Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.3 : Số lượng hợp đồng ký kết của công ty Cà phê Buôn Hồ

Bảng 3.3 : Số lượng hợp đồng ký kết của công ty Cà phê Buôn Hồ

Tải bản đầy đủ - 0trang

pháp luật.

+ Hủy bỏ hợp đồng giao khoán, khi bên nhận khoán vi phạm hợp đồng khoán

và bên nhận khoán phải bồi thường thiệt hại.

* Đối với bên nhận khoán

- Nghĩa vụ của bên nhận khoán.

+ Sử dụng đất nhận khốn đúng mục đích, đúng quy hoạch, chịu sự hướng

dẫn, kiểm tra, giám sát của bên giao khoán về kế hoạch sản xuất, quy trình kỹ thuật

và chất lượng sản phẩm trong q trình nhận khốn.

+ Thanh tốn các khoản chi phí sản xuất, dịch vụ cho bên giao khốn theo hợp

đồng đã ký.

+ Nếu vi phạm hợp đồng gây thiệt hại cho bên giao khốn thì bị hủy hợp đồng

khoán và phải bồi thường theo mức độ thiệt hại.

+ Thực hiện đầy đủ trách nhiệm, nghĩa vụ của người lao động đối với chủ sử

dụng lao động theo quy định của pháp luật về lao động.

-Quyền của bên nhận khoán

+ Nhận đủ hồ sơ hợp đồng giao khoán, tiếp nhận các hoạt động dịch vụ

khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, chế biến và tiêu thụ sản phẩm, vật tư, tiền

vốn theo hợp đồng giao khoán đã ký.

+ Nhận giá trị sản phẩm khi thu hoạch tương ứng với vốn, lao động đã đầu tư

và 100% giá trị sản phẩm vượt khốn theo hợp đồng đã ký.

+ Được ni, trồng xen cây phụ trợ dưới các loại cây trồng chính theo hướng

dẫn của bên giao khoán và được hưởng 100% giá trị sản phẩm vượt khoán theo hợp

đồng đã ký.

+ Được làm lán trại tạm thời để bảo vệ sản xuất, cất giữ dụng cụ, vật tư sản

xuất, được làm sân phơi, đào giếng nước, xây bể chứa nước, cống cấp thốt nước,

hố ủ phân, chuồng ni gia súc,gia cầm theo quy định của bên giao khoán

+ Được bồi thường thiệt hại, nếu bên giao khoán vi phạm hợp đồng.

+Trong trường hợp bị thiên tai, rủi ro được xem xét miễn, giảm các khoản phải

nộp cho bên giao khoán theo quy định của pháp luật.

- Hình thức khốn

Hiện nay, cơng ty cà phê Bn Hồ đang thực hiện giao khốn theo hình thức giao

khốn đất cả thời kỳ kiến thiết cơ bản và thời kỳ kinh doanh cho bên nhận khốn.

31



Theo hình thức giao khốn đất cả thời kỳ kiến thiết cơ bản và thời kỳ kinh

doanh công ty và nông hộ cùng đầu tư vốn.Bên công ty thực hiện thiết kế, cung cấp

giống, hướng dẫn kỹ thuật và nông dân trực tiếp thực hiện việc gieo trồng, chăm sóc

bảo về vườn cây. Sau khi hoàn thành thời kỳ kiến thiết vườn cây, bên giao khoán và

bên nhận khoán nghiệm thu, đánh giá, xác định giá trị vườn cây để chuyển sang giai

đoạn sản xuất, kinh doanh. Tỷ lệ giá trị vườn cây đưa vào sản xuất, kinh doanh của

mỗi bên được xác định tương ứng với tỷ lệ tiền vốn và cơng sức của mỗi bên đóng

góp theo thỏa thuận trong hợp đồng và thực tế đóng góp. Trong thời kỳ kinh doanh,

hàng năm công ty sẽ cung cấp cho nông dân những định mức kỹ thuật về liều lượng

phân bón, liều lượng thuốc bảo vệ thực vật.Lượng phân bón và thuốc BVTV này

được cơng ty bán cho nơng hộ với giá cả ngang bằng hoặc thấp hơn so với giá thị

trường. Thơng thường, khi đến giai đoạn bón phân, phun thuốc cho cây cà phê,

nông dân sẽ nhận phân bón và thuốc BVTV tại cơng ty theo đúng định mức kỹ

thuật, những hộ có vốn sẽ trả tiền phân và thuốc cho cơng ty tại thời điểm đó, còn

lại có thể nợ đến khi thu hoạch và trả bằng sản phẩm. Bên cạnh đó, cơng ty còn lập

ra bảng kế hoạch quy định về thời gian chăm sóc vườn cây để nơng dân thực hiện

theo đúng quy trình kỹ thuật như thời gian cắt cành, phun thuốc, bón phân, làm cỏ.

