Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

Tải bản đầy đủ - 0trang

+ Có thể ngơn ngữ riêng và có thể có chữ viết riêng ( trên cơ sở

ngôn ngữ chung của quốc gia) làm công cụ giao tiếp trên mọi lĩnh vực:

kinh tế, văn hóa, tình cảm…

+ Có nét tâm lý ( nét tâm lý dân tộc) biểu hiện kết tinh trong nền

văn hóa dân tộc và tạo nên bản sắc riêng của nền văn hóa dân tộc, gắn

bó với nền văn hóa của cả cộng đồng các dân tộc (quốc gia dân tộc).

Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có

đủ khác đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn

bó chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định.

Như vậy, cộng đồng người ổn định chỉ trở thành dân tộc khi có

đủ các đặc trưng trên, các đặc trưng của dân tộc là một chỉnh thể gắn bó

chặt chẽ với nhau, đồng thời mỗi đặc trưng có một vị trí xác định. Sự

tổng hợp các đặc trưng nêu trên làm cho các cộng đồng dân tộc được đề

cập ở đây - về thực chất là một cộng đồng xã hội - tộc người, trong đó

những nhân tố tộc người đan kết, hồ quyện vào các nhân tố xã hội.

Điều đó làm cho khái niệm dân tộc khác với các khái niệm sắc tộc,

chủng tộc - thường chỉ căn cứ vào các đặc điểm tự nhiên, chẳng hạn

màu da hay cấu tạo tự nhiên của các bộ phận trong cơ thể để phân loại

cộng đồng người.

* Qúa trình hình thành dân tộc: nghiên cứu khái niệm và các đặc

trưng của dân tộc cần thấy rằng: khái niệm dân tộc và khái niệm quốc

gia gắn bó chặt chẽ với nhau. Bởi vì, dân tộc ra đời trong một quốc gia

nhất định, thơng thường thì những nhân tố hình thành dân tộc chín

muồi khơng tách rời với sự chín muồi của những nhân tố hình thành

quốc gia – chúng bổ sung và thúc đẩy lẫn nhau.

Nếu như cộng đồng thị tộc (trong xã hội nguyên thuỷ) mang tính

thuần t tộc người, trong đó quan hệ huyết thống còn đóng vai trò chi

phối tuyệt đối, thì ở cộng đồng bộ lạc và liên minh bộ lạc (xuất hiện

vào cuối xã hội nguyên thuỷ) đã xuất hiện dưới dạng đầu tiên những

thiết chế chính trị – xã hội, trong đó những quan hệ tộc người xen với



3



những quan hệ chính trị – xã hội. Cộng đồng bộ tộc xuất hiện vào thời

kỳ xã hội có sự phân chia rõ rệt hơn về giai cấp và sau đó là sự xuất

hiện nhà nước – quốc gia. Từ đây, sự cố kết bộ tộc là nhân tố quan

trọng trong sự hình thành và củng cố quốc gia; ngược lại, sự hình

thành, củng cố quốc gia là điều kiện có ý nghĩa quyết định sự củng cố

và phát triển của cộng đồng bộ tộc, là sự chuẩn bị quan trọng nhất để

cộng đồng bộ tộc chuyển lên một hình thức cao hơn – tức là dân tộc.

Tính tộc người và tính chính trị - xã hội đó ghi đậm vào tâm trí

của đơng đảo dân cư ý thức gắn bó quyền lợi và nghĩa vụ của mình với

dân tộc, với nhà nước, quốc gia. Tình cảm đối với dân tộc hồ nhập vào

tình cảm đối với Tổ quốc và trở thành một trong những giá trị thiêng

liêng, bền vững của nhiều thế hệ con người ở nhiều dân tộc, quốc gia.

Tình cảm ấy xuất hiện và được củng cố trong quá trình lịch sử dựng

nước và giữ nước lâu dài, trở thành nét truyền thống đặc sắc của các

dân tộc, quốc gia đó.

