Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TẠI NGÂN HÀNG AGRIBANK TP. NINH BÌNH

TẠI NGÂN HÀNG AGRIBANK TP. NINH BÌNH

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhánh cấp 3: phòng giao dịch số 1 tại phường Thanh Bình, phòng giao dịch số 6 tại

phường Phúc Thành, phòng giao dịch chợ Rồng tại phường Vân Giang, phòng giao

dịch số 3 tại phường Nam Bình với tổng số 70 cán bộ nhân viên. Trong đó phòng giao

dịch chợ Rồng được thực hiện nghiệp vụ tín dụng còn các phòng giao dịch khác thực

hiện huy động vốn.

Mơ hình tổ chức:

Sơ đồ 1.1: Bộ máy tổ chức Ngân hàng AGRIBANK Thành phố Ninh Bình.

Giám đốc



Phó giám đốc



Phòng

tín

dụng



Phó giám đốc



Phòng kế

tốnngânquỹ



Phòng

hành

chính



Phó giám đốc



Các

PGD



(Nguồn: quy chế hoạt động của ngân hàng Agribank Thành phố Ninh Bình).

 Ban Giám Đốc : Thực hiện các chức năng của Ngân hàng AGRIBANK thành

phố Ninh Bình trong việc điều hành các hoạt động kinh doanh của Chi nhánh theo

đúng pháp luật nhà nước và các điều lệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng như

Ngân hàng AGRIBANK Việt Nam . Ban giám đốc gồm 01 giám đốc và 03 phó giám

đốc gồm:

- Một Giám Đốc phụ trách chung, chủ trương chỉ đạo các hoạt động tài chính

tổng hợp: kiểm tra, kiểm sốt, tín dụng.

- Ba phó Giám Đốc: trợ giúp cho giám đốc và quản lý các phòng nghiệp vụ, trực

tiếp điều hành hoạt động của các phòng giao dịch trực thuộc.

- Ba phòng nghiệp vụ bao gồm:



-



Phòng tín dụng:



+ Thực hiện cơng tác quản lý vốn theo quy chế của Ngân hàng NNo & PTNT

Việt Nam.

+ Kinh doanh tín dụng : sử dụng nguồn vốn an toàn, hiệu quả, cho vay đối với

mọi thành phần kinh tế theo đúng pháp luật, đúng nguyên tắc của ngành quy định :

thực hiện cơng tác tín dụng và thơng tin tín dụng .

+Lập các báo cáo về cơng tác tín dụng, báo cáo sơ kết, tổng kết tình hình hoạt

động kinh doanh .

+Ngồi ra , phòng tín dụng còn thực hiện một số cơng việc do ban giám đốc

giao .



-Phòng kế tốn-ngân quỹ:



+thực hiện cơng tác hạch toán, ghi chép phản ánh đầy đủ mọi hoạt động và

nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào sổ sách kế toán, thực hiện báo cáo thống kê kịp thời

đầy đủ …

+Quản lý và sử dụng các quỹ chuyên môn theo quy định của Ngân hàng Nhà

nước, Ngân hàng AGRIBANK.

+ Thực hiện các khoản nộp ngân sách Nhà nước theo luật định. Chấp hành quy

định về an toàn kho quỹ, định mức tồn quỹ theo luật định. Chấp hành các dự trữ bắt

buộc theo quy định của Nhà nước.

+ Phối hợp với phòng hành chính đề xuất các biện pháp quản lý tài sản, chỉ tiêu

tài chính, chế độ của cán bộ viên chức về bảo hiểm xã hội, thai sản, ốm đau và các chế

độ khác theo quy định của Ngành ….

- Phòng hành chính:

+ Thực hiện lưu trữ hồ sơ có liên quan của Chi nhánh .

+ Thực hiện công tác quy hoạch cán bộ, đề xuất cử cán bộ viên chức đi cơng tác

học tập trong và ngồi nước .

+ Thực hiện trả lương, nâng lương, chính sách , chế độ liên quan đến người lao

động theo bộ luật Lao Động, các văn bản hướng dẫn của Nhà nước, của ngành Ngân

hàng và của Ngân hàng AGRIBANK.

+ Trực tiếp quản lý hồ sơ của cán bộ Chi nhánh.

