất của các loại cây trồng

thấp dẫn đến thu nhập thấp. Họ chưa phát huy được lợi thế so sánh về điều kiện thỗ

nhưỡng do quy mô đất đai thấp, ít vốn và kinh nghiệm sản xuất còn hạn chế.

Như vậy, nơng dân ở đây có nguồn thu nhập chủ yếu từ cây cà phê và cây

lúa, điều, tiêu. Cây công nghiệp dài ngày mang lại giá trị cao cho nông hộ, hộ khá

thu được 197,6 triệu đồng/năm chiếm tỷ lệ64,5% tổng thu từ trồng trọt, hộ trung

bình thu 99,8 triệu đồng/năm chiếm 65,7% tổng thu nhập từ trồng trọt, nhóm hộ

nghèo thu 73,9 triệu đồng/năm chiếm 76,7% tổng thu nhập từ trồng trọt.

4.1.3.2. Thu từ chăn nuôi

Chăn nuôi là một trong hai ngành mũi nhọn trong nông nghiệp. Cân đối tỷ

trọng giữa chăn nuôi và trồng trọt là nhân tố quyết định đến sự chuyển dịch trong

nông nghiệp theo hướng CNH – HĐH của đất nước.

Bảng 4.9: Tình hình thu từ chăn ni của nơng hộ

Vật ni



Nhóm hộ

Khá



Trung bình



46



Nghèo



Giá trị

(tr.đ)



Tỷ lệ

(%)



Giá trị

(tr.đ)



Tỷ lệ

(%)



Giá trị

(tr.đ)



Tỷ lệ

(%)



Trâu



1,6



6,1



3,1



19,1



1,5



16,1







15,6



59,3



5,3



32,7



4,6



49,5



Heo



9,1



34,6



7,8



48,1



3,2



34,4



Tổng thu BQ/hộ/năm từ

chăn nuôi (tr.đ)



26,3



100



16,2



100



9,3



100



Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra

Từ bảng 4.9: Tình hình thu từ chăn ni, ta thấy:

Thu nhập từ chăn ni bò và heo tăng dần từ hộ nghèo đến hộ khá. Hộ khá

thu nhập từ bò 15,6 triệu đồng/năm chiếm 59,3% so với tổng thu nhập chăn ni,

heo chiếm 34,6%, trâu chiếm 6,1%. Hộ Trung bình thu nhập nhiều từ việc chăn nuôi

heo với 7,8 triệu đồng/năm chiếm 48,1% tổng thu nhập chăn ni, bò chiếm 32,7%,

và trâu chiếm 19,1%. Hộ nghèo thu từ chăn nuôi bò 4,6 triệu đồng/năm chiếm

49,5% tổng thu nhập chăn ni, heo chiếm 34,4% và trâu chiếm 16,1%. Thu nhập

từ chăn nuôi trâu của các nông hộ là thấp nhất, chủ yếu phục vụ cho cày kéo. Khơng

có thu từ gia cầm vì ở đây người dân ni gà, vịt chủ yếu để phục vụ nhu cầu ăn

uống cho gia đình.

Vì vây, đối với các hộ được phỏng vấn, chăn nuôi chỉ mang tính nhỏ lẻ tự

cung tự cấp, phục vụ cho nhu cầu gia đình nhiều hơn là dùng để bán, do đó chính

quyền địa phương cần phân tích, tính toán và đưa ra cơ cấu hợp lý giữa trồng trọt

và chăn ni, tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm đảm bảo thường xuyên và lâu dài.

4.1.3.3.Cơ cấu thu của các nông hộ điều tra

Cơ cấu nguồn thu của nông hộ ở địa bàn huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk là

từ trồng trọt, chăn nuôi và từ các nguồn khác (chủ yếu từ làm thuê, buôn bán),

Nhưng đối với nông hộ thì thu nhập của hộ chỉ chú trọng vào trồng trọt là chủ yếu.