Nhận thức vấn đề này khơng chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có

ý nghĩa thực tiễn quan trọng. Bởi vì, cơng cuộc cải tạo xã hội cũ, xây

dựng xã hội mới – từ cơ sở kinh tế đến kiến trúc thượng tầng và các

quan hệ xã hội không thể thiếu nội dung cải tạo, xây dựng cộng đồng

dân tộc và các mối quan hệ dân tộc. Ngược lại, việc cải tạo, xây dựng

cộng đồng dân tộc và các mối quan hệ dân tộc không thể tách rời cơng

cuộc cải tạo, xây dựng tồn diện xã hội mà trước hết là xây dựng chế

độ chính trị - xã hội, xây dựng nhà nước theo con đường tiến bộ.

Dân tộc xã hội chủ nghĩa chỉ xuất hiện do kết quả của sự cải tạo,

xây dựng từng bước cộng đồng dân tộc và các mối quan hệ dân tộc theo

các nguyên lý của chủ nghĩa xã hội khoa học. Đồng thời, dân tộc xã hội

chủ nghĩa chỉ có thể xuất hiện do kết quả của công cuộc cải tạo, xây

dựng toàn diện các lĩnh vực của đời sống xã hội để từng bước củng cố

chế độ xã hội chủ nghĩa.



4



Tuy nhiên, trong thực tiễn, không nên xem nhẹ hoặc làm lu mờ

những nhân tố dân tộc tồn tại lâu dài trong một cộng đồng quốc gia

gồm nhiều dân tộc. Nhân tố dân tộc đó được biểu hiện nổi bật nhất

trong văn hố, nghệ thuật, ngơn ngữ, phong tục, tập qn, tâm lý và

tình cảm; chúng hồ quyện vào nhau tạo thành một thể thống nhất trong

đa dạng về bản sắc dân tộc; là căn cứ chủ yếu để phân biệt dân tộc này

với dân tộc khác. Điều đó đòi hỏi nhà nước xã hội chủ nghĩa trong khi

hoạch định và thực hiện mọi chính sách chung của quốc gia, cần chú ý

đến tính đặc thù của cộng đồng gồm nhiều dân tộc, hơn nữa, cần có

những chính sách riêng đáp ứng những đòi hỏi chính đáng mang tính

đặc thù của từng dân tộc.

1.2. Quan điểm về mối quan hệ dân tộc - giai

cấp, hai xu hướng phát triển của dân tộc và Cương

lĩnh dân tộc của Chủ nghĩa Mác – Lênin

* Mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và vấn đề giai cấp trong xã

hội

Dân tộc là sản phẩm của một q trình phát triển của xã hội lồi

người. Trước khi xuất hiện dân tộc, loài người đã trải qua các hình thức

cộng đồng từ thấp đến cao: Thị tộc, bào tộc, bộ lạc, bộ tộc.

Dân tộc xuất hiện làm nảy sinh mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc

với vấn đề giai cấp, chú nghĩa Mác – Lê nin đã từng luận chứng về mối

quan hệ này. Khi đặt vấn đề dân tộc trong tiến trình cách mạng xã hội

chủ nghĩa V.I.Lênin đã chỉ rõ: “ Không được tuyệt đối hóa vấn đề dân

tộc, khơng được đặt vấn đề dân tộc lên trên vấn đề giai cấp, không

được biến nó thành một thứ báu vật” đồng thời Lênin còn nhắc nhở

chúng ta khơng được xem nhẹ vấn đề dân tộc, không được sa vào thái

độ “ hư vô dân tộc”. Thực chất đó là mối quan hệ biện chứng giữa vấn

đề giai cấp và vấn đề dân tộc; khi nhận thức mối quan hệ này cần phải

trên cả hai phương diện:



5



Thứ nhất, vấn đề dân tộc là bộ phận của vấn đề giai cấp, phụ

thuộc vào cuộc đấu tranh giai cấp. Bởi vì:

Một là, dân tộc chỉ ra đời khi điều kiện kinh tế - xã hội đạt mức

độ phát triển nhất định, dân tộc nảy sinh trước hết là do kết quả của sự

biến đổi trong cơ sở kinh tế - xã hội, chứ không phải trước hết do sự

biến đổi trong các nhân tố tộc người ( dĩ nhiên các nhân tố này có vai

trò quan trọng của chúng.