Thông thường tổng lượng sản phẩm giao nộp (khơng tính phân bón và thuốc

BVTV) hàng năm của nơng hộ sẽ là 14,84% tổng sản lượng, được công ty thu mua

dưới hình thức quả tươi. Tổng thời gian giao khoán dựa theo sự thỏa thuận giữa 02

bên theo chu kỳ cây trồng, đối với cây cà phê thường là 30 năm.

Đối với hộ nơng dân có những sản phẩm đạt tiêu chuẩn 4C và UTZ, hộ

nông dân sẽ bán trực tiếp cho cơng ty giao khốn để được giá tốt. Phần sản phẩm

còn lại, sau khi nộp sản cho công ty, thông thường họ sẽ tiêu thụ qua các đại lý

hoặc các hộ thu gom để đỡ được chi phí vận chuyển vì các đại lý thường thu mua

tận nhà và nếu chất lượng sản phẩm nhỉnh hơn so với mặt bằng chung thì đại lý

sẽ mua sản phẩm với giá cao hơn giá thị trường 200-300 đồng/kg, trong khi các

công ty thường khắt khe hơn về mặt giá cả và các khâu đánh giá chất lượng sản

phẩm, điều đó đã làm cho sự gắn kết giữa nơng dân và cơng ty trong khâu tiêu

thụ sản phẩm vẫn còn rất lỏng lẻo.

Về phía các cơng ty, họ khơng bắt buộc các hộ tham gia nhận khốn phải bán

tồn bộ sản phẩm cho mình, mà cho nơng dân tự do trong thị trường đầu ra (lượng

32



sản phẩm này là sản lượng sau khi đã trừ đi phần nộp sản cho công ty). Hàng năm,

các công ty phải đáp ứng chỉ tiêu về mặt sản lượng của Tổng công ty cà phê Việt

Nam đề ra, mà để đạt sản lượng đó thì chỉ cần sản phẩm nộp sản hàng năm của

nơng hộ là đã đáp ứng được, do đó phía các công ty vẫn chưa thật quan tâm đến

việc bao tiêu tồn bộ sản phẩm đầu ra cho nơng hộ, vì vậy vẫn chưa tạo được mối

quan hệ, sự tương tác chặt chẽ giữa quá trình sản xuất và tiêu thụ cà phê đối với

nông dân địa phương.

3.2.1.2.2. Kết quả liên kết giữa công ty cà phê Buôn Hồ và hộ sản xuất cà phê của

xã Ea Blang

Số liệu từ bảng 3.4 cho thấy, tồn xã có 950 hộ sản xuất cà phê, trong đó có

301 hộ tham gia vào liên kết với các công ty trên địa bàn thị xã Buôn Hồ, chiếm tỷ

lệ 31,68%, một số chủ hộ của các hộ tham gia liên kết này là công nhân của các

cơng ty (được nhận lương và đóng bảo hiểm theo quy định của pháp luật), số còn lại

là những hộ có nhu cầu sản xuất nhưng khơng có tư liệu sản xuất là đất đai để tổ

chức sản xuất nên khi cơng ty có quyết định giao khốn đã chủ động liên hệ với các

công ty để được nhận khốn, và tổng diện tích đất sản xuất cà phê được nhận khoán

ở xã Ea Blang là 154 ha,chiếm 6,47% tổng diện tích đất sản xuất cà phê đang trong

thời kỳ kinh doanh của xã.