Bảng 4.10: Cơ cấu thu của nơng hộ

Nhóm hộ



So sánh



Nguồn thu

Khá



Trung bình



47



Nghèo



Khá

/

TB



Khá/

Nghè

o



TB/

Nghè

o



Thu từ trồng

trọt

Thu từ chăn

ni

Thu từ nguồn

khác

Tổng nguồn

thu

BQ/hộ/năm

(tr.đ)



Giá Tỷ Giá Tỷ Giá Tỷ

trị

lệ

trị

lệ

trị

lệ

(tr.đ) (%) (tr.đ) (%) (tr.đ) (%)

83,

79,

83,

197,6

99,8

73,9

9

8

6

12,

10,

26,3 11,2 16,2

9,3

9

5

4,8

11,37

9,13 7,3 5,24 5,9

3

235,3



100 125,1



100



88,4



1,9



2,7



1,4



100



Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra

Qua bảng 4.10: Cơ cấu thu nhập của nông hộ, ta thấy:

Nguồn thu của các nông hộ gồm ba phần là thu từ hoạt động sản xuất trồng

trọt, hoạt động chăn nuôi và thu từ nguồn khác (lương nhà nước, buôn bán, làm

thuê). Tất cả các nhóm hộ có nguồn thu chủ yếu từ trồng trọt, hộ khá thu từ trồng

trọt chiếm tỷ lệ 83,9%, hộ trung bình chiếm 79,8%, hộ nghèo thu từ trồng trọt

chiếm 83,6%.

Đối với nông hộ ở địa bàn huyện Krông Ana thì thu nhập của hộ chỉ chú

trọng vào trồng trọt là chủ yếu, một số loại cây thì khi có rủi ro về điều kiện tự

nhiên (như trời mưa vào đúng thời kì hoa cà phê, lúa nở sẽ làm cho năng suất cây

trồng giảm) hoặc là rủi ro về giá cả (như năm 2014 giá khoai 11.000 – 14.000

đồng/kg nhưng năm 2015 chỉ còn 3.500 – 4.000 đồng/kg) thì sẽ ảnh hưởng nghiêm

trọng tới tình hình thu nhập của hộ, mức tích lũy cho sản xuất. Các hộ nghèo dễ lâm

vào tình trạng thiếu vốn sản xuất và sinh hoạt trầm trọng.

Các nhóm hộ có tỷ trọng thu từ nguồn khác cũng khá cao, tỷ trọng này tăng

dần từ hộ nghèo đến hộ khá. Theo thực tế phỏng vấn thì các hộ nghèo và trung bình

chủ yếu thu từ đi làm thuê, còn hộ khá thu từ lương nhà nước hoặc bn bán.

Tổng thu nhập bình qn về trồng trọt của hộ khá cao gấp 1,9 lần so với hộ

trung bình và 2,7 lần so với nghèo, còn hộ trung bình cao gấp 1,4 lần hộ nghèo.

Tóm lại, tỷ trọng thu từ chăn ni có thể nói là gần như khơng đáng kể trong

tổng thu của nơng hộ. Vì vậy, việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng tăng tỷ

trọng của ngành chăn nuôi, giảm tỷ trọng ngành trồng trọt một cách hài hòa, hợp lý



48



để sao cho hai ngành trồng trọt và chăn nuôi là hai mũi nhọn song song với nhau, đó

là điều vơ cùng cần thiết trong điều kiện hiện nay.

4.1.4. Chi phí sản xuất nơng nghiệp của nơng hộ

Xác định được chi phí sản xuất sẽ giúp cho chủ hộ có những tính tốn nhằm

điều chỉnh hợp lý trong công việc sử dụng các nguồn lực của nơng hộ, qua đó tìm ra

phương án giảm được các chi phí khơng cần thiết để đạt được lợi nhuận cao nhất.

4.1.4.1. Chi phí sản xuất cho trồng trọt

Ngành trồng trọt là ngành mang lại thu nhập chủ yếu vì thế chi phí cho trồng

trọt là tương đối nhiều. Chi phí đó bao gồm: chi phí giống, phân bón, thuốc bảo vệ

thực vật, cơng lao động và chi phí khác (xăng, dầu, thuê máy đánh đất, gặt lúa).