Hai là, từ khi dân tộc xuất hiện, phong trào dân tộc thường gắn

liền với vấn đề giai cấp mà nội dung là dân chủ, V.I.Lênin đã nêu yêu

sách về quyền dân tộc tự quyết, chính nội dung dân chủ đòi hỏi nêu ra

yêu sách về quyền dân tộc tự quyết và khẳng định nó như một yêu sách

mang tính tiến bộ và cách mạng. Trong phong trào giải phóng dân tộc

ngày nay, nội dung dân chủ hướng tới mục tiêu giải phóng những người

lao động khỏi ách áp bức về giái cấp để từ đó thốt khỏi tình trạng bị

nơ dịch về dân tộc bao giờ cũng có ý nghĩa quyết định.

Ba là, trong cơng cuộc xây dựng xã hội mới, nếu khơng biết gắn

liền q trình xây dựng kinh tế - xã hội với thực hiện chính sách giai

cấp đúng đắn thì việc củng cố quan hệ giữa các dân tộc không thể đạt

kết quả vững chắc.

Khơng có sự biến đổi trong lĩnh vực kinh tế - xã hội thông qua

việc giải quyết mâu thuẫn giai cấp nhằm xóa bỏ tình trạng người bóc

lột người thực hiện sự bình đẳng xã hội thì khơng thể tạo nên sự biến

đổi về chất trong mỗi dân tộc và trong mối quan hệ giữa các dân tộc.

Nguyên nhân của sự căng thẳng trong vấn đề dân tộc, trước hết là

những vấn đề kinh tế - xã hội. Nói một cách khác, mâu thuẫn giữa các

dân tộc có tính đa nhân tố - những mâu thuẫn kinh tế xã hội đan xen với

những mâu thuẫn trong các vấn đề văn hóa tộc người, ngơn ngữ, tơn

giáo, lãnh thổ…nhưng trong đó, mâu thuẫn kinh tế - xã hội bao giờ

cũng đóng vai trò quyết định nhất.



6



Thứ hai, tính độc lập tương đối và tầm quan trọng đặc biệt của

vấn đề dân tộc. Điều này biểu hiện ở chỗ:

Một là, tuy dân tộc chỉ xuất hiện trên cơ sở sự chín muồi của

những điều kiện kinh tế - xã hội, nhưng nếu chưa có sự chín muồi của

những nhân tố tộc người – ý thức dân tộc, tâm lý dân tộc, tình cảm dân

tộc, phong tục, tập qn, ngơn ngữ, văn hóa dân tộc thì dân tộc cũng

chưa thể xuất hiện

Hai là, sự xuất hiện và phát triển của dân tộc có những quy luật

nội tại. Chính điều đó làm cho lồi người đã trải qua nhiều hình thức

cộng đồng người từ thấp đến cao: Thị tộc, bộ lạc, bộ tộc, dân tộc.

Ba là, sau khi chịu sự quy định của nhân tố kinh tế - xã hội, nhân

tố dân tộc bao giờ cũng phát huy tác động trở lại đối với sự phát triển

kinh tế - xã hội. Điều này được minh chứng như ở Phương Tây trước

đây, chủ nghĩa tư bản ra đời đã dẫn tới sự hình thành dân tộc; ngược lại,

sự hình thành dân tộc đã đáp ứng nhu cầu của chủ nghĩa tư bản về tổ

chức sản xuất, phân công lao động xã hội và trao đổi sản phẩm trên

phạm vi rộng lớn của thị trường dân tộc, phù hợp với trình độ mà lực

lượng sản xuất đã đạt được. Hoặc ở các nước thuộc địa, nửa thuộc địa,

q trình đồng hóa, cưỡng bức thơng qua các chính sách cai trị mà

chính quyền thực dân thi hành đã dẫn tới sự suy thoái của hàng loạt dân

tộc trong các quốc gia đó. Những quốc gia này do phải tồn tại trong

môi trường nô lệ đã phải buộc chấp nhận ở mức độ khác nhau do sự

xâm thực của văn hóa thực dân với nhiều độc tố, làm cho nhiều giá trị

văn hóa dân tộc bị băng hoại, ý thức dân tộc bị xuyên tạc, tình cảm dân

tộc bị làm cho lệch lạc đã làm cho nhiều dân tộc, trong một thời gian

dài, không thể định hướng con đường phát triển độc lập, tự chủ của

mình.

