Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một số vấn đề còn tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay

Một số vấn đề còn tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay

Tải bản đầy đủ - 0trang

39,7%; Duyên hải miền Trung 23,3%; Tây Nguyên 52,2%; Đông Nam Bộ

10,2% và Đồng bằng sơng Cửu Long 20,8%.

Có thể thấy rõ hơn thực trạng của các hộ nghèo qua một số chỉ tiêu

phản ánh cuộc sống hàng ngày của họ. Theo số liệu điều tra về mức sống dân

cư Việt Nam, nếu chia dân cư thành 5 nhóm thu nhập (tổng số nhân khẩu điều

tra được sắp xếp theo mức thu nhập bình quân đầu người từ thấp đến cao, sau

đó chia thành 5 nhóm với số nhân khẩu bằng nhau - 20%), thì nhóm 1- nhóm

nghèo nhất có thu nhập trung bình năm 1998 là 62.916 VNĐ/người/tháng.

(755 nghìn/năm) và năm 2002 là 107.670 VNĐ/người/tháng. Trên 62,71% thu

nhập của hộ nghèo là từ hoạt động nông lâm nghiệp và thủy sản, 8% tìm hoạt

động phi nơng nghiệp, 19,24% từ tiền công, tiền lương và 10,05% là nguồn

thu khác. Điều này phản ánh rằng các hộ nghèo chủ yếu sống dựa vào nông

nghiệp và ở nông thôn.Cơ cấu chi tiêu của nhóm nghèo tập trung cho các nhu

cầu thiết yếu, như trên 70%. chi tiêu là cho nhu cầu ăn, uống, hút và chưa đến

30% cho các nhu cầu khác như mặc, y tế, giao thơng, giáo dục, văn hố, thể

thao. Một trong những nhu cầu cơ bản của con người là nơi ở. Năm 2002 có

39,93% người nghèo sống trong những căn nhà đơn sơ, tạm bợ, không bảo

đảm an toàn. Các đồ dùng lâu bền phục vụ sinh hoạt hàng ngày vẫn còn rất

thiếu so với nhu cầu cuộc sống hiện đại. Năm 1998 chỉ có 0,11% hộ nghèo có

tủ lạnh, 1,41% hộ nghèo có xe máy, và chưa đến 0,01% hộ nghèo có điện

thoại.

3.2. Sự phân hóa giàu nghèo, giữa các khu vực nông thôn và thành

thị, giữa các vùng kinh tế và giữa các đơn vị hành chính đang tồn tại với

khoảng cách tương đối lớn, có xu hướng tăng.

Sự phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng được chú ý trong thời kỳ

chuyển đổi kinh tế ở nước ta. Trước hết tỷ lệ nghèo phân biệt theo các vùng

(xem biểu 2).

Biểu 2: Tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo chung chia theo vùng (%)

Vùng

Đồng bằng sông Hồng

Đông Bắc



1998

29,3

62,0

11



2002

22,4

38,4



Tây Bắc

73,4

68,0

Bắc Trung Bộ

48,1

43,9

Duyên hải Nam Trung Bộ

34,5

25,2

Tây Nguyên*

52,4

51

Đông Nam Bộ*

12,2

10,6

Đồng bằng sơng Cửu Long

36,9

23,4

Chú thích: (*) theo sự phân vùng lại năm 2002 Đông Nam Bộ bao gồm

cả các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng.Vùng Tây Nguyên không

bao gồm Lâm Đồng.

Nguồn: Tổng cục thống kê (2004). Kết quả điều tra mức sống hộ gia

đình năm 2002.

Các số liệu biểu 2 cho thấy sự chênh lệch về nghèo đói giữa các vùng.

Năm 2002 vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là Tây Bắc (68,0%), sau đó đến

Tây Nguyên (51,8%), Bắc Trung Bộ (43,9%), và thấp nhất là Đông Nam Bộ

(10,6%). Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng Tây Bắc nhiều gấp gần 7 lần vùng Đông Nam

Bộ, còn Tây Nguyên là gần 5 lần và Bắc Trung Bộ là 4 lần... Cùng với xu

hướng giảm tỷ lệ nghèo chung của cả nước, các vùng cũng có xu hướng giảm,

trong đó Đơng Bắc và Đơng bằng sơng Cửu Long có mức giảm nhanh nhất.

Các tỉnh có tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm cao nhất tập trung ở vùng miền

núi phía Bắc là Lai Châu (35,68%), Bắc Kạn (30,74%), Lào Cai (29,56%),

Cao Bằng (27,01%), ở Tây Nguyên có tỉnh Gia Lai (18,18%), ở Bắc Trung Bộ

có tỉnh Hà Tĩnh (22,55%).

