Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Môi trường bên ngoài

Môi trường bên ngoài

Tải bản đầy đủ - 0trang

Có thể dễ dàng nhận thấy thị trường sữa ở Việt Nam bị thống trị bởi những cái tên quen

thuộc như Vinamilk, Dutch Lady, Nestle, Abbot,… Đây là những doanh nghiệp đã gắn bó

khá lâu với thị trường và đã đi vào tiềm thức người tiêu dùng.Đây chính là một trong

những áp lực lên những doanh nghiệp khác muốn giành lấy thị phần khi mà trong ngành

sữa, yếu tố thương hiệu cũng là một vấn đề đáng lưu tâm.



1.1.2. Tỉ lệ phát triển thị trường

8



Tên ngành



Tồn ngành cơng

nghiệp

chế biến, chế tạo

Sản xuất chế biến

thực phẩm

Chế biến, bảo quản

thủy sản

và các sản phẩm từ thủy

sản

Chế biến sữa và

các sản phẩm từ sữa

Sản xuất đường

Sản xuất mì ống,

mỳ sợi và sản phẩm

tương tự

Sản xuất thực phẩm

khác

chưa được phân vào

đâu

Sản xuất thức ăn gia

súc,

gia cầm và thuỷ sản





ngàn

h



Chỉ số tiêu

thụ

ngành

CN chế biến,

chế tạo tháng

8/2013 so với

tháng 7/2013

(%)



Chỉ số tiêu

thụ ngành

CN

chế

biến, chế

tạo tháng 8

so cùng kỳ

2012

(%)



Chỉ số tiêu

thụ ngành

CN chế biến,

chế tạo 8

tháng 2013

so cùng kỳ

2012

(%)



Chỉ số tồn kho

ngành CN chế

biến, chế tạo

01/8/2013 so với

cùng kỳ 2012 (%)



C



113.3



114.1



108.3



108.8



10



161.9



107.0



101.9



107.2



1020



100.1



110.0



101.7



93.3



1050



94.4



113.6



106.5



113.6



1072



1,635.6



65.0



94.8



149.6



1074



108.5



158.0



121.7



305.8



1079



101.0



91.1



95.6



78.7



1080



106.9



106.9



101.7



105.0



Mặc cho tình trạng tồn kho tăng cao ở hầu hết các ngành công nghiệp chế biến, riêng

ngành sữa vẫn tiếp tục tăng trưởng tốt với mức tăng cao 15% ở thành thị và 18% ở nông

thôn [2] cho thấy ngành sữa là một trong những ngành có tốc độ tăng trưởng tốt hiện nay

khi mà nhu cầu tiêu dùng mặt hàng này ngày càng tăng. Đến khoảng 2015, thị trường sữa

hứa hẹn sẽ ngày càng trở nên quan trọng hơn đối với người tiêu dùng Việt Nam, nhất là ở

khu vực nông thôn, và giá trị mà các chuyên gia Kantar Worldpanel ước tính lên tới

70.000 tỉ đồng tính cho TPHCM, Hà Nội, Cần Thơ và Đà Nẵng, cùng với khu vực thị

trường nông thôn [2]. Theo ơng Trương Văn Tồn, Giám đốc đối ngoại và pháp lý của

9



FrieslandCampina, cho biết trước năm 1995, khi FrieslandCampina chưa vào thị trường

Việt Nam, mức tiêu thụ sữa trên đầu người của người Việt Nam dưới 3 lít/người/năm [3].

Những năm sau đó, mức tiêu thụ tăng lên khoảng 10 lít/người/năm và hiện nay là khoảng

15 lít/người/năm.Tuy nhiên, mức tiêu thụ này vẫn còn thấp so với các nước trong khu vực

như Thái Lan, Singapore, Trung Quốc... mức tiêu thụ sữa như trên của người dân Việt

Nam vẫn thấp hơn rất nhiều chỉ bằng khoảng 10% [4]. Nhu cầu tiêu thụ sữa tại Việt Nam

có xu hướng tiếp tục gia tăng nên tiềm năng tăng trưởng thị trường sữa và các thức uống

dinh dưỡng từ sữa vẫn còn cao. Tuy nhiên cũng cần lưu ý là đặc điểm của ngành sữa có tỉ

lệ tăng trưởng ổn định và lợi nhuận cao nhưng cũng đòi hỏi phải có thị phần tương đối do

đó áp lực cạnh tranh là khơng hề nhỏ.

