Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ - 0trang

Việt Nam là 12.9%, theo chuẩn thế giới là 29% và tỷ lệ nghèo lương thực

(%số hộ nghèo ước lượng năm 2002) là 10.87%. Vào đầu thập niên 1990,

chính phủ Việt Nam đã phát động chương trình Xóa đói giảm nghèo cùng với

lời kêu gọi của Ngân hàng thế giới. UNDP cho rằng mặc dù Việt Nam đã đạt

được tăng trưởng kinh tế bền vững và kết quả rất ấn tượng giảm tỷ lệ nghèo,

song vẫn còn tồn tại tình trạng nghèo cùng cực ở một số vùng. Để đạt được

các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDG), Việt Nam cần phải giải quyết

tình trạng nghèo cùng cực.

Cho đến năm 2009, theo chuẩn nghèo trên, cả nước Việt Nam hiện có

khoảng 2 triệu hộ nghèo, đạt tỷ lệ 11% dân số. Tuy nhiên, trên diễn đàn Quốc

hội Việt Nam, rất nhiều đại biểu cho rằng tỷ lệ hộ nghèo giảm khơng phản ánh

thực chất vì số người nghèo trong xã hội khơng giảm, thậm chí còn tăng do

tác động của lạm phát (khoảng 40% kể từ khi ban hành chuẩn nghèo đến nay)

và do là suy giảm kinh tế. Chuẩn nghèo quốc gia của Việt Nam hiện nay là

gồm những hộ có mức thu nhập bình qn từ 200.000 đến 260.000

đồng/người/tháng. Mặc dù vậy, nhiều hộ gia đình vừa thoát nghèo vẫn rất dễ

rớt trở lại vào cảnh nghèo đói. Trong thập kỷ tới đây nỗ lực của Việt Nam

trong việc hội nhập với nền kinh tế toàn cầu sẽ tạo ra nhiều cơ hội cho sự tăng

trưởng, nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với sự nghiệp giảm nghèo.

2. Thành tựu đạt được trong việc xóa đói giảm nghèo ở nước ta

trong thời gian qua do hoạt động phát triển cộng đồng trong công tác xã

hội mang lại

2.1. Với chủ trương, chính sách xố đói giảm nghèo đúng đắn của

Đảng và Nhà nước, việc thực hiện chương trình xố đói giảm nghèo trong

phát triển cộng đồng mang lại những kết quả to lớn, mang tính xã hội cao.

Việt Nam đã đạt những thành tựu to lớn trong cơng tác xố đói giảm

nghèo, điều đó được cả thế giới cơng nhận.- Trước hết là các chính sách đúng

đắn của Đảng và Nhà nước thông qua việc thực hiện chương trình mục tiêu

quốc gia xố đói giảm nghèo.



7



- Thứ hai là huy động vốn, ngân sách trung ương đã phân bổ 1900 tỷ

VNĐ cho chương trình, và tổng vốn huy động trong nước từ các nguồn từ

năm 2001 đến nay đạt khoảng 15.000 tỷ. Ngoài ra, hoạt động hợp tác quốc tế

hướng vào mục tiêu XĐGN thông qua nhiều dự án với WB, ADB, IFAD,

CIDA huy động số vốn đến năm 2004 khoản 250 triệu USD, tương đương với

khoảng 4000 tỷ đồng. Quỹ "ngày vì người nghèo" ở 4 cấp cũng huy động

được trên 570 tỷ VNĐ.

- Thứ ba là sự tham gia hiệu quả của các cấp chính quyền, các tổ chức

xã hội, cộng đồng và của từng người dân.