+ Tổng hợp theo dõi, đề xuất khen thưởng cho tập thể, cá nhân theo đúng quy



định . Tổng hợp và xây dựng chương trình cơng tác tháng, q, năm của Chi nhánh và

các phòng giao dịch trực thuộc.

+ Trực tiếp quản lý con dấu của Chi nhánh, thực hiện công tác hành chính , văn thư

+ Thực hiện một số nhiệm vụ khác do ban giám đốc giao…

- Bốn PGD trực thuộc: PGD số 1 tại phường Thanh Bình, PGD số 6 tại phường



Phúc Thành, PGD số 3 tại phường Nam Bình và PGD chợ Rồng tại phường Vân

Giang, trong đó PGD chợ Rồng được thực hiện nghiệp vụ tín dụng, còn các PGD khác

thực hiện huy động vốn.

2.1.3. Các nguồn lực cơ bản của Ngân hàng Agribank Thành phố Ninh Bình.

2.1.3.1. Nguồn nhân lực.

Với phương châm bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân viên có phẩm chất đạo đức

tốt và năng lực chuyên môn cao, chi nhánh chú trọng phát triển nguồn nhân lực để đưa

hoạt động của ngân hàng vào ổn định, hiệu quả. Hiện chi nhánh có khoảng 70 cán bộ

nhân viên đang trực tiếp làm việc tại chi nhánh. Các cán bộ nhân viên đều tốt nghiệp

trình cao đẳng và đại học trở lên, điều này phản ánh công tác nhân sự của ngân hàng

được thực hiện rất tốt.

Trước đây, do đặc thù của Ngân hàng là một ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước,

cũng đã đi vào hoạt động được một thời gian khá lâu, cho nên đội ngũ nhân lực của

Chi nhánh hầu như trên 40 tuổi. Những năm gần đây, do yêu cầu của việc mở rộng

hoạt động, cũng như yêu cầu từ sự cạnh tranh mạnh mẽ với các đối thủ, việc trẻ hóa

đội ngũ nhân lực là rất cần thiết. Vì lúc này, mặc dù các cán bộ cũ đã làm việc lâu năm,

có nhiều kinh nghiệm, nhưng họ khó theo kịp sự năng động cũng như sự thay đổi

nhanh chóng của nền kinh tế. Đặc biệt là trong thời đại bùng nổ của khoa học công

nghệ-nhất là lĩnh vực công nghệ thông tin ứng dụng vào lĩnh vực ngân hàng, yêu cầu

bức thiết là phải có một đội ngũ cán bộ trẻ theo kịp sự thay đổi đó. Và một ngun

nhân nữa, có thể thấy tình trạng đào tạo ồ ạt về lĩnh vực tài chính – ngân hàng tại các

trường đại học, dẫn đến sự sẵn có, thậm chí dư thừa rất nhiều nguồn nhân lực. Chính

vì vậy, Ngân hàng đã liên tục tuyển dụng thêm đội ngũ cán bộ trẻ đầy năng động, nhiệt

huyết, để củng cố, bổ sung cho đội ngũ nhân viên cũ.

Tình hình nhân lực của Ngân hàng Agribank TP.Ninh Bình trong những năm qua



được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Bảng 2.1: Cơ cấu lao động

Đơn vị: người

chỉ tiêu



năm 2010



năm 2011



năm 2012



I-Theo trình độ



56



60



70



1.trên đại học



5



8



10



2.đại học, cao đẳng



39



42



50



3.trung cấp



12



10



10



II-theo giới tính



56



60



70



1.nam



11



13



20



2.nữ



45



47



50



(Nguồn: báo cáo kết quả hoạt động của ngân hàng Agribank Thành phố

Ninh Bình các năm 2010, 2011, 2012).

Từ bảng số liệu trên có thể thấy đội ngũ lao động của khơng ngừng tăng lên qua

các năm, nhưng tăng không đáng kể. Năm 2010, tổng số nhân viên của là 56 người,

đến năm 2012 là 70 người. Trong khi nhiều ngân hàng cắt giảm nhân sự để giảm chi

phí, nhưng vẫn mở rộng hoạt động nên vẫn không ngừng tuyển dụng lao động.