1.1.3. Rào cản ra ngành



Đối với ngành sữa, thì chi phí vốn đòi hỏi ban đầu lớn. Một con bò chửa có giá 20-30

triệu đồng, giá thuê đất khá cao trong khi cần tối thiểu 1,000m2/bò cho sữa [5]. Bò sữa

khơng phải là con vật có khả năng “chịu khổ” nên cần được chăm sóc rất chu đáo. Chế độ

ăn uống của bò sữa đòi hỏi rất cao và các loại thức ăn cần phải đúng tỷ lệ, nếu không sẽ

phản tác dụng. Thức ăn cho bò sữa gồm ba loại chính: thức ăn tinh, thức ăn thơ và chất

khống. Tăng ăn thức tinh có thể làm tăng năng suất sữa nhưng giảm thức ăn thơ có thể

làm giảm chất lượng sữa. Đây là hiện tượng thường gặp ở nước ta do chất ăn thơ xanh

còn thiếu nên các chủ chăn nuôi thường dùng thức ăn tinh để thay thế. Trong khi đó, giá

thức ăn tinh lại đắt hơn nhiều lần so với thức ăn thơ. Chăn ni bò sữa u cầu hệ thống

tưới mát tốt, chuồng trại hợp lý và hệ thống vắt sữa tự động.Từ đó, ta thấy rõ rằng, để có

quy mơ bò từ hàng chục con bò trở lên thì vốn đầu tư phải khá lớn.Khơng chỉ thế, cũng

cần đầu tư vào hệ thống nhà máy, máy móc để xử lý và bảo quản sữa tươi.Có thể nhận

thấy, các loại máy móc trên đều rất khó chuyển đổi.Tất cả các yếu tố trên đã tạo ra 1 rào

cản khá lớn về vốn. Bên cạnh đó chi phí chuyển đổi sản phẩm đối với người tiêu dùng

hầu như khơng có hoặc nếu có cũng rất thấp do đó người tiêu dùng hồn tồn có thể

chuyển đổi sản phẩm sao cho ưng ý. Điều này cũng làm tăng áp lực cạnh tranh giữa các

doanh nghiệp.

10



Nguồn: Cục chăn nuôi Việt Nam

1.2.



Mơi trường vĩ mơ (P.E.S.T.E.L)



1.2.1. Chính trị, luật pháp



Hiện nay đối với ngành sữa Việt Nam thì mơi trường chính trị khá ổn định và khơng có

bất kỳ hạn chế nào cho sự phát triển, mở rộng ngành này. Bên cạnh đó còn có c ác chính

sách hỗ trợ của Nhà nước: các chính sách hỗ trợ trong việc khuyến khích chăn ni và

chế biến bò sữa cho người nơng dân tạo điều kiện cung cấp nguyên liệu đầu vào cho các

cơng ty trong ngành rất lớn; các chính sách hoạt động của chính phủ trong việc chăm lo

sức khỏe, chống suy dinh dưỡng, khuyến khích người dân dùng sữa để cải thiện sức

khỏe, vóc dáng, trí tuệ cho tất cả mọi người đặc biệt là trẻ nhỏ vàngười già; các chiến

dịch uống, phát sữa miễn phí của các cơng ty trong ngành cùng góp phần tạo nên một thị

trường tiềm năng cho ngành sữa Việt Nam.

Việc Việt Nam gia nhập WTO còn là cơ hội giúp cho các doanh nghiệp sữa Việt Nam có

cơ hội tiếp cận được nguồn cung nguyên liệu sữa từ nước ngoài với giá rẻ hơn khi mà các

hàng rào thuế quan đươc giảm bớt. Tuy nhiên bên cạnh lợi ích chi phí nguyên liệu thì các

doanh nghiệp sữa trong nước cũng phải đề phòng mối nguy cơ về cạnh tranh thị phần

trước sự xâm nhập vào thị trường của các hãng sữa ngoại nhưng xu hướng này có thể

thay đổi trong một năm tới khi mà Luật giá mới được ban hành và đưa ra một số điều

chỉnh đối với việc niêm yết giá bán sữa hiện nay.

11



1.2.2. Kinh tế (Economics)



Kinh tế Việt Nam trong giai đoạn vừa qua có nhiều biến chuyển tuy có phải gánh chịu

một số bất ổn hệ lụy của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu. Nếu như năm 2010, tăng

trưởng GDP chỉ đạt 6.78%, tốc độ tăng CPI đạt 11.75% đến năm 2011 thì tốc độ tăng

trưởng GDP chỉ còn 5.78% trong khi đó tốc độ tăng CPI lại lên tới 18.13%.