- Thứ tư là xây dựng và thực hiện thành cơng nhiều mơ hình xố đói

giảm nghèo, như chuyển giao kỹ thuật và kinh nghiệm sản xuất cho người

nghèo, vay vốn tín dụng ưu đãi gắn với tập huấn kỹ thuật cho hội viên nghèo,

hoạt động trợ giúp hộ nghèo về nhà ở, khám chữa bệnh miễn phí và trợ giúp

con em người nghèo trong giáo dục, học nghề, xây dựng cơng trình hạ tầng cơ

sở ở các xã đặc biệt khó khăn, giải quyết đất sản xuất cho đồng bào dân tộc

thiểu số thiếu đất sản xuất, hỗ trợ cho hộ nghèo vay chuộc lại đất sản xuất bị

cầm cố, nhượng bán, liên kết giữa các doanh nghiệp và hộ nghèo thông qua

hỗ trợ vốn, giống, kỹ thuật mua và chế biến sản phẩm, liên thông xuất khẩu

lao động từ đào tạo nghề đến cung cấp lao động, tuyển lao động và cho vay

vốn tín dụng để đi làm việc ở nước ngồi và nhiều mơ hình và các hoạt động

hiệu quả khác.

2.2. Tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta đã giảm nhanh, trong đó thành thị

giảm nhanh hơn nông thôn. Đây được coi là một trong những thành tựu

phát triển kinh tế xã hội ở nước ta trong thời gian qua.

Nghèo được hiểu là tình trạng một bộ phận dân cư khơng có khả năng

thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người mà nhu cầu tuỳ thuộc vào trình độ

phát triển kinh tế xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và được xã hội

thừa nhận. Trên thực tế, lượng hóa mức độ nghèo thơng qua chuẩn nghèo, và

chuẩn nghèo thay đổi cùng với sự tăng trưởng và phát triển kinh tế. Bộ Lao

động- Thương binh và Xã hội (Bộ LĐTBXH) nước ta ban hành; điều chỉnh

8



tiêu chí hộ nghèo, người nghèo qua từng giai đoạn, và chuẩn nghèo áp dụng

cho giai đoạn 2001 - 2005 là người có thu nhập bình qn dưới 100.000

đồng/tháng ở vùng nông thôn đồng bằng, dưới 150.000 đồng/tháng đối với

vùng thành thị và 80.000 đồng đối với vùng núi, hải đảo. Đây là cơ sở để xác

định đối tượng mục tiêu tác động (hưởng lợi) từ các chính sách của chương

trình quốc gia XĐGN. Ngồi chuẩn nghèo nêu trên, nhiều tiêu chí khác được

sử dụng trong các nghiên cứu, phân tích nghèo đói ở Việt Nam, như: chuẩn

nghèo lương thực thực phẩm, chuẩn nghèo chung... Nếu chuẩn nghèo lương

thực thực phẩm dựa vào cơ sở thu nhập của người nghèo chỉ đáp ứng nhu cầu

ăn, uống (thông qua nghiên cứu "rổ hàng hố thiết yếu") thì chuẩn nghèo

chung có tính đến các chi phí cho nhu cầu thiết yếu khác như ở, đi lại, giáo

dục, y tế. Hiện nay các cơ quan chức, năng ở nước ta đang nghiên cứu để đưa

ra chuẩn nghèo mới cho giai đoạn 2006- 2010.

Theo chuẩn nghèo hiện tại, tỷ lệ hộ nghèo năm 2004 ở nước ta là 8,3%

tương đương với khoảng 1,45 triệu hộ nghèo (năm 2001 tỷ lệ nghèo là 17,4%

với khoảng 2,8 triệu hộ nghèo). Điều này cho thấy thực trạng nghèo đói đã

được cải thiện nhanh.Xu hướng này được phản ánh cụ thể trong biểu 1.

Biểu 1: Tỷ lệ hộ nghèo ở nước ta trong thời gian qua

Đơn vị: %



Các chỉ tiêu

1993

1998

2002

Tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn chung)

58,1

37,4

28,9

- Thành thị

25,1

9,2

6,6

- Nông thôn

66,4

45,5

35,6

Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn lương thực

24,9

15

10,9

- Thành thị

7,9

2,5

1,9

- Nông thôn

29,1

18,6

13,6

Khoảng cách nghèo

18,5

9,5

6,9

- Thành thị

6,4

1,7

1,3

- Nông thôn

21,5

11,8

8,7

Nguồn: Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc (2003), báo cáo

phát triển con người 2002.