Bảng 3.4: Số lượng hộ sản xuất cà phê tham gia liên kết và diện tích cà phê

thuộc liên kết năm 2014 của xã Ea Blang

Chỉ tiêu

Tổng số hộ SXCF (hộ)

Số hộ tham gia liên kết với DN (hộ)

Tổng diện tích cà phê kinh doanh (ha)

Diện tích cà phê liên kết (ha)

Diện tích cà phê có chứng chỉ (ha)



Số lượng

Tỷ lệ (%)

950

100

301

31,68

2380

100

154

6,47

0

0

Nguồn: UBND xã Ea Blang



Mặt khác, ta thấy rằng tổng số hộ tham gia liên kết là 31,68%, trong khi tỷ lệ

diện tích cà phê của hộ liên kết chỉ chiếm 6,47%, điều đó chứng tỏ rằng quy mơ sản

xuất bình qn của nhóm hộ liên kết nhỏ hơn quy mơ của nhóm hộ khơng liên kết.

Nguyên nhân là do đây là lần đầu tiên kể từ khi thành lập, các công ty thực hiện

giao khốn cho nơng dân nên kinh nghiệm chưa nhiều, các cơng ty cho rằng nếu

diện tích giao khốn vào khoảng 0,5 ha đến dưới 01 ha thì nơng hộ sẽ tập trung

nguồn lực vốn có của mình để chăm sóc tốt nhất cho vườn cây, giúp cho năng suất

33



cũng như chất lượng cà phê được nâng cao, đem lại hiệu quả kinh tế tốt hơn. Mặt

khác, vào thời điểm giao khốn là khoảng từ năm 1985-1990, lúc đó nền kinh tế nói

chung và nền nơng nghiệp nói riêng còn ở giai đoạn chưa phát triển, do đó nguồn

lực của hộ nơng dân về khả năng tài chính và kỹ thuật sản xuất còn rất hạn chế, điều

này làm cho hộ nơng dân khơng dám nhận khốn cũng như doanh nghiệp khơng

dám giao khốn với diện tích lớn vì sợ rủi ro cao. Nhưng trong tương lai, khi nền

nông nghiệp đã phát triển ở trình độ cao hơn, lúc này các cơng ty đã tích lũy được

nhiều kinh nghiệm và nguồn lực sản xuất của nông hộ cũng đã được nâng cao thì

ngay trong chu kỳ sản xuất kế tiếp các cơng ty đều có chiến lược tăng diện tích bình

qn của các hộ tham gia liên kết để tiết kiệm chi phí giao dịch cũng như dễ dàng

hơn trong cơng tác quản lý.

Bảng 3.5: Tỷ lệ hợp đồng kí kết và thực hiện

STT

1

2

3

4

5



Nội dung

Tổng số hộ tham gia

Hợp đồng bằng văn bản

Hợp đồng miệng

Số hợp đồng được thực hiện

Số hợp đồng bị phá vỡ



Số hộ



Tỷ lệ (%)

301

100

301

100

0

0

301

100

0

0

Nguồn: Tổng hợp phiếu điều tra



Bảng 3.5 thể hiện rằng văn bản liên kết giữa công ty cà phê Buôn Hồ với hộ

nông dân được thực hiện 100% thông qua hợp đồng. Hợp đồng này được soạn thảo

theo mẫu của Bộ NN & PTNN quy định. Trong hợp đồng ghi rõ quyền và nghĩa vụ

của phía cơng ty cũng như phía hộ nơng dân nhận khoán.

Trong số 301 hợp đồng được ký kết, cho đến nay chưa có hợp đồng nào bị phá

vỡ kể cả từ phía cơng ty và nơng hộ. Điều này chứng tỏ ý thức tuân thủ hợp đồng của

nông dân tại địa phương là rất tốt, đây chính là một trong những điều kiện thuận lợi

để phát triển, mở rộng các hình thức liên kết trong tương lai, và về phía cơng ty cũng

đã phần nào khẳng định được uy tín của mình đối với bà con nơng dân trên địa bàn.

3.2.1.3. Đánh giá hiệu quảliên kết với hộ nông dân của công ty cà phê Buôn Hồ tại

xã Ea Blang, thị xã Bn Hồ, tỉnh Đăk Lăk

3.2.1.3.1. Diện tích, năng suất và sản lượng cà phê bình quân của nông hộ

- Để so sánh được hiệu quả của việc liên kết trong sản xuất cà phê nên hộ điều

tra sẽ được phân chia theo tiêu chí là nhóm hộ liên kết và nhóm hộ khơng liên

34



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.3 : Số lượng hợp đồng ký kết của công ty Cà phê Buôn Hồ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×