Biểu đồ thể hiện tốc độ tăng trưởng GDP và chỉ số CPI qua các năm (2005-2012)

(Nguồn số liệu: TCTK)

Thu nhập bình quân đầu người tăng dự báo tăng cho nhu cầu tiêu dùng sữa, tuy nhiên rủi

ro về tỷ giá hiện đang là rào cản khá lớn đối với doanh nghiệp sữa do nguồn cung chủ

yếu phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu.

Biểu đồ thể hiện biến động tỷ giá danh nghĩa song phương và tỷ giá thực song

phương (giai đoạn 2006-2011) (Năm 2006=100%)



Tỷ giá hối đối trong những năm gần đây có xu hướng tăng, điều này tạo nên một áp lực

khá lớn lên chi phí đầu vào của các doanh nghiệp sữa ở Việt Nam vì nguồn cung chủ yếu

của các doanh nghiệp này đến từ nước ngồi mà nhóm đã phân tích bên trên.

12



1.2.3. Xã hội (Social)



Trong bối cảnh nền kinh tế có nhiều khó khăn như hiện nay thì người tiêu dùng ngày

càng trở nên khắt khe hơn đối với các sản phẩm về giá cả, chất lượng cũng như thông tin

nhà sản xuất, đặc biệt là cho các chỉ tiêu an toàn vệ sinh thực phẩm.

Tuy nhiên, ngành sữa cũng có những thuận lợi nhất định:





Sữa là sản phẩm tiêu dùng thiết yếu đối với người dân, thói quen tiêu dùng sản

phẩm sữa giờ đã được hình thành.







Thị trường tiêu thụ ở Việt Nam vẫn còn rất màu mỡ với cơ cấu dân số trẻ, tốc độ

tăng dân số còn nhanh trong vòng vài năm tới, cơ cấu dân số hiện tại còn trẻ và

mức tiêu thụ sữa vẫn còn thấp so với thế giới.







Thị hiếu tiêu dùng chuyển sang ưa chuộng các sản phẩm thức ăn dinh dưỡng.



13



1.2.4. Công nghệ (Technology)



Đối với ngành sữa Việt Nam thì cơng nghệ sản xuất hầu hết được nhập từ nước ngoài, tuy

nhiên mỗi doanh nghiệp loại có những phương thức, bí quyết khác nhau do đó chất lượng

sữa cũng khác nhau.

Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng các khách hàng hiện nay ngày càng có nhiều thơng tin hơn

do đó họ quan tâm nhiều hơn về yếu tố chất lượng cũng như an tồn thực phẩm. Thêm

vào đó yếu tố cải thiện công nghệ sản xuất cũng giúp cho doanh nghiệp giảm bớt được

chi phí hoạt động dẫn đến giá thành sản phẩm sẽ thấp hơn tăng sức cạnh tranh trên thị

trường .Điều này gây một áp lực lên các doanh nghiệp sản xuất khi họ phaỉ ln có sự

nghiên cứu tìm tòi các cơng nghệ mới hiện đại hơn.

1.2.5. Mơi trường ( Environment)



Xét yếu tố mơi trường thì Việt Nam mặc dù có khí hậu có thể ni được bò sữa giống

14



nhiệt đới tuy nhiên chất lượng và sản lượng không cao bằng các giống ơn đới. Chính vì

vậy mà các doanh nghiệp cũng như các hộ gia đình tiến hành nhập nội cũng như cải tạo

lai giống một số giống bò ngoại để cải thiện năng suất cũng như chất lượng sữa. Tuy

nhiên để làm được điều đó các doanh nghiệp và hộ gia đình phải bỏ ra khá nhiều thời

gian cung như chi phí cho việc quản lý chăm sóc cũng như cải tạo các giống bò này cho

phù hợp với khí hậu, mơi trường ở Việt Nam.

Ngồi ra, hiện nay chính quyền và người dân cũng rất chú ý đến vấn đề bảo vệ môi

trường, nếu như các doanh nghiệp sữa có các hệ thống xử lý chất thải trong quá trình sản

xuất thì các hộ gia đình nhỏ lẻ lại chưa quan tâm cũng như đầu tư đúng mức cho việc xử

lý chất thải trong quá trình chăn ni bò. Điều này khơng chỉ gây ơ nhiễm mơi trường

xung quanh mà còn làm tăng nguy cơ xuất hiện các loại bệnh có khả năng lây truyền.