Các số liệu trong biểu 1 được tính tốn dựa trên chuẩn nghèo chung do

Tổng cục Thống kê và Ngân hàng Thế giới sử dụng để điều tra. Chúng tơi

9



trích dẫn các số liệu này với mục đích chủ yếu để phân tích xu hướng thay đổi

tỷ lệ nghèo sau thời kỳ 10 năm, từ 1993 đến 2002. Nếu năm 1993 có 58,1%

hộ nghèo, thì năm 1998 còn 37,4% số hộ và đến năm 2002 tỷ lệ này là 28,9%

(khoảng 4,73 triệu hộ nghèo). Nghĩa là sau 10 năm hơn một nửa số hộ nghèo

đã được thốt nghèo. Tuy nhiên, tốc độ giảm nghèo ở nơng thơn và thành thị

khơng giống nhau, trong đó thành thị giảm đi tới 4 lần, từ 25,1% năm 1993

xuống còn 6,6% năm 2002, trong khi đó nơng thơn chỉ giảm được gần 1/2 số

hộ nghèo, từ 66,4%/o xuống 35,6%. Nếu tính theo chuẩn lương thực, thực

phẩm, thì ở thành thị số tỷ lệ hộ nghèo còn giảm nhanh hơn, từ 7,9% xuống

còn 1,9%, nghĩa là giảm đi 4 lần, trong khi đó ở nơng thơn chỉ giảm đi hơn 2

lần từ 29,1% xuống còn 13,6%. Các số liệu theo chỉ số khoảng cách nghèo

tính theo chuẩn nghèo chung (chỉ số này cho biết mức độ nghèo và được từ

bằng phân chênh lệch giữa mức chi tiêu thực tế so với chuẩn nghèo và được

bình qn hố) cũng cho biết xu hướng tương tự, cụ thể, giảm từ 18,5% năm

1993 còn 9,5% vào năm 1998 và đến năm 2002 còn 6,9%.

3. Một số vấn đề còn tồn tại trong cơng tác xóa đói giảm nghèo ở

nước ta hiện nay

3.1. Số hộ nghèo vẫn còn nhiều, và phần lớn ở vùng nơng thơn, số hộ

ở cận kề chuẩn nghèo còn đơng, nếu nâng chuẩn nghèo lên gấp đơi thì tỷ lệ

hộ nghèo đã tăng lên gấp hơn 3 lần. Mức độ nghèo còn khá nghiêm trọng.

Căn cứ vào chuẩn nghèo hiện nay ở nước ta có thể thấy được mức độ

nghèo của một bộ phận không nhỏ dân cư. Theo các nhà hoạch định chính sách,

nếu nâng chuẩn nghèo lên, dự kiến 180.000 VNĐ- 200.000 VNĐ/người/tháng

đối với vùng nông thôn và khoảng 250.000 VNĐ-260.000 VNĐ/người/tháng đối

với vùng thành thị, thì Việt Nam sẽ có khoảng 4,6 triệu hộ nghèo, chiếm 26%

tổng số hộ tồn quốc. Trong đó hộ nghèo ở nơng thơn miền núi sẽ là 45,9%, ở

vùng nông thôn đồng bằng sẽ là 23,2% và ở khu vực thành thị là 12,2%. Khi

đó, tỷ lệ nghèo ở các vùng kinh tế sẽ có chênh lệch đáng kể: Tây Bắc là

72,3%; Đơng Bắc 36,1%; Đồng bằng sông Hồng 19,8%; Bắc Trung Bộ



10



39,7%; Duyên hải miền Trung 23,3%; Tây Nguyên 52,2%; Đông Nam Bộ

10,2% và Đồng bằng sơng Cửu Long 20,8%.

Có thể thấy rõ hơn thực trạng của các hộ nghèo qua một số chỉ tiêu

phản ánh cuộc sống hàng ngày của họ. Theo số liệu điều tra về mức sống dân

cư Việt Nam, nếu chia dân cư thành 5 nhóm thu nhập (tổng số nhân khẩu điều

tra được sắp xếp theo mức thu nhập bình quân đầu người từ thấp đến cao, sau

đó chia thành 5 nhóm với số nhân khẩu bằng nhau - 20%), thì nhóm 1- nhóm

nghèo nhất có thu nhập trung bình năm 1998 là 62.916 VNĐ/người/tháng.