Trong cơ cấu lao động theo trình độ, có thể thấy phần lớn là có trình độ đại

học,cao đẳng. Năm 2009, số nhân viên có trình độ đại học, cao đẳng là 39 người trên

tổng số 56 người, chiếm 70%, đến năm 2012 con số này là 50 trên tổng số 70, chiếm

71%. Trong khi đó, số lượng lao động có trình độ trung cấp là khơng đáng kể, là

những cán bộ đã làm việc lâu năm, chỉ chiếm tỷ lệ khoảng hơn 10% trên tổng số lao

động tại ngân hàng. Số cán bộ có trình độ trên đại học lại tăng lên, từ 5 người năm

2010 lên 10 người năm 2012. Tuy số lượng không đáng kể nhưng lại phản ánh chất

lượng nhân lực tại không ngừng tăng lên.

Về số lượng, chất lượng, năng lực trình độ của đội ngũ lao động: mọi cán bộ

nhân viên đều có trình độ, năng lực phù hợp với vị trí, nhiệm vụ được giao, phối hợp

chặt chẽ với các tổ chức đoàn thể phát huy sức mạnh tập thể, lãnh đạo chi nhánh hoàn

thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, xây dựng một tập thể chi nhánh đoàn kết, kỷ

cương, chấp hành đường lối lãnh đạo của Đảng, không dao động trước mọi biểu hiện

tiêu cực, khơng tham nhũng. Bố trí con người theo công việc một cách hợp lý, vạch ra



đường lối kinh doanh có hiệu quả, từ thực tế cơng tác Ban lãnh đạo cải tiến, đổi mới

qui trình điều hành, công tác đối ngoại tiếp thị, phân công nhiệm vụ rõ người rõ việc.

Về đạo đức nghề nghiệp của cán bộ: Từ khi thành lập đến nay, cán bộ chi nhánh

không để xảy ra vụ việc nghiêm trọng nào, các hoạt động kinh doanh luôn lành mạnh,

đúng pháp luật, không bị khách hàng nào khiếu kiện, không gây ảnh hưởng xấu đến uy

tín của tồn hệ thống. Năm 2011, qua công tác tự kiểm tra các mặt nghiệp vụ tại đơn vị

cũng như sau khi kiểm tra của ban Hội đồng thành viên, kiểm tra về Thanh toán quốc

tế, Tin học, kiểm tra của đồn kiểm tra Kiểm tốn nội bộ Agribank Việt Nam chưa phát

hiện tham nhũng hoặc cán bộ Agribank thành phố Ninh Bình có biểu hiện tiêu cực gây

phiền hà cho khách hàng. Cán bộ viên chức trong chi nhánh dưới sự lãnh đạo của Cấp

ủy, Ban Giám đốc, các đoàn thể đã đoàn kết một lòng quyết tâm hồn thành kế hoạch

kinh doanh đã được giao.

Năm 2012, chi nhánh tự tổ chức huấn luyện nghiệp vụ cho các cán bộ nhân viên

tại ngân hàng và cử các cán bộ tham gia đầy đủ các chương trình đào tạo do chi nhánh

Agribank tỉnh Ninh Bình tổ chức.

Chi nhánh cũng luôn đảm bảo các chế độ đãi ngộ đối với nhân viên, như tổ chức

cho nhân viên đi du lịch hàng năm, thưởng vào các kì lễ tế, chế độ cho nhân viên ốm

đau, …. Công tác cơng đồn của chi nhánh ln hoạt động có hiệu quả để đảm bảo cho

lợi ích của nhân viên. Những năm gần đây, ngành ngân hàng với nhiều biến động lớn,

luôn đặt các nhân viên ngân hàng vào tâm trạng lo lắng thất nghiệp. Tuy nhiên, tại

Agribank thành phố Ninh Bình, mọi cán bộ nhân viên đều được lãnh đạo đảm bảo cho

nhân viên n tâm cơng tác, mọi chính sách thưởng phạt đều được công khai, rõ ràng.