Trong thời đại ngày nay, các dân tộc bị áp bức đều lấy điểm khởi

đầu của con đường giải phóng dân tộc mình là việc khôi phục nền độc

lập dân tộc, khẳng định quyền tự chủ, hồi sinh những giá trị dân tộc. Ở



7



nhiều nước, ý thức xã hội chủ nghĩa được hình thành dần dần khơng chỉ

do tiến trình của đấu tranh giai cấp mà còn do q trình đấu tranh giải

phóng dân tộc. Điều đó, chứng tỏ rằng việc giải phóng các nhân tố dân

tộc phát triển tự do và đầy đủ là do nhu cầu khách quan của sự tiến bộ,

là một trong những điều kiện tất yếu cho sự tiến bộ.

* Xu hướng khách quan trong sự phát triển dân tộc

Trong tác phẩm “ Ý kiến phê phấn về vấn đề dân tộc” Lênin đã

phát hiện hai xu hướng khách quan trong sự phát triển của dân tộc và

mối quan hệ giữa các dân tộc.

Thứ nhất, do sự thức tỉnh, sự trường thành của ý thức dân tộc

mà cộng đồng dân cư muốn tách ra để thành lập các cộng đồng dân

tộc độc lập, trong đó họ có quyền lựa chọn chế độ chính trị và con

đường phát triển của dân tộc mình.

Thứ hai, các dân tộc có xu hướng liên hiệp lại với nhau trên cơ

sở bình đẳng, tự nguyện, giúp đỡ lẫn nhau…phù hợp với xu hướng

khách quan, tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất, phù hợp với

nhu cầu mở rộng giao lưu kinh tế, văn hóa giữa các dân tộc. Cả hai xu

hướng đó là quy luật phổ biến của chủ nghĩa tư bản.

Sự vận động có tính mâu thuẫn nhưng thống nhất giữa hai xu

hướng đó là quy luật khách quan của sự phát triển dân tộc và mối quan

hệ giữa các dân tộc. Mỗi dân tộc tiến tới độc lập, tự chủ, phồn vinh và

các dân tộc khơng ngừng xích lại gần nhau.

* Cương lĩnh dân tộc của chủ nghĩa Mác – Lênin

Cương lĩnh nổi tiếng của Lênin về vấn đề dân tộc trong tác

phẩm “ Về quyền dân tộc tự quyết” được tóm tắt như sau: “ Các dân

tộc hồn tồn bình đẳng, các dân tộc được quyền tự quyết: Liên hợp

cơng nhân tất cả các dân tộc lại”.

- Bình đẳng dân tộc là một nguyên tắc cực kì quan trọng trong

Cương lĩnh về vấn đề dân tộc của Lênin. Để thực hiện quyền bỉnh đẳng

giữa các dân tộc phải thủ tiêu tình trạng áp bức giai cấp để trên cơ sở

đó xóa bỏ tình trạng nơ dịch của dân tộc này đối với dân tộc khác; từng



8



bước khắc phục sự phát triển chênh lệch giữa các dân tộc, tạo điều kiện

để các dân tộc còn ở trình độ lạc hậu, bằng sự nỗ lực của chính mình

cùng với sự giúp đỡ của các dân tộc an hem phát triển nhanh trên con

đường tiến bộ; sự bình đẳng hồn tồn, một sự bình đẳng tồn diện

giữa các dân tộc trên mọi lĩnh vực: kinh tế, chính trị, văn hóa phải được

thể hiện về mặt pháp lý và được thực hiện trong cuộc sống.