(755 nghìn/năm) và năm 2002 là 107.670 VNĐ/người/tháng. Trên 62,71% thu

nhập của hộ nghèo là từ hoạt động nông lâm nghiệp và thủy sản, 8% tìm hoạt

động phi nơng nghiệp, 19,24% từ tiền công, tiền lương và 10,05% là nguồn

thu khác. Điều này phản ánh rằng các hộ nghèo chủ yếu sống dựa vào nông

nghiệp và ở nông thôn.Cơ cấu chi tiêu của nhóm nghèo tập trung cho các nhu

cầu thiết yếu, như trên 70%. chi tiêu là cho nhu cầu ăn, uống, hút và chưa đến

30% cho các nhu cầu khác như mặc, y tế, giao thơng, giáo dục, văn hố, thể

thao. Một trong những nhu cầu cơ bản của con người là nơi ở. Năm 2002 có

39,93% người nghèo sống trong những căn nhà đơn sơ, tạm bợ, không bảo

đảm an toàn. Các đồ dùng lâu bền phục vụ sinh hoạt hàng ngày vẫn còn rất

thiếu so với nhu cầu cuộc sống hiện đại. Năm 1998 chỉ có 0,11% hộ nghèo có

tủ lạnh, 1,41% hộ nghèo có xe máy, và chưa đến 0,01% hộ nghèo có điện

thoại.

3.2. Sự phân hóa giàu nghèo, giữa các khu vực nông thôn và thành

thị, giữa các vùng kinh tế và giữa các đơn vị hành chính đang tồn tại với

khoảng cách tương đối lớn, có xu hướng tăng.

Sự phân hóa giàu nghèo là một hiện tượng được chú ý trong thời kỳ

chuyển đổi kinh tế ở nước ta. Trước hết tỷ lệ nghèo phân biệt theo các vùng

(xem biểu 2).

Biểu 2: Tỷ lệ nghèo theo chuẩn nghèo chung chia theo vùng (%)

Vùng

Đồng bằng sông Hồng

Đông Bắc



1998

29,3

62,0

11



2002

22,4

38,4



Tây Bắc

73,4

68,0

Bắc Trung Bộ

48,1

43,9

Duyên hải Nam Trung Bộ

34,5

25,2

Tây Nguyên*

52,4

51

Đông Nam Bộ*

12,2

10,6

Đồng bằng sơng Cửu Long

36,9

23,4

Chú thích: (*) theo sự phân vùng lại năm 2002 Đông Nam Bộ bao gồm

cả các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận và Lâm Đồng.Vùng Tây Nguyên không

bao gồm Lâm Đồng.

Nguồn: Tổng cục thống kê (2004). Kết quả điều tra mức sống hộ gia

đình năm 2002.

Các số liệu biểu 2 cho thấy sự chênh lệch về nghèo đói giữa các vùng.

Năm 2002 vùng có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là Tây Bắc (68,0%), sau đó đến

Tây Nguyên (51,8%), Bắc Trung Bộ (43,9%), và thấp nhất là Đông Nam Bộ

(10,6%). Tỷ lệ hộ nghèo ở vùng Tây Bắc nhiều gấp gần 7 lần vùng Đơng Nam

Bộ, còn Tây Nguyên là gần 5 lần và Bắc Trung Bộ là 4 lần... Cùng với xu

hướng giảm tỷ lệ nghèo chung của cả nước, các vùng cũng có xu hướng giảm,

trong đó Đơng Bắc và Đơng bằng sơng Cửu Long có mức giảm nhanh nhất.

Các tỉnh có tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm cao nhất tập trung ở vùng miền

núi phía Bắc là Lai Châu (35,68%), Bắc Kạn (30,74%), Lào Cai (29,56%),

Cao Bằng (27,01%), ở Tây Nguyên có tỉnh Gia Lai (18,18%), ở Bắc Trung Bộ

có tỉnh Hà Tĩnh (22,55%).