Tháng 3-2012, chi nhánh đã tiến hành công tác quy hoạch cán bộ giai đoạn 20112016 theo quy định của Agribank. Sang năm 2013, chi nhánh tiếp tục làm tốt công tác

quy hoạch, đào tạo và đào tạo lại cán bộ theo u cầu cơng tác, sắp xếp bố trí nhân sự

cho màng lưới hoạt động của chi nhánh trên cơ sở phát huy sở trường cán bộ góp phần

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đủ sức cạnh tranh trên địa bàn, phát động các

phong trào thi đua dài hạn hoặc đột xuất để thực hiện các chương trình hành động

trong toàn chi nhánh, gắn thi đua với việc hoàn thành nhiệm vụ chuyên môn. Chi

nhánh đã và sẽ tiến hành giao chỉ tiêu kinh doanh đến từng phòng nghiệp vụ, phòng

giao dịch và từng người lao động như chỉ tiêu về thẻ, nguồn vốn…, chi trả lương và



thưởng theo kết quả kinh doanh đạt được từ đó nhằm kích thích tạo động lực cho cán

bộ trong chi nhánh cố gắng tìm kiếm khách hàng mở rộng hoạt động kinh doanh của

chi nhánh.

2.1.3.2. Cơ sở vật chất.

Trụ sở chi nhánh được đặt tại một tòa nhà 3 tầng khang trang trên đường Lê Đại

Hành, thành phố Ninh Bình. Đây là khu vực trung tâm của thành phố, tập trung đông

dân cư, văn phòng, trụ sở các doanh nghiệp và cơ quan hành chính, rất thuận lợi cho

việc phát triển hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

Agribank thành phố Ninh Bình là một chi nhánh cấp 2, trực thuộc Agribank tỉnh

Ninh BÌnh. Trực thuộc chi nhánh gồm 4 phòng giao dịch: PGD số 1 tại phường Thanh

Bình, PGD số 6 tại phường Phúc Thành, PGD số 3 tại phường Nam Bình và PGD chợ

Rồng tại phường Vân Giang. Tất cả các phòng giao dịch trên đều đặt trụ sở tại thành

phố Ninh Bình,là nơi đơng dân cư, trên các trục đường lớn. Đây là một thuận lợi cho

hoạt động của chi nhánh,thuận tiện cho giao dịch với khách hàng.

Với tốc độ phát triển nhanh chóng của cơng nghệ ngân hàng, cũng tăng cường

trang bị, cải tiến hệ thống công nghệ cho và các phòng gia dịch trực thuộc. hiện tại,

tồn bộ đều được trang bị máy tính và các thiết bị thơng tin đầy đủ. Hệ thống máy

ATM cũng được lắp đặt và sửa chữa để đảm bảo cho giao dịch của khách hàng. Hiện

nay, Chi nhánh đã lắp đặt được 8 máy ATM tại các phòng giao dịch trực thuộc và một

số địa điểm trên Thành Phố Ninh Bình. Một thuận lợi nữa là, do vị trí ở trung tâm

thành phố, nên hệ thống thông tin được thiết lập dễ dàng, kết nối trụ sở với các phòng

giao dịch, thuận tiện cho hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, do hạn chế về công

nghệ cũng như đặc điểm kinh tế của tỉnh, nên hệ thống máy POS chưa được xây dựng.

Hiện Ngân hàng đang sử dụng hệ thống IPCAS phục vụ cho hoạt động thanh toán. Các

dịch vụ Internet Banking, Mobile Banking ngày càng được mở rộng.

2.1.4. Tổng quan về hoạt động kinh doanh của NHNNo&PTNT TP Ninh

Bình những năm gần đây.

2.1.4.1.Tổng hợp kết quả kinh doanh của Chi nhánh từ năm 2009-2012.

Từ khi thành lập và đi vào hoạt động chính thức (tháng 4 năm 1992), kết quả

hoạt động của chi nhánh nhìn chung đều rất khả quan. Trong những năm gần đây, mặc

dù nền kinh tế có những biến động không nhỏ, nhưng hoạt động của chi nhánh vẫn



luôn mang lại lợi nhuận.

 Doanh thu.

Thu nhập của chi nhánh từ năm 2009-2012 được thể hiện trong bảng số liệu sau:

Bảng 2.2: Doanh thu của Chi nhánh Agribank TP. Ninh Bình

từ năm 2009-2012.