- Quyền tự quyết là nguyên tắc quan trọng thứ hai trong Cương

lĩnh về vấn đề dân tộc của Lênin. Quyền tự quyết là quyền làm chủ của

mỗi dân tộc đối với vận mệnh của dân tộc mình, quyền lựa chọn chế độ

chính trị và con đường phát triển của dân tộc đó. Quyền tự quyết bao

gồm quyền tự do phân lập thành cộng đồng các dân tộc độc lập và

quyền tự nguyện liên hiệp với các dân tộc khác trên cơ sở bình đẳng.

V.I.Lênin triệt để đấu tranh chống áp bức dân tộc, đồng thời cũng

cương quyết đấu tranh gạt bỏ những trở ngại để các dân tộc ngày càng

xích lại gần nhau.

Ở nước ta, Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã

nêu ra và thực hiện quan điểm về quyền dân tộc tự quyết đúng đắn. Nội

dung cao nhất của quyền tự quyết là các dân tộc đoàn kết đấu tranh

giành và giữ vững nền độc lập dân tộc, cùng nhau xây dựng xã hội mới

để các dân tộc đều được phát triển tự do và được sống ấm no, hạnh

phúc.

Tuy nhiên, quyền bình đẳng và quyền tự quyết dân tộc khơng

phải tự nhiên mà có và đương nhiên được thực hiện, ngược lại, chúng

là kết quả của cuộc đấu tranh chống mọi thế lực xâm lược, áp bức dân

tộc và gây nên sự đồng hóa cưỡng bức giữa các dân tộc.

- “Liên hợp công nhân tất cả các dân tộc lại” là nguyên tắc thứ ba

trong Cương lĩnh về vấn đề dân tộc của Lênin. Đây là sự liên minh

quốc tế trong cuộc đấu tranh chống áp bức giai cấp và dân tộc, vì sự

giải phóng dân tộc và xã hội. Lênin kiên trì nguyên tắc thống nhất giữa

các nhiệm vụ dân tộc và quốc tế của giai cấp công nhân. Lênin cho



9



rằng, việc giải phóng khỏi ách tư bản, việc xây dựng xã hội chủ nghĩa

và Cộng sản chủ nghĩa là nhiệm vụ quốc tế của tất cả những người vô

sản, của tất cả nhân dân lao động các nước. Chủ nghĩa quốc tế vơ sản

thể hiện tính chất chung của những quyền lợi cơ bản và những ý

nguyện tiến bộ của nhân dân lao động tất cả các dân tộc, về nguồn gốc

và bản chất, nó đối lập với chủ nghĩa dân tộc tư sản gây sự hằn thù và

chia rẽ giữa các dân tộc.



10



Chương 2

THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ DÂN TỘC VÀ QUAN ĐIỂM THỰC HIỆN

CHÍNH SÁCH DÂN TỘC CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

2.1. Tình hình và đặc điểm của dân tộc Việt Nam

Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc thống nhất gồm 54 dân tộc.

Dân tộc Kinh chiếm 87% dân số; 53 dân tộc còn lại chiếm 13% dân số,

phân bố rải rác trên địa bàn cả nước. 10 dân tộc có số dân từ dưới 1

triệu đến 100 ngàn người là: Tày, Nùng, Thái, Mường, Khơme, Mông,

Dao, Giarai, Bana, Êđê; 20 dân tộc có số dân dưới 100 ngàn người; 16

dân tộc có số dân từ dưới 10 ngàn người đến 1 ngàn người; 6 dân tộc có

số dân dưới 1 ngàn người Cống, Si La, Pu Péo, Rơ Măm, Ơ Đu, Brâu).

Đặc trưng nổi bật trong quan hệ giữa các dân tộc ở nước ta là sự

cố kết dân tộc, hoà hợp dân tộc trong một cộng đồng thống nhất đã trở

thành truyền thống, thành sức mạnh và đã được thử thách trong các

cuộc đấu tranh chống ngoại xâm, bảo vệ Tổ quốc, xây dựng đất nước

qua mấy ngàn năm lịch sử cho đến ngày nay.