Các tỉnh có tỷ lệ nghèo lương thực, thực phẩm thấp nhất là Thành phố

Hồ Chí Minh (1,26%), Bình Dương (1,68%), Đà Nẵng (1,83%), Hà Nội

(2,25%). Nếu so sánh chỉ tiêu này chúng ta thấy sự chênh lệch này rất lớn, thí

dụ, tỷ lệ nghèo của tỉnh Lai Châu nhiều gấp hơn 28,3 lần so với thành phố Hồ

Chí Minh và gấp 15,86 lần so với Hà Nội.

3.3. Sự bất bình đẳng giữa các nhóm dân cư khá rõ nét, các hộ

nghèo ít có cơ hội tiếp cận đối với giáo dục, y tế, việc làm và các hoạt

động văn hố, tinh thần... so với các hộ giàu.

Sự phân hóa giàu nghèo còn thể hiện rõ khi điều tra dựa trên phân tổ

theo 5 nhóm thu nhập, như đã giải thích ở trên. Năm 2002 nhóm giàu nhất có

12



thu nhập/người/tháng là 873 nghìn, gấp 8,1 lần nhóm nghèo nhất (108 nghìn).

Có thế thấy sự bất bình đẳng này phản ánh trong biểu 3.



13



Biểu 3: Sự bất bình đẳng giữa nhóm nghèo nhất và nhóm giàu nhất

năm 2002

Các chỉ tiêu chủ yếu

1. Tỷ lệ biết chữ (%)

2. Chi tiêu cho giáo dục bình quân năm

(nghìn đồng)

3. Tỷ lệ đến khám chữa bệnhtại các cơ sở y tế

(%)

4. Chi tiêu cho y tế bình quân năm

(nghìn đồng)

5. Số giờ làm việc trung bình tuần (giờ)

6. Thu nhập bình quân đầu người tháng

(nghìn đồng)

7. Chi tiêu cho đời sống bình



Nhóm nghèo



Nhóm giàu



nhất

83,9



nhất

97



236



1418



16,5



22



395,03

25



1181,43

42,4



108



873



123,3

9,5

1,28



547,53

17,5

34,93



qn/người/tháng (nghìn đồng)

8. Diện tích ở bình qn nhân khẩu (m2)

9. Tỷ lệ hộ sử dụng nước máy (%)

Nguồn: Tổng cục Thống kê (2004). Kết quả điều tra mức sống hộ gia

đình năm 2002

Các số liệu của biểu 3 được tập hợp theo một số chỉ tiêu chủ yếu từ

cuộc điều tra mức sống hộ gia đình nêu trên. Đơn giản chỉ cần làm phép so

sánh (chia hoặc trừ) giữa hai nhóm dân cư nghèo nhất và giàu nhất, kết quả sẽ

cho biết mức độ bất bình đẳng giữa họ.Nhóm dân cư giàu đã có ưu thế trong

nhiều lĩnh vực dịch vụ, kể cả việc làm. Bởi vì số giờ làm việc trung bình của

nhóm giàu nhiều hơn nhóm nghèo đến 1,7 lần, khơng phải vì những người

nghèo làm ít giờ và khơng muốn làm việc, mà do tình trạng thiếu việc làm,

đặc biệt là tình trạng thời gian nhàn rỗi ở khu vực nơng thơn.

Ngồi sự phân tích ở trên, sự phân hóa giàu nghèo còn được nhận biết

qua hệ số GINI. Nếu GINI = 0 thì khơng có sự bất bình đẳng, và khi GINI = 1

thì sự bất bình đẳng là tuyệt đối. Hệ số GINI của Việt Nam tính từ số liệu thu

nhập như sau: năm 1994 là 0,35; năm 1999 là 0,39 và năm 2002 là 0,42. Chỉ

tiêu này có khác biệt nhưng khơng nhiều giữa các khu vực và các vùng; Điều

14



đó cho thấy sự bất bình đẳng về thu nhập ở mức thấp nhưng đang có xu

hướng tăng.

4. Nghèo ở nước ta do nhiều nguyên nhân, cả khách quan và chủ

quan.

4.1. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu vốn và kiến thức, kinh

nghiệm, bên cạnh đó còn do rủi ro và tệ nạn xã hội.