Các tỉnh có tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm thấp nhất là Thành phố

Hồ Chí Minh (1,26%), Bình Dương (1,68%), Đà Nẵng (1,83%), Hà Nội

(2,25%). Nếu so sánh chỉ tiêu này chúng ta thấy sự chênh lệch này rất lớn, thí

dụ, tỷ lệ nghèo của tỉnh Lai Châu nhiều gấp hơn 28,3 lần so với thành phố Hồ

Chí Minh và gấp 15,86 lần so với Hà Nội.

3.3. Sự bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư khá rõ nét, các hộ

nghèo ít có cơ hội tiếp cận đối với giáo dục, y tế, việc làm và các hoạt

động văn hoá, tinh thần... so với các hộ giàu.

Sự phân hóa giàu nghèo còn thể hiện rõ khi điều tra dựa trên phân tổ

theo 5 nhóm thu nhập, như đã giải thích ở trên. Năm 2002 nhóm giàu nhất có

12



thu nhập/người/tháng là 873 nghìn, gấp 8,1 lần nhóm nghèo nhất (108 nghìn).

Có thế thấy sự bất bình đẳng này phản ánh trong biểu 3.



13



Biểu 3: Sự bất bình đẳng giữa nhóm nghèo nhất và nhóm giàu nhất

năm 2002

Các chỉ tiêu chủ yếu

1. Tỷ lệ biết chữ (%)

2. Chi tiêu cho giáo dục bình quân năm

(nghìn đồng)

3. Tỷ lệ đến khám chữa bệnhtại các cơ sở y tế

(%)

4. Chi tiêu cho y tế bình quân năm

(nghìn đồng)

5. Số giờ làm việc trung bình tuần (giờ)

6. Thu nhập bình quân đầu người tháng

(nghìn đồng)

7. Chi tiêu cho đời sống bình



Nhóm nghèo



Nhóm giàu



nhất

83,9



nhất

97



236



1418



16,5



22



395,03

25



1181,43

42,4



108



873



123,3

9,5

1,28



547,53

17,5

34,93



qn/người/tháng (nghìn đồng)

8. Diện tích ở bình qn nhân khẩu (m2)

9. Tỷ lệ hộ sử dụng nước máy (%)

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2004). Kết quả điều tra mức sống hộ gia

đình năm 2002

Các số liệu của biểu 3 được tập hợp theo một số chỉ tiêu chủ yếu từ

cuộc điều tra mức sống hộ gia đình nêu trên. Đơn giản chỉ cần làm phép so

sánh (chia hoặc trừ) giữa hai nhóm dân cư nghèo nhất và giàu nhất, kết quả sẽ

cho biết mức độ bất bình đẳng giữa họ.Nhóm dân cư giàu đã có ưu thế trong

nhiều lĩnh vực dịch vụ, kể cả việc làm. Bởi vì số giờ làm việc trung bình của

nhóm giàu nhiều hơn nhóm nghèo đến 1,7 lần, khơng phải vì những người

nghèo làm ít giờ và khơng muốn làm việc, mà do tình trạng thiếu việc làm,

đặc biệt là tình trạng thời gian nhàn rỗi ở khu vực nơng thơn.

Ngồi sự phân tích ở trên, sự phân hóa giàu nghèo còn được nhận biết

qua hệ số GINI. Nếu GINI = 0 thì khơng có sự bất bình đẳng, và khi GINI = 1

thì sự bất bình đẳng là tuyệt đối. Hệ số GINI của Việt Nam tính từ số liệu thu

nhập như sau: năm 1994 là 0,35; năm 1999 là 0,39 và năm 2002 là 0,42. Chỉ

tiêu này có khác biệt nhưng khơng nhiều giữa các khu vực và các vùng; Điều

14



đó cho thấy sự bất bình đẳng về thu nhập ở mức thấp nhưng đang có xu

hướng tăng.

4. Nghèo ở nước ta do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ

quan.

4.1. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu vốn và kiến thức, kinh

nghiệm, bên cạnh đó còn do rủi ro và tệ nạn xã hội.

Theo số liệu báo cáo từ điều tra xác định hộ nghèo của Bô LĐ TB &

XH, hiện nay tồn tại nhiều nguyên nhân nghèo, trong đó có 8 nguyên nhân

chủ yếu được tập hợp trong biểu 4.