Đơn vị: triệu đồng

năm 2009

chỉ tiêu

Giá trị



Tổng thu

1.Thu từ tín dụng

2.Thu dịch vụ



Tỷ

trọng



năm 2010

Giá trị



năm 2011



Tỷ

trọng



Giá trị



năm 2012



Tỷ

trọng



Giá trị



Tỷ

trọng



75,790



100



88,839



100



125,228



100



113,557



100



60,357



79.6



82,349



92.7



121,783



97.2



107,846



95



15,433



20.4



6,490



7.3



3,445



2.8



5,711



5



(Nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng Agribank Thành phố Ninh

Bình các năm 2009-2012).

Thu nhập của chi nhánh có xu hướng tăng trưởng qua các năm. Cụ thể, năm

2009, tổng thu của chi nhánh là 75790 triệu đồng, đến năm 2010 đã tăng lên 88839

triệu đồng (tăng 13059 triệu đồng, tương đương 17%). Đến năm 2011,tốc độ tăng

doanh thu lớn hơn, con số này đạt 125228 triệu đồng, tăng tới 36389 triệu đồng (tương

đương với khoảng hơn 40%). Mặc dù kinh tế đang khó khăn nhưng thu nhập của ngân

hàng vẫn tăng lên đáng kể. Đây là một kết quả đáng mừng. Đến năm 2012, thu nhập

có giảm nhưng không đáng kể, từ 125228 triệu năm 2011 xuống còn 113557 triệu

đồng. so với nhiều ngân hàng đang gặp khó khăn trong giai đoạn này thì kết quả trên

vẫn rất khả quan, cho thấy sự vững mạnh của chi nhánh cũng như toàn hệ thống ngân

hàng Agribank.

Trong cơ cấu thu nhập của ngân hàng, thu từ tín dụng vẫn là nguồn thu chủ yếu,

và tỉ trọng thu từ tín dụng có xu hướng tăng lên qua các năm. Năm 2009, tổng thu của

chi nhánh là 75790 triệu đồng, trong đó thu từ tín dụng là 60357 triệu, chiếm gần 80%,

còn lại 20% (tương ứng với 15433 triệu đồng) là thu từ các hoạt động khác. Đến năm



2010, tỉ tệ này đã tăng lên gần 93%, đạt 82349 triệu đồng trên tổng thu là 88839 triệu.

Và đến năm 2012, con số này còn tăng mạnh hơn, lên tới 97% (thu từ tín dụng là

121783 triệu, trên tổng thu của chi nhánh là 125228 triệu). Và đến năm 2012, tỉ lệ này

vẫn duy trì là trên 90%. Kết quả trên cho thấy vai trò vơ cùng quan trọng của hoạt

động tín dụng đối với chi nhánh, là nguồn thu chủ yếu, đảm bảo cho hoạt động của

ngân hàng. Những năm gần đây, do khó khăn của nền kinh tế, hoạt động tín dụng hầu

như bị thu hẹp lại, nhưng với Agribank Thành phố Nình Bình, nó vẫn mang lại gần

như toàn bộ thu nhập cho chi nhánh, cho thấy hoạt động tín dụng của chi nhánh khơng

q mức khó khăn.

 Chi phí.

Do sự khó khăn của nền kinh tế, cũng như để phục vụ cho việc mở rộng hoạt

động của chi nhánh, trong những năm gần đây, chi phí hoạt động của chi nhánh cũng

có xu hướng khơng ngừng tăng lên, cụ thể:

Bảng 2.3: Bảng chi phí từ năm 2009-2012

Đơn vị: triệu đồng.

năm 2009

chỉ tiêu

Giá trị



Tỷ

trọng



năm 2010

Giá trị



năm 2011



Tỷ

trọng



Giá trị



năm 2012



Tỷ

trọng



68,41

Tổng chi

1.Chi lãi



Giá trị



Tỷ

trọng



103,80



5



100



72,711



100



102,254



100



5



100



gửi



48,438



70.8



58,157



80



50,653



49.5



28,568



27.5



2.chi khác



19,977



29.2



14,554



20



51,601



50.5



75,237



72.5



tiền



(Nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng Agribank Thành phố Ninh

Bình từ năm 2009-2012).

Nhìn vào bảng số liệu trên có thể thấy chi phí của chi nhánh có xu hướng tăng

nhưng khơng đều.