Qua bảng 4.11 dưới đây: Chi phí sản xuất cho trồng trọt, ta thấy rằng:

Tổng chi phí sản xuất trồng trọt bình qn của các nhóm hộ giảm dần từ khá

đến ngèo. Trong đó, tổng chi phí bình qn hộ khá là 125,7 triệu đồng/năm trong đó

chi phân bón cho cây dài ngày là 18,9 triệu đồng chiếm 35,3% tổng chi phí cây dài

ngày, đối với cây ngắn ngày cũng chi nhiều cho phân bón chiếm 44,3%.

Hộ trung bình chi phân bón cây ngắn ngày là 15,7 triệu đồng/năm chiếm

37,4% tổng chi phí cây ngắn ngày. Với cây dài ngày do thiếu nguồn lao động nên

chi nhiều với 20,1% chiếm 39,1% tổng chi phí cây dài ngày.

Hộ nghèo chi phân bón là 16,9 triệu đồng/năm chiếm 34,6% cho cây dài

ngày và chi 8,3 triệu đồng/năm cho thuê lao động cây ngắn ngày.

Các nhóm hộ ở đây đều chú trọng đầu tư cho cây công nghiệp dài ngày, tuy

nhiên tùy khả năng của mỗi hộ sẽ có mức đầu tư khác của các nhóm hộ. Nhóm hộ

khá đầu tư cho ngành sản xuất trồng trọt gấp 1,4 lần hộ trung bình và gấp 1,8 lần hộ

nghèo, chứng tỏ họ đã chú trọng đến đầu tư thâm canh cây trồng.

Phần lớn các hộ đều đầu tư nhiều cho vật tư, đối với hộ khá và hộ trung bình

đầu tư cho phân bón, thuốc BVTV và bỏ nhiều cơng chăm sóc cho vườn cây. Nhóm

hộ nghèo có ít đất, ít vốn, nên chỉ bỏ công lao động ra để làm lời.

Phần chi khác (xăng, dầu, thuêmáy móc) đối với nhóm hộ chiếm tỷ trọng nhỏ,

nằm trong vùng có nhiều sơng, hồ nên phục vụ đượcnước tưới cho các nông hộ. Với hộ

khá chủ yếu là thuê lao động ngoài, các tư liệu sản xuất khác thì hộđã tự trang bị nên

khơng tốn tiền th máy móc, còn đối với hộ nghèo họ có nguồn lao động dồi dào

nhưng lại thiếu máy móc nên họ phải thuê các tư liệu sản xuất chủ yếu.

49



Bảng 4.11: Chi phí sản xuất cho trồng trọt của nơng hộ

Chi sản xuất nơng nghiệp



Khá

Giá trị Tỷ lệ

(tr.đ)

(%)



Nhóm hộ

Trung bình

Giá trị Tỷ lệ

(tr.đ)

(%)



Nghèo

Giá trị Tỷ lệ

(tr.đ)

(%)



1.Cây ngắn ngày



72,2



100



42



100



22,3



100



Giống



7,95



11,01



4,3



10,2



2,1



0,43



Phân bón

Thuốc BVTV

Nước tưới

Cơng lao động

Khác



32

3,3

2,8

23,1

3

53,5

0,2

18,9

1,9

4,1

18,9

9,5



44,3

4,6

3,9

32

4,2

100

0,4

35,3

3,6

7,7

35,3

17,8



15,7

1,7

2

14,8

3,5

51,44

0,94

15,2

2,1

5,1

20,1

8



37,4

4,04

4,8

35,2

8,3

100

1,8

29,5

4,1

9,9

39,1

15,6



7,5

1,2

1,3

8,3

1,9

48,8

0

16,9

2,3

3,1

14,9

11,6



33,6

5,4

5,8

37,2

8,5

100

0

34,6

4,7

6,4

30,5

23,8



125,7



100



93,44



100



71,1



100



2.Cây dài ngày

Giống

Phân bón

Thuốc BVTV

Nước tưới

Cơng lao động

Khác

Tổng chi BQ/ hộ/năm

từ trồng trọt



Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra

Tóm lại, hộ khá và trung bình có khả năng đầu tư lớn cho cây công nghiệp

dài ngày mang lại hiệu quả kinh tế cao, còn nhóm hộ nghèo thiếu đất, vốn đầu tư,

thiếu kinh nghiệm trồng trọt nên năng suất thấp hơn nhóm hộ khá và trung bình.

