Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thành tựu đạt được trong việc xóa đói giảm nghèo ở nước ta trong thời gian qua do hoạt động phát triển cộng đồng trong công tác xã hội mang lại

Thành tựu đạt được trong việc xóa đói giảm nghèo ở nước ta trong thời gian qua do hoạt động phát triển cộng đồng trong công tác xã hội mang lại

Tải bản đầy đủ - 0trang

- Thứ hai là huy động vốn, ngân sách trung ương đã phân bổ 1900 tỷ

VNĐ cho chương trình, và tổng vốn huy động trong nước từ các nguồn từ

năm 2001 đến nay đạt khoảng 15.000 tỷ. Ngoài ra, hoạt động hợp tác quốc tế

hướng vào mục tiêu XĐGN thông qua nhiều dự án với WB, ADB, IFAD,

CIDA huy động số vốn đến năm 2004 khoản 250 triệu USD, tương đương với

khoảng 4000 tỷ đồng. Quỹ "ngày vì người nghèo" ở 4 cấp cũng huy động

được trên 570 tỷ VNĐ.

- Thứ ba là sự tham gia hiệu quả của các cấp chính quyền, các tổ chức

xã hội, cộng đồng và của từng người dân.

- Thứ tư là xây dựng và thực hiện thành cơng nhiều mơ hình xố đói

giảm nghèo, như chuyển giao kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất cho người

nghèo, vay vốn tín dụng ưu đãi gắn với tập huấn kỹ thuật cho hội viên nghèo,

hoạt động trợ giúp hộ nghèo về nhà ở, khám chữa bệnh miễn phí và trợ giúp

con em người nghèo trong giáo dục, học nghề, xây dựng cơng trình hạ tầng cơ

sở ở các xã đặc biệt khó khăn, giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc

thiểu số thiếu đất sản xuất, hỗ trợ cho hộ nghèo vay chuộc lại đất sản xuất bị

cầm cố, nhượng bán, liên kết giữa các doanh nghiệp và hộ nghèo thông qua

hỗ trợ vốn, giống, kỹ thuật mua và chế biến sản phẩm, liên thông xuất khẩu

lao động từ đào tạo nghề đến cung cấp lao động, tuyển lao động và cho vay

vốn tín dụng để đi làm việc ở nước ngồi và nhiều mơ hình và các hoạt động

hiệu quả khác.

2.2. Tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta đã giảm nhanh, trong đó thành thị

giảm nhanh hơn nông thôn. Đây được coi là một trong những thành tựu

phát triển kinh tế xã hội ở nước ta trong thời gian qua.

Nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư khơng có khả năng

thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người mà nhu cầu tuỳ thuộc vào trình độ

phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và được xã hội

thừa nhận. Trên thực tế, lượng hóa mức độ nghèo thông qua chuẩn nghèo, và

chuẩn nghèo thay đổi cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Bộ Lao

động- Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) nước ta ban hành; điều chỉnh

8



tiêu chí hộ nghèo, người nghèo qua từng giai đoạn, và chuẩn nghèo áp dụng

cho giai đoạn 2001 - 2005 là người có thu nhập bình qn dưới 100.000

đồng/tháng ở vùng nông thôn đồng bằng, dưới 150.000 đồng/tháng đối với

vùng thành thị và 80.000 đồng đối với vùng núi, hải đảo. Đây là cơ sở để xác

định đối tượng mục tiêu tác động (hưởng lợi) từ các chính sách của chương

trình quốc gia XĐGN. Ngồi chuẩn nghèo nêu trên, nhiều tiêu chí khác được

sử dụng trong các nghiên cứu, phân tích nghèo đói ở Việt Nam, như: chuẩn

nghèo lương thực thực phẩm, chuẩn nghèo chung... Nếu chuẩn nghèo lương

thực thực phẩm dựa vào cơ sở thu nhập của người nghèo chỉ đáp ứng nhu cầu

ăn, uống (thông qua nghiên cứu "rổ hàng hố thiết yếu") thì chuẩn nghèo

chung có tính đến các chi phí cho nhu cầu thiết yếu khác như ở, đi lại, giáo

dục, y tế. Hiện nay các cơ quan chức, năng ở nước ta đang nghiên cứu để đưa

ra chuẩn nghèo mới cho giai đoạn 2006- 2010.