Năm 2009, tổng chi là 68415 triệu, đến năm 2010 thì chỉ tăng nhẹ, tăng lên

72711 triệu đồng, tức là chỉ tăng 4296 triệu đồng. Nhưng đến năm 2011 thì chi phí lại

tăng mạnh. Con số này đạt 102254 triệu đồng, tức là tăng tới 29543 triệu đồng, tương

ứng là tăng đến hơn 40% sơ với năm 2011. Đến năm 2012 thì tổng chi chỉ tăng nhẹ,



tăng 1551 triệu đồng, lên con số 103805 triệu đồng.

Tương ứng với cơ cấu tổng thu, trong bảng cơ cấu tổng chi thì chi cho hoạt động

tín dụng vẫn là chủ yếu, mà phần lớn là dành để chi trả lãi cho khách hàng. Năm 2009,

tổng chi của ngân hàng là 68415 triệu thì trong đó riêng chi trả lãi đã là 48438 triệu,

chiếm hơn 70%. Đến năm 2010, con số này tăng lên 58157 triệu, và tỉ lệ tương ứng là

80%. Tuy nhiên, đến năm 2011 và 2012 thì tỷ lệ này lại giảm xuống. Năm 2011, chi

phí trả lãi là 50563 triệu, chiếm khoảng 50%, và năm 2012, tỉ lệ này giảm xuống chỉ

còn 27.5%. Trong khi tổng chi phí tăng mạnh thì chi phí lãi lại giảm, điều này chứng

tỏ chi nhánh đang gặp phải khó khăn trong huy động vốn, cũng như là việc tăng chi

phí cho các hoạt động xử lý nợ xấu, nợ quá hạn.

 Lợi nhuận.

Dưới tác động của nề kinh tế, lợi nhuận của chi nhánh cũng liên tục biến động

qua các năm, khơng có xu hướng ổn định.

Bảng 2.4: Lợi nhuận của chi nhánh từ năm 2009-2012.

Đơn vị: triệu đồng

chỉ tiêu



Năm 2009



Năm 2010



Năm 2011



Năm 2012



I-Tổng thu



75,790



88,839



125,228



113,557



II-tổng chi



68,415



72,711



102,254



103,805



III-lợi nhuận



7,375



16,128



22,974



9,752



(Nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh của ngân hàng Agribank thành phố Ninh

Bình các năm 2009-2012).

Từ năm 2009-2011, lợi nhuận của chi nhánh theo xu hướng tăng lên. Năm 2009,

con số này là 7375 triệu, năm 2010 đã tăng lên tới 16128 triệu đồng, tức là tăng tới

8753 triệu đồng, tương đương với gần 120% so với năm 2009. Có thể thấy nỗ lực của

chi nhánh trong việc đảm bảo hoạt động có hiệu quả. Đến năm 2011, con số này là

22974 triệu đồng, tăng 6846 triệu so với năm 2010. Năm 2011, thu nhập tăng lên rất

mạnh, từ 88839 triệu năm 2010 lên 125228 triệu (tức tăng đến hơn 40%) nhưng do chi

phí cũng tăng mạnh (cũng tăng đến hơn 40%) nên lợi nhuận tăng lên không đáng kể.

Và dừng lại xu hướng tăng từ năm 2009-2011, năm 2012 lợi nhuận của chi nhánh đã

giảm xuống, còn 9752 triệu (giảm tới 13222 triệu, tướng đương với 57.55% so với



năm 2011). Kết quả này là do trong năm 2012, thu nhập giảm tương đối mạnh (giảm từ

125228 triệu năm 2011 xuống còn 113557 triệu đồng, giảm tới 11671 triệu đồng),

trong khi đó chi phí lại vẫn tiếp tục tăng lên. Tuy nhiên, trong giai đoạn khó khăn,

trong khi nhiều ngân hàng thua lỗ, thậm chí sụp đổ (như Habubank) thì việc chi nhánh

vẫn có lợi nhuận cũng đã là một kết quả đáng ghi nhận.

Đạt được những kết quả đáng tự hào trên là nhờ có sự cố gắng và nỗ lực khơng

ngừng của tồn thể đội ngũ cán bộ nhân viên ngân hàng. Kết quả này cho thấy hoạt

động của ngân hàng đã mang lại hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế.

tuy nhiên, trong thời gian tới, ngân hàng cần nỗ lực hơn nữa trong việc đa dạng hóa

các lịnh vực hoạt động và kinh doanh để chi nhánh luôn hoạt động có hiệu quả, vượt

qua mọi khó khăn và ln tăng trưởng bền vững.