- Khấu hao tài sản cố định

Trong hoạt động sản xuất nông nghiệp đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng

nhất và cũng khơng thể thiếu các phương tiện máy móc phục vụ sản xuất, qua quá

trình hoạt động thì các loại máy móc sẽ bị hao mòn, hư hỏng, giá trị của các vườn

cây sẽ giảm dần theo thời gian. Vì vậy cần phải tính khấu hao cho các tài sản cố

định này để tính vào chi phí sản xuất của nơng hộ.

Tính theo phương pháp khấu hao đường thẳng

Mứ

c trích khấ

u hao trung bình hà

ng nă

m củ

a tà

i sả

n cốđònh =



50



Nguyê

n giácủ

a tà

i sả

n cốđònh



i sả

n trích khấ

u hao



Để xác định được thời gian trích khấu hao của tài sản cố định ta phải dựa vào

bảng khung thời gian khấu hao tài sản cố định trong phụ lục của thơng tư số

45/2013/TT-BTC

- Khấu hao máy móc

Bảng 4.12: Tình hình trang bị phương tiện sản xuất của nông hộ

Đơn vị tính: Triệu đồng

Chỉ tiêu



Khá



Giá trị máy móc/hộ

Khấu hao/năm/hộ



40,21

4,021



Nhóm hộ

Trung bình

Nghèo

36,5

18,2

3,65

1,82

Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra



Từ bảng 4.12: Tình hình trang bị phương tiện sản xuất của nông hộ, ta có

được giá trị bình qn của các phương tiện máy móc của từng nhóm hộ, từ đây ta

tính khấu hao cho từng nhóm hộ theo cơng thức như trên.

4.1.4.2. Chi phí sản xuất cho chăn ni

Hầu hết giá trị sản phẩm của ngành chăn nuôi làm ra chủ yếu kiếm thêm

nguồn thu nhập và phục vụ cho sinh hoạt của nông hộ nên mức đầu tư cho ngành

này thấp.



Bảng 4.13: Chi phí sản xuất cho chăn ni của nơng hộ

Chi chăn

nuôi

Giống

Thức ăn

Thuốc thú y

Khác

Tổng chi BQ/hộ/năm

từ chăn nuôi (tr.đ)



Khá

Giá trị

Tỷ lệ

(tr.đ)

(%)

0

0

4,9

59,8

2,2

26,8

1,1

13,4

8,2



100



Nhóm hộ

Trung bình

Nghèo

Giá trị Tỷ lệ Giá trị Tỷ lệ

(tr.đ)

(%)

(tr.đ)

(%)

0

0

0

0

3,3

53,2

2,9

58

1,96

31,6

1,5

30

0,9

14,5

0,6

12

6,2



100



5



100



Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra

Qua bảng 4.13: Chi phí sản xuất cho chăn ni của nơng hộ, ta có nhận xét:

Hộ khá đầu tư cho việc mua thức ăn chiếm tỷ lệ cao 59,8% trong tổng chi

chăn nuôi và sau đó là thuốc thú y chiếm tỷ lệ 26,8%.



51



Hộ trung bình chi cho thức ăn với tỷ lệ 53,2%, chi thuốc thú y chiếm 31,6%,

và chi khác 14,5% (vệ sinh chuồng trại, đồ dùng phục vụ chăn nuôi).

Hộ nghèo nên việc đầu tư cho chăn ni còn hạn chế chủ yếu là đi gom góp

thức ăn dư ở những người dân khác cung cấp cho gia súc, với tỷ lệ thức ăn chiếm

58%, thuốc thú y 30% và chi khác chiếm 12% trong tổng chi chăn nuôi.

Việc kịp thời tiêm thuốc thú y phòng dịch bệnh cho động vật vẫn chưa được

chú ý đúng mức nên vật nuôi dễ bị lây nhiễm bệnh. Hầu hết các hộ, nhất là nhóm hộ

nghèo đều tận dụng các vật ni bị bệnh hay ốm yếu làm thức ăn, điều này rất nguy

hại đến sức khỏe người dân.