15



1.2.6. Ma trận EFE



Yếu tố bên ngồi



Trọng

số



Vinamilk



TH True Milk



Xếp hạng



Điểm có Xếp

trọng số

hạng



Điểm có

trọng số



1.Thị trường còn tiềm năng 0.15

tăng trưởng (7.5%/năm)



4



0.60



4



0.60



2.Rào cản ra vào ngành lớn



0.07



3



0.21



2



0.14



3. Nguồn cung nội địa sẽ được 0.10

tăng về sản lượng ( năm 2015

đạt 36%)



3



0.30



4



0.40



4.Mức tiêu thụ sữa của người 0.10

dân còn thấp so với thế giới

( tốc độ tăng 6-7%/ năm)



4



0.40



4



0.40



5.Lạm phát sẽ có thể giảm 0.07

trong những năm tới ( CPI đạt

11.5% )



4



0.28



4



0.28



6.Hệ thống pháp luật và chính 0.05

trị ổn định



3



0.15



3



0.15



7.Thu nhập người dân ngày 0.05

càng được cải thiện (4.7%6%/năm)



4



0.20



3



0.15



8. Trình độ nhân lực ngành sữa 0.03

ngày càng được cải thiện do sự

xuất hiện nhiều các hàng sữa

ngoại



4



0.12



3



0.09



9.Tỷ giá ngoại tệ có xu hướng 0.05

tăng



2



0.10



2



0.10



10.Nguồn cung hiện tại còn 0.10

phụ thuộc vào nước ngồi

(70%)



1



0.10



1



0.10



11.Nhu cầu tiêu thụ sữa trên 0.01



2



0.02



2



0.02



Cơ hợi



Nguy cơ



16



thế giới có xu hướng bão hòa

(TĐTT còn 3-4%/năm)

12.Giá thức ăn cho bò sữa tăng



0.03



2



0.06



1



0.03



13.Giá xăng, điện, nước tăng



0.02



2



0.04



1



0.02



14.Lãi vay cho hoạt động sản 0.07

xuất còn cao ( 15-17%/năm)



2



0.14



1



0.07



15.Sự xuất hiện của các sản 0.04

phẩm thay thế ngày càng nhiều

( thực phẩm dinh dưỡng, thuốc

bổ,v.v..)



2



0.08



2



0.08



16.Sự gia nhập của các tập 0.02

đoàn sữa nước ngoài làm gia

tăng cạnh tranh trên thị trường

sau khi Việt Nam gia nhập

WTO



2



0.04



1



0.02



17. Người tiêu dung dễ bị tác 0.04

động bởi thông tin truyền

thông



1



0.04



1



.0.04



Tổng số



1



2.88



17



2.65



1.3.



Môi trường vi mô



1.3.1. Đối thủ cạnh tranh

- Vinamilk



Công ty cổ phần sữa Việt Nam (Vinamilk) dự kiến ngày 10.9 2013 sẽ tung ra thị trường

hàng triệu lít sữa nước (trong đó có sữa tươi tiệt trùng 100% nguyên liệu từ sữa bò) sau

khi đưa siêu dự án nhà máy có cơng suất giai đoạn 1 khoảng 1,2 triệu lít sữa/ngày, bằng

sản lượng của chính nhà máy hiện tại cộng lại vào hoạt động. Với dự án này Vinamilk kỳ

vọng đạt kế hoạch doanh số hơn 34.000 tỉ đồng trong 2013, đồng thời nắm thị phần tuyệt

đối ngành hàng này. Mặt hàng sữa nước trong năm 2012 mang về cho Vinamilk khoảng

40% doanh số trong tổng 27.300 tỉ đồng doanh thu, và với dự án mới sắp khánh thành,

Vinamilk đặt mục tiêu doanh số chắc chắn sẽ tăng thêm gấp nhiều lần. [6]

-



Dutch Lady



Đại diện Dutch Lady tiết lộ từ nay đến cuối năm 2013 sẽ cung cấp trở lại mặt hàng sữa bò

tươi 100% nguyên chất, vốn đã bị ngưng sản xuất từ năm 2011 do sản lượng nguyên liệu

không đủ cung cấp. Cho đến thời điểm này, với hệ thống các trang trại liên kết với nông

dân ở khắp các tỉnh/thành trong cả nước, Dutch Ladykhẳng định đã chủ động được nguồn

nguyên liệu sữa bò tươi thu mua của nơng dân. Và đây là thời điểm thích hợp để đưa sản

phẩm sữa bò tươi tiệt trùng thơm ngon ra thị trường phục vụ người tiêu dùng.



18



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Môi trường bên ngoài

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×