Theo số liệu báo cáo từ điều tra xác định hộ nghèo của Bô LĐ TB &

XH, hiện nay tồn tại nhiều nguyên nhân nghèo, trong đó có 8 nguyên nhân

chủ yếu được tập hợp trong biểu 4.

Biểu 4: Các nguyên nhân nghèo chung cả nước và chia theo vùng

(Tỷ lệ % ý kiến so với tổng)

Thiếu

vốn

63,69

55,20

73,60



Thiếu

đất

20,82

21,38

10,46



Thiếu Thiếu kinh



nghiệm

11,40

31,12

8,26

33,45

5,56

47,37



Bệnh Tệ

Rủi ro

tật

nạn

16,94 1,18 1,65

7,79 2,30 1,26

5,78 0,58 0,52



Đông

người

13,60

12,08

9,39



Cả nước

1.Đông Bắc

2.Tây Bắc

3.Đồng bằng

54,96 8,54 17,50

23,29

36,26 1,46 2,39 7,30

sông Hồng

50,65

14,42 0,80 1,92 16,61

4.Bắc Trung Bộ 80,95 18,90 14,60

5.Duyên hải

50,84 12,59 10,80

17,57

31,95 0,83 1,34 20,71

Nam Trung Bộ

65,95 26,12 7,76

27,11

9,03 1,22 1,32 13,72

6.Tây Nguyên

20,60

17,54 0,37 0,39 9,50

7.Đông Nam Bộ 79,92 20,08 8,64

48,44 47,73 5,47

5,88

4,22 0,87 1,80 11,95

8.Đồng bằng

sông Cửu Long

Nguồn: Bộ LĐTBXH (2003), Số liệu nghèo đói năm 2002

Các số liệu trong bảng 4 cho thấy trong cả nước nguyên nhân hàng đầu

của sự nghèo là thiếu vốn, nguyên nhân này chiếm đến 63,69% ý kiến được

hỏi. Tiếp theo là các nguyên nhân thiếu kinh nghiệm sản xuất kinh doanh

(31,12%), thiếu đất (20,82%), bệnh tật (16,94%), đơng người (13,6%), thiếu

1ao động (11,40%)... Trình tự này đúng với hầu hết các vùng, tuy có khác

nhau về mức độ.Sự khác nhau này phần nào phản ánh đặc điểm của từng

vùng. Chẳng hạn, nguyên nhân thiếu vốn có vẻ trầm trọng ở vùng nghèo như

Bắc Trung Bộ (80,95%), Tây Bắc (73,6%), ở đây người dân cần vốn để sản

xuất nhằm giảm nghèo, tiến tới đủ ăn, đủ mặc. Tuy nhiên ở vùng Đơng Nam

Bộ, nơi có thu nhập bình quân cao nhất cũng thiếu vốn, nhưng mang tính chất

15



khác với các vùng nghèo, vì họ cần vốn để sản xuất kinh doanh, những nơi

này khơng có vốn cũng có thể dẫn đến nghèo. Nhu cầu về vốn ở người nghèo

khá lớn nhưng việc tiếp cận các nguồn vốn còn khó khăn, bởi vì nếu vay của

tư nhân thì lãi suất cao, còn các tổ chức tín dụng, như ngân hàng hoặc một số

quỹ thì gặp các rào cản như thủ tục rườm rà… Hầu hết ở các vùng nhiều ý

kiến cho rằng vai trò của kinh nghiệm sản xuất kinh doanh đóng vai trò quan

trọng trong giảm nghèo. Kiến thức và kinh nghiệm luôn cần để sử dụng tiềm

năng về đất, vốn, lao động. Những vùng nghèo như Tây Bắc (47,37%) và Bắc

Trung Bộ (50,65%) là nơi có nhiều ý kiến cho rằng đây là nguyên nhân quan

trọng. Nguyên nhân thiếu đất có thể xảy ra với các vùng có mật độ dân số cao,

tỷ lệ đất canh tác trên đầu người thấp như Bắc Trung Bộ hay Duyên hải miền

Trung, và cả đối với vùng cần có diện tích lớn để canh tác, như Đồng bằng

sơng Cửu Long, trong đó một số hộ nghèo bán/chuyển nhượng quyền sử đụng

đất canh tác mà trước đây họ đã được cấp. Đây là một hiện tượng nổi cộm có

liên quan đến cơ chế quản lý, phương thức sản xuất... Nguyên nhân thiếu lao

động dẫn đến nghèo thường đi đôi với đông người, thường diễn ra với các gia

đình có đơng con, nhiều người sống phụ thuộc, khơng có khả năng lao động...