Biểu 4: Các nguyên nhân nghèo chung cả nước và chia theo vùng

(Tỷ lệ % ý kiến so với tổng)

Thiếu

vốn

63,69

55,20

73,60



Thiếu

đất

20,82

21,38

10,46



Thiếu Thiếu kinh



nghiệm

11,40

31,12

8,26

33,45

5,56

47,37



Bệnh Tệ

Rủi ro

tật

nạn

16,94 1,18 1,65

7,79 2,30 1,26

5,78 0,58 0,52



Đông

người

13,60

12,08

9,39



Cả nước

1.Đông Bắc

2.Tây Bắc

3.Đồng bằng

54,96 8,54 17,50

23,29

36,26 1,46 2,39 7,30

sông Hồng

50,65

14,42 0,80 1,92 16,61

4.Bắc Trung Bộ 80,95 18,90 14,60

5.Duyên hải

50,84 12,59 10,80

17,57

31,95 0,83 1,34 20,71

Nam Trung Bộ

65,95 26,12 7,76

27,11

9,03 1,22 1,32 13,72

6.Tây Nguyên

20,60

17,54 0,37 0,39 9,50

7.Đông Nam Bộ 79,92 20,08 8,64

48,44 47,73 5,47

5,88

4,22 0,87 1,80 11,95

8.Đồng bằng

sông Cửu Long

Nguồn: Bộ LĐTBXH (2003), Số liệu nghèo đói năm 2002

Các số liệu trong bảng 4 cho thấy trong cả nước nguyên nhân hàng đầu

của sự nghèo là thiếu vốn, nguyên nhân này chiếm đến 63,69% ý kiến được

hỏi. Tiếp theo là các nguyên nhân thiếu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh

(31,12%), thiếu đất (20,82%), bệnh tật (16,94%), đơng người (13,6%), thiếu

1ao động (11,40%)... Trình tự này đúng với hầu hết các vùng, tuy có khác

nhau về mức độ.Sự khác nhau này phần nào phản ánh đặc điểm của từng

vùng. Chẳng hạn, nguyên nhân thiếu vốn có vẻ trầm trọng ở vùng nghèo như

Bắc Trung Bộ (80,95%), Tây Bắc (73,6%), ở đây người dân cần vốn để sản

xuất nhằm giảm nghèo, tiến tới đủ ăn, đủ mặc. Tuy nhiên ở vùng Đơng Nam

Bộ, nơi có thu nhập bình qn cao nhất cũng thiếu vốn, nhưng mang tính chất

15



khác với các vùng nghèo, vì họ cần vốn để sản xuất kinh doanh, những nơi

này khơng có vốn cũng có thể dẫn đến nghèo. Nhu cầu về vốn ở người nghèo

khá lớn nhưng việc tiếp cận các nguồn vốn còn khó khăn, bởi vì nếu vay của

tư nhân thì lãi suất cao, còn các tổ chức tín dụng, như ngân hàng hoặc một số

quỹ thì gặp các rào cản như thủ tục rườm rà… Hầu hết ở các vùng nhiều ý

kiến cho rằng vai trò của kinh nghiệm sản xuất kinh doanh đóng vai trò quan

trọng trong giảm nghèo. Kiến thức và kinh nghiệm luôn cần để sử dụng tiềm

năng về đất, vốn, lao động. Những vùng nghèo như Tây Bắc (47,37%) và Bắc

Trung Bộ (50,65%) là nơi có nhiều ý kiến cho rằng đây là nguyên nhân quan

trọng. Nguyên nhân thiếu đất có thể xảy ra với các vùng có mật độ dân số cao,

tỷ lệ đất canh tác trên đầu người thấp như Bắc Trung Bộ hay Duyên hải miền

Trung, và cả đối với vùng cần có diện tích lớn để canh tác, như Đồng bằng

sơng Cửu Long, trong đó một số hộ nghèo bán/chuyển nhượng quyền sử đụng

đất canh tác mà trước đây họ đã được cấp. Đây là một hiện tượng nổi cộm có

liên quan đến cơ chế quản lý, phương thức sản xuất... Nguyên nhân thiếu lao

động dẫn đến nghèo thường đi đôi với đơng người, thường diễn ra với các gia

đình có đơng con, nhiều người sống phụ thuộc, khơng có khả năng lao động...

Nguyên nhân rủi ro xảy ra không chỉ khi thời tiết bất hoà, mà cả khi mất giá

trong một số sản xuất hàng hố nơng nghiệp (cà phê, hoa quả) và do con

người gây nên hoả hoạn, cháy rừng….



CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO PHƯƠNG

PHÁP PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TRONG CƠNG TÁC

XĨA ĐĨI GIẢM NGHÈO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1. Các phương hướng chính trong phát triển cộng đồng

Các phương hướng về phát triển cộng đồng phải đưa ra các chỉ dẫn như:

- Sự tham gia của người dân là yếu tố cơ bản

- Thiết chế xã hội chính là mơi trường cho sự tham gia, còn các tổ

chức chính quyền, đồn thể ở địa phương phải thể hiện được vai trò tổ chức.

Sự phát triển phải hỗ trợ cả việc nâng cao năng lực cho các tổ chức này.



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số vấn đề còn tồn tại trong công tác xóa đói giảm nghèo ở nước ta hiện nay

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×