Theo chuẩn nghèo hiện tại, tỷ lệ hộ nghèo năm 2004 ở nước ta là 8,3%

tương đương với khoảng 1,45 triệu hộ nghèo (năm 2001 tỷ lệ nghèo là 17,4%

với khoảng 2,8 triệu hộ nghèo). Điều này cho thấy thực trạng nghèo đói đã

được cải thiện nhanh.Xu hướng này được phản ánh cụ thể trong biểu 1.

Biểu 1: Tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta trong thời gian qua

Đơn vị: %



Các chỉ tiêu

1993

1998

2002

Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn chung)

58,1

37,4

28,9

- Thành thị

25,1

9,2

6,6

- Nông thôn

66,4

45,5

35,6

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn lương thực

24,9

15

10,9

- Thành thị

7,9

2,5

1,9

- Nông thôn

29,1

18,6

13,6

Khoảng cách nghèo

18,5

9,5

6,9

- Thành thị

6,4

1,7

1,3

- Nơng thơn

21,5

11,8

8,7

Nguồn: Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (2003), báo cáo

phát triển con người 2002.

Các số liệu trong biểu 1 được tính tốn dựa trên chuẩn nghèo chung do

Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới sử dụng để điều tra. Chúng tơi

9



trích dẫn các số liệu này với mục đích chủ yếu để phân tích xu hướng thay đổi

tỷ lệ nghèo sau thời kỳ 10 năm, từ 1993 đến 2002. Nếu năm 1993 có 58,1%

hộ nghèo, thì năm 1998 còn 37,4% số hộ và đến năm 2002 tỷ lệ này là 28,9%

(khoảng 4,73 triệu hộ nghèo). Nghĩa là sau 10 năm hơn một nửa số hộ nghèo

đã được thoát nghèo. Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo ở nơng thơn và thành thị

khơng giống nhau, trong đó thành thị giảm đi tới 4 lần, từ 25,1% năm 1993

xuống còn 6,6% năm 2002, trong khi đó nơng thơn chỉ giảm được gần 1/2 số

hộ nghèo, từ 66,4%/o xuống 35,6%. Nếu tính theo chuẩn lương thực, thực

phẩm, thì ở thành thị số tỷ lệ hộ nghèo còn giảm nhanh hơn, từ 7,9% xuống

còn 1,9%, nghĩa là giảm đi 4 lần, trong khi đó ở nơng thơn chỉ giảm đi hơn 2

lần từ 29,1% xuống còn 13,6%. Các số liệu theo chỉ số khoảng cách nghèo

tính theo chuẩn nghèo chung (chỉ số này cho biết mức độ nghèo và được từ

bằng phân chênh lệch giữa mức chi tiêu thực tế so với chuẩn nghèo và được

bình qn hố) cũng cho biết xu hướng tương tự, cụ thể, giảm từ 18,5% năm

1993 còn 9,5% vào năm 1998 và đến năm 2002 còn 6,9%.

3. Một số vấn đề còn tồn tại trong cơng tác xóa đói giảm nghèo ở

nước ta hiện nay

3.1. Số hộ nghèo vẫn còn nhiều, và phần lớn ở vùng nơng thơn, số hộ

ở cận kề chuẩn nghèo còn đơng, nếu nâng chuẩn nghèo lên gấp đơi thì tỷ lệ

hộ nghèo đã tăng lên gấp hơn 3 lần. Mức độ nghèo còn khá nghiêm trọng.