Nguyên nhân rủi ro xảy ra không chỉ khi thời tiết bất hoà, mà cả khi mất giá

trong một số sản xuất hàng hố nơng nghiệp (cà phê, hoa quả) và do con

người gây nên hoả hoạn, cháy rừng….



CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO PHƯƠNG

PHÁP PHÁT TRIỂN CỘNG ĐỒNG TRONG CƠNG TÁC

XĨA ĐĨI GIẢM NGHÈO Ở NƯỚC TA HIỆN NAY

1. Các phương hướng chính trong phát triển cộng đồng

Các phương hướng về phát triển cộng đồng phải đưa ra các chỉ dẫn như:

- Sự tham gia của người dân là yếu tố cơ bản

- Thiết chế xã hội chính là mơi trường cho sự tham gia, còn các tổ

chức chính quyền, đồn thể ở địa phương phải thể hiện được vai trò tổ chức.

Sự phát triển phải hỗ trợ cả việc nâng cao năng lực cho các tổ chức này.



16



- Trong phát triển cộng đồng, không áp đặt chương trình có sẵn của tổ

chức nhà nước hay cơ quan phát triển từ bên ngoài vào mà phải là các cơng

trình do dân đề xướng với sự giúp đỡ từ bên ngoài.

- Phải tạo được sự chuyển biến xã hội, đó là sự thay đổi nhận thức,

hành vi của người dân. Phải tạo được sự chuyển biến trong tổ chức, cơ cấu và

các mối tương quan lực lượng xã hội.

- Phát triển cộng đồng chỉ có hiệu quả khi nó nằm trong một chiến

lược phát triển đúng đắn của quốc gia.

2. Một số giải pháp cơ bản nâng cao hoạt động phát triển cộng

đồng trong cơng tác xóa đói giảm nghèo

Một là, nhận diện cộng đồng bằng việc đánh giá đúng mức độ nghèo.

Thông thường, người ta thường sử dụng các kết quả các cuộc điều tra xã hội

học (ví dụ điều tra mức sống dân cư, điều tra tỷ lệ hộ nghèo) để thu thập và

đánh giá về mức độ nghèo đói trên địa bàn. Qua đó, chính quyền các địa

phương có thể lập kế hoạch và xây dựng định hướng giảm nghèo cụ thể và

phù hợp.Tuy nhiên, do các cuộc điều tra, khảo sát này không được tiến hành

thường xuyên nên việc cập nhật thông tin về tỷ lệ nghèo trên địa bàn đơi lúc

còn chậm. Do vậy, phương pháp đánh giá nghèo đói có sự tham gia của chính

người dân là rất thiết thực. Để đánh giá đúng tình trạng nghèo đói của cộng

đồng, thơng thường người ta có thể đánh giá nhanh tình hình nghèo thông qua

các chỉ số như tỷ lệ nghèo, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, tỷ lệ học sinh bỏ học,

tỷ suất sinh tự nhiên….; so sánh tình hình của các địa bàn tương tự, tìm hiểu,

phân tích ngun nhân của tình trạng nghèo ở mỗi địa bàn. Từ đó rút ra kết

luận và đưa ra các đề xuất cho các chương trình và chính sách giảm nghèo

liên quan cũng như lập kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội của cộng đồng.

Hai là, lập kế hoạch phát triển cộng đồng có sự tham gia của người dân. Đây

là một trong những công cụ được một số dự án, như Dự án Hỗ trợ giảm nghèo

do GTZ tài trợ, áp dụng ở các huyện nghèo và bước đầu cho kết quả tích cực.

Theo đó, lập kế hoạch phát triển cộng đồng có sự tham gia nhằm giúp người

dân tiếp cận các tiềm năng, các khó khăn, cản trở và tìm kiếm các giải pháp

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×