Tóm lại, chăn ni là ngành sản xuất nhỏ, tự cung tự cấp là chính nên chi phí

đầu tư thấp. Cơng tác phòng dịch vật ni còn hạn chế, chưa chủ động trong việc

phòng bệnh. Vì vậy, để đảm bảo cho ngành chăn nuôi phát triển, chi cục thú y

huyện cần phối hợp với các phòng ban liên quan của xã, rồi từ xã về các thơn bn

để có các biện pháp ngăn ngừa và phòng chống dịch bệnh cho vật nuôi.



4.1.5. Hiệu quả sản xuất của nông hộ

Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả đạt được trong sản xuất của hộ. Tổng thu

nhập của hộ được biểu hiện trong bảng số liệu 4.14.

Bảng 4.14: Tổng thu nhập bình qn của nơng hộ



Chỉ tiêu

1.Thu từ trồng trọt

2.Thu từ chăn nuôi

3.Tổng thu từ SXNN

(1+2)

4.Chi cho trồng trọt

5.Chi cho chăn nuôi

6.Tổng chi SXNN (5+6)

7. Thu nhập từ SXNN (36)

8. Thu từ nguồn khác

9. Tổng thu nhập

BQ/hộ/năm (tr.đ) (7+8)



Nhóm hộ

So sánh

Trung

TB/

Khá

Nghèo Khá/ Khá/

bình

Nghè

TB Nghèo

o

Giá trị Giá trị Giá trị

(lần) (lần)

(lần)

(tr.đ)

(tr.đ)

(tr.đ)

197,6

99,8

73,9

26,3

16,2

9,3

223,9



116



83,2



125,7

8,2

133,9



93,44

6,2

99,64



71,1

5

76,1



90



16,36



7,1



11,37



9,13



5,24



101,4



25,5



12,34



52



3,9



8,2



2,1



Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra

Qua bảng 4.14, ta thấy tình hình thu nhập của các nơng hộ như sau:

Tổng thu nhập bình quân của hộ khá là 101,4 triệu đồng/năm/hộ. Thu nhập

của hộ khá cao gấp 3,9 lần hộ trung bình và 8,2 lần so với hộ nghèo. Đối với hộ

trung bình, thu nhập của hộ trung bình cao gấp 2,1 lần so với hộ nghèo với 25,5

triệu đồng/năm/hộ. Trong đó các hộ khá chủ yếu thu từ sản xuất nông nghiệp và

lương nhà nước, buôn bán. Các nhóm hộ trung bình và nghèo thu từ sản xuất nông

nghiệp, buôn bán, làm thuê. Thu nhập sản xuất nông nghiệp cao nhất là hộ khá và

giảm dần tới hộ nghèo, mức thu này chênh nhau 2,3 lần giữa hộ khá và hộ nghèo.

Số lần chênh lệch này rất đáng kể, khoảng cách này nếu khơng có biện pháp điều

chỉnh sẽ có xu hướng tăng, hộ giàu thì giàu thêm, hộ nghèo thì nghèo thêm.

Chi tiêu cho sản xuất tùy thuộc vào các nhóm hộ có tiềm năng kinh tế khác

nhau. Và chi tiêu sản xuất chủ yếu là đầu tư cây công nghiệp dài ngày và ngắn ngày,

hộ khá chi trồng trọt 125,7 triệu đồng cao gấp 15,3 lần chi cho chăn ni, hộ trung

bình chi cho trồng trọt 93,44 triệu đồng gấp 15,1 lần so với chi cho chăn nuôi, hộ

nghèo chi cho trồng trọt 71,1 triệu đồng gấp 14,2 lần chăn nuôi. Tuy nhiên, theo

thời gian tỷ lệ này sẽ giảm do ngành chăn ni đang có hướng phát triển về quy mơ

và số lượng, bởi vì lượng cầu về thịt từ gia súc sạch đang được tăng cao.