Do những yếu tố đặc thù của nền kinh tế trồng lúa nước, một kết

cấu công xã nông thôn bền chặt sớm xuất hiện. Trải qua lịch sử liên tục

chống ngoại xâm, dân tộc ta đã hình thành rất sớm và trở thành một

quốc gia dân tộc thống nhất ngay dưới chế độ phong kiến. Đoàn kết là

xu hướng khách quan cố kết các dân tộc trên cơ sở có chung lợi ích, có

chung vận mệnh lịch sử, chung một tương lai, tiền đồ.

Tuy nhiên, bên cạnh mặt cố kết tạo nên tính cộng đồng chung, có

nơi có lúc vẫn xảy ra hiện tượng tiêu cực trong quan hệ dân tộc. Chủ

nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch lại luôn luôn dùng mọi thủ đoạn

chia rẽ dân tộc và can thiệp vào nội bộ nước ta. Do đó, phát huy truyền

thống đồn kết, xố bỏ thành kiến, nghi kỵ dân tộc và kiên quyết đập

tan mọi âm mưu chia rẽ dân tộc của kẻ thù là nhiệm vụ trọng yếu của

nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ

nghĩa hiện nay.



11



Hình thái cư trú xen kẽ giữa các dân tộc ngày càng tăng, tuy

trong từng khu vực nhất định có những dân tộc sống tương đối tập

trung, nhưng khơng thành địa bàn riêng biệt. Do đó, các dân tộc ở nước

ta khơng có lãnh thổ riêng, khơng có nền kinh tế riêng và sự thống nhất

hữu cơ giữa dân tộc và quốc gia trên mọi mặt của đời sống xã hội ngày

càng được củng cố.

Do điều kiện tự nhiên, xã hội và hậu quả của các chế độ áp bức

bóc lột trong lịch sử nên trình độ phát triển kinh tế, văn hố... giữa các

dân tộc còn khác biệt, chênh lệch nhau.

Tình trạng chênh lệch về trình độ phát triển kinh tế, văn hoá...

giữa các dân tộc, giữa các vùng dân cư là một đặc trưng cần quan tâm

nhằm từng bước khắc phục sự chênh lệch đó để thực hiện bình đẳng,

đồn kết dân tộc ở nước ta. Nhiều vùng dân tộc thiểu số canh tác còn ở

trình độ rất thấp, chủ yếu dựa vào khai thác tự nhiên. Đời sống vật chất

của bà con dân tộc thiểu số còn thiếu thốn, tình trạng nghèo đói kéo dài,

thuốc chữa bệnh khan hiếm, nạn mù chữ và tái mù chữ còn ở nhiều nơi.

Đường giao thơng và phương tiện đi lại nhiều vùng rất khó khăn; điện,

nước phục vụ cho sản xuất đời sống nhiều vùng còn rất thiếu; thông tin,

bưu điện nhiều nơi chưa đáp ứng yêu cầu của đời sống, nhất là ở vùng

cao, vùng xa xôi hẻo lánh...

Cùng với nền văn hoá cộng đồng, mỗi dân tộc trong đại gia đình

các dân tộc Việt Nam đều có đời sống văn hố mang bản sắc riêng rất

phong phú. Bởi vì, bất cứ dân tộc nào, dù nhiều người hay ít người, đều

có nền văn hố riêng, phản ánh truyền thống lịch sử, đời sống tinh thần,

niềm tự hào của dân tộc bằng những bản sắc độc đáo. Đặc trưng của sắc

thái văn hoá dân tộc bao gồm: ngơn ngữ tiếng nói, văn học, nghệ thuật,

tình cảm dân tộc, y phục, phong tục tập quán, quan hệ gia đình, dòng

họ... Một số dân tộc có chữ viết riêng (Khơme, Chăm, Thái, Mông,

Giarai, Êđê ). Một số dân tộc thiểu số gắn với một vài tôn giáo truyền

thống (Khơme – với đạo Phật; Chăm – với Islam, Bàlamôn ); một vài

12



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG HIỂU BIẾT CHUNG VỀ VẤN ĐỀ DÂN TỘC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×