Căn cứ vào chuẩn nghèo hiện nay ở nước ta có thể thấy được mức độ

nghèo của một bộ phận không nhỏ dân cư. Theo các nhà hoạch định chính sách,

nếu nâng chuẩn nghèo lên, dự kiến 180.000 VNĐ- 200.000 VNĐ/người/tháng

đối với vùng nông thôn và khoảng 250.000 VNĐ-260.000 VNĐ/người/tháng đối

với vùng thành thị, thì Việt Nam sẽ có khoảng 4,6 triệu hộ nghèo, chiếm 26%

tổng số hộ tồn quốc. Trong đó hộ nghèo ở nông thôn miền núi sẽ là 45,9%, ở

vùng nông thôn đồng bằng sẽ là 23,2% và ở khu vực thành thị là 12,2%. Khi

đó, tỷ lệ nghèo ở các vùng kinh tế sẽ có chênh lệch đáng kể: Tây Bắc là

72,3%; Đông Bắc 36,1%; Đồng bằng sông Hồng 19,8%; Bắc Trung Bộ



10



39,7%; Duyên hải miền Trung 23,3%; Tây Nguyên 52,2%; Đơng Nam Bộ

10,2% và Đồng bằng sơng Cửu Long 20,8%.

Có thể thấy rõ hơn thực trạng của các hộ nghèo qua một số chỉ tiêu

phản ánh cuộc sống hàng ngày của họ. Theo số liệu điều tra về mức sống dân

cư Việt Nam, nếu chia dân cư thành 5 nhóm thu nhập (tổng số nhân khẩu điều

tra được sắp xếp theo mức thu nhập bình quân đầu người từ thấp đến cao, sau

đó chia thành 5 nhóm với số nhân khẩu bằng nhau - 20%), thì nhóm 1- nhóm

nghèo nhất có thu nhập trung bình năm 1998 là 62.916 VNĐ/người/tháng.

(755 nghìn/năm) và năm 2002 là 107.670 VNĐ/người/tháng. Trên 62,71% thu

nhập của hộ nghèo là từ hoạt động nông lâm nghiệp và thủy sản, 8% tìm hoạt

động phi nơng nghiệp, 19,24% từ tiền công, tiền lương và 10,05% là nguồn

thu khác. Điều này phản ánh rằng các hộ nghèo chủ yếu sống dựa vào nông

nghiệp và ở nông thôn.Cơ cấu chi tiêu của nhóm nghèo tập trung cho các nhu

cầu thiết yếu, như trên 70%. chi tiêu là cho nhu cầu ăn, uống, hút và chưa đến

30% cho các nhu cầu khác như mặc, y tế, giao thông, giáo dục, văn hoá, thể

thao. Một trong những nhu cầu cơ bản của con người là nơi ở. Năm 2002 có

39,93% người nghèo sống trong những căn nhà đơn sơ, tạm bợ, không bảo

đảm an toàn. Các đồ dùng lâu bền phục vụ sinh hoạt hàng ngày vẫn còn rất

thiếu so với nhu cầu cuộc sống hiện đại. Năm 1998 chỉ có 0,11% hộ nghèo có

tủ lạnh, 1,41% hộ nghèo có xe máy, và chưa đến 0,01% hộ nghèo có điện

thoại.

3.2. Sự phân hóa giàu nghèo, giữa các khu vực nơng thơn và thành

thị, giữa các vùng kinh tế và giữa các đơn vị hành chính đang tồn tại với

khoảng cách tương đối lớn, có xu hướng tăng.

Sự phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng được chú ý trong thời kỳ

chuyển đổi kinh tế ở nước ta. Trước hết tỷ lệ nghèo phân biệt theo các vùng

(xem biểu 2).

Biểu 2: Tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo chung chia theo vùng (%)

Vùng

Đồng bằng sông Hồng

Đông Bắc



1998

29,3

62,0

11



2002

22,4

38,4



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thành tựu đạt được trong việc xóa đói giảm nghèo ở nước ta trong thời gian qua do hoạt động phát triển cộng đồng trong công tác xã hội mang lại

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×