Nguồn thu ngồi sản xuất nơng hộ của các nhóm hộ nghèo và trung bình là

từ làm th và bn bán, đây là nguồn thu có ý nghĩa quan trọng đối với hai nhóm

hộ này, bảo đảm được nguồn lao động không bi hạn chế. Tạo thêm thu nhập cho

những hộ nghèo. Việc đề xuất kịp thời các giải pháp nhằm xóa đói giảm nghèo và

phát triển kinh tế hộ được đặt ra hết sức bức thiết, đặc biệt trong nền kinh tế thị

trường hiện nay, sao cho các hộ nghèo vươn lên trung bình và các hộ trung bình

vươn lên khá, để mặt bằng huyện ngày càng đi lên, phấn đấu chỉ tiêu lên Thị xã và

Thành phố.

4.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến tình hình phát triển kinh tế nông hộ trên địa

bàn huyện Krông Ana, tỉnh Đắk Lắk

4.2.1. Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của nông hộ

4.2.1.1. Về lao động

Nguồn lực lao động là lực lượng sản xuất quan trọng nhất của xã hội. Việc

nghiên cứu nguồn nhân lực trong nơng nghiệp có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát

53



triển nông nghiệp cũng như đối với sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân

và địa bàn huyện Krông Ana cũng không phải một ngoại lệ. Trước hết cần làm rõ

thế nào là nguồn nhân lực trong nông nghiệp? Nguồn nhân lực trong nông nghiệp là

tổng thể sức lao động tham gia vào hoạt động sản xuất nông nghiệp, bao gồm số

lượng và chất lượng của người lao động. Về số lượng bao gồm những người trong

độ tuổi (nam từ 15 đến 60 tuổi, nữ từ 15 đến 55 và những người trên và dưới độ tuổi

nói trên tham gia hoạt động sản xuất nông nghiệp). về chất lượng bao gồm những

người có trình độ, kỹ năng, dân trí.

Ở địa bàn huyện Krông Ana, lực lượng lao động dồi dào với hộ khá có 117

người thuộc đối tượng lao động với số lao động trên khẩu đạt 52,23%, hộ trung bình

với 62 người thuộc đối tượng lao động, chiếm 50% lao động trên khẩu. Tuy nhiên

đa số là lao động trẻ nên sự hiểu biết về nơng nghiệp còn hạn chế như chưa hiểu

biết về bệnh lý cây trồng vật nuôi, những công nghệ mới (tưới nước nhỏ giọt, chăn

nuôi hợp vệ sinh, bón phân đúng liều lượng đón với từng loại cây trồng), đã phần

nào tác động đến năng suất cây trồng ở địa bàn huyện. Vì vậy chỉ có nâng cao chất

lượng nguồn nhân lực mới có khả năng phát triển bền vững nền nông nghiệp tại địa

bàn huyện Krông Ana.

4.2.1.2. Về đất đai

Khác với các tư liệu sản xuất khác, ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu trong

nông nghiệp. Ruộng đất vừa là sản phẩm của tự nhiên vừa là sản phẩm của lao

động. Ruộng đất bị giới hạn về mặt không gian, nhưng sức sản xuất của ruộng đất là

khơng có giới hạn. Ruộng đất có vị trí cố định và chất lượng khơng đồng đều: Các

tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển đến những nơi thiếu và cần thiết, ngược lại

ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu này có vị trí cố định gắn liền với điều kiện tự

nhiên. Ruộng đất - tư liệu sản xuất chủ yếu không bị hao mòn và đào thải khỏi q

trình sản xuất, nếu sử dụng hợp lý thì ruộng đất có chất lượng ngày càng tốt hơn.

Đối với địa bàn huyện Krông Ana: Diện tích đất canh tác bình qn/hộ khá là

2,38 ha, hộ trung bình là 1,2 ha/hộ nên các nhóm hộ này có điều kiện đa dạng hóa

các loại cây trồng, tăng sản lượng nông sản. Đối với hộ nghèo diện tích đất canh tác

bình qn/hộ chỉ có 0,8 ha/hộ, diện tích bình qn/lao động chỉ 0,4 ha/lao động, họ

đã nghèo lại có ích tư liệu sản xuất hơn các hộ khác vì vậy kinh tế gặp nhiều khó



54



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 4.6: Năng suất, sản lượng một số cây trồng chính của nông hộ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×