2.1.4.2. Hoạt động huy động vốn.

Vốn huy động là những giá trị tiền tệ mà Ngân hàng huy động được từ các tổ chức

kinh tế và cá nhân trong xã hội thơng qua q trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng , huy

động vốn thanh tốn, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh

doanh. Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Nguồn vốn

này không thuộc sở hữu của Ngân hàng, nhưng Ngân hàng được quyền sử dụng trong thời

gian huy động, có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi khi đến hạn đối với tiền gửi có kỳ

hạn hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn tiền gửi không kỳ hạn. Vốn huy động đóng vai trò rất

quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, là nguốn gốc kinh doanh

của Ngân hàng. Nhưng với tính chất là nguồn vốn rất dễ biến động, nên Ngân hàng không

được phép sử dụng hết số vốn này vào mục đích kinh doanh mà phải tuân thủ các quy

định về dự trữ bắt buộc để đảm bảo khả năng thanh tốn.

Từ đó Ngân hàng AGRIBANK thành phố Nình Bình ln xác định vốn giữ vai

trò quyết định. Và vấn đề khách hàng được đặt lên vị trí hàng đầu của kinh doanh. Mọi

hoạt động đều hướng tới khách hàng, coi trọng khách hàng và Ngân hàng là bạn hàng

thực hiện đi vay để cho vay, nhằm huy động tạo lập nguồn vốn lớn. Năm 2012, chi

nhánh có nguồn vốn huy động đạt 370108 triệu đồng. Đạt được kết quả đó là nhờ toàn

thể ban lanh đạo ngân hàng và toàn thể nhân viên cố gắng nỗ lực hết mình. Các hình

thức huy động vốn của AGRIBANK phong phú, linh hoạt,... nên ngày càng thu hút

được đông đảo khách hàng đến với ngân hàng. Là “ Người bạn đồng hành tin cậy” của

khách hàng.

Bảng 2.5: Cơ cấu vốn huy động của ngân hàng AGRIBANK TP. Ninh Bình

Đơn vị: triệu đồng



Năm 2009

Chỉ Tiêu



Năm 2010



Năm 2011



Năm 2012



Tỷ

trọng



Giá trị



Tỷ

trọng



Giá trị



Tỷ

trọng



Giá trị



Tỷ

trọng



100



565,656



100



254,529



100



370,108



100



22.9



110,880



19.6



60,729



23.9



83,933



21.9



77.1



454,776



80.4



193,800



76.1



289,175



78.1



282,418



100



565,656



100



254,529



100



370,108



100



260,089



92.1



535,270



94.6



235,263



92.4



360,215



97.3



2-Ngoại tệ



22,329



7.9



30,386



5.4



19,266



7.6



9,893



2.7



Theo kì hạn

1-TG khơng kì

hạn

2- TG 12 tháng

3- TG trên 12

tháng



282,418



100



565,656



100



254,529



100



370,108



100



37,312



13.2



119,112



21.1



60,759



23.9



80,954



21.9



140,871



49.9



421,089



74.4



175,285



68.9



252,830



68.3



104,235



36.9



25,445



4.5



18,485



7.3



36,323



9.8



Giá trị

Theo tính chất

nguồn vốn



282,418



1- TG các tổ

chức kinh tế



64,603

217,815



2-TG dân cư

Phân theo nộingoại tệ

1-Nội tệ



(nguồn: báo cáo thường niên của Ngân hàng Agribank TP.Ninh Bình các năm

2009, 2010, 2011, 2012)

Bảng số liệu trên cho thấy, trong cơ cấu vốn huy động theo nguồn vốn, nguồn

vốn ngân hàng huy động được chủ yếu là từ dân cư. Nguồn vốn này luôn chiếm tới

gần 80% tổng nguồn vốn mà ngân hàng huy động được. Đây cũng là xu hướng chung

của toàn hệ thống. Cụ thể, năm 2009, nguồn vốn huy động từ dân cư là 217,815 triệu

đồng, chiếm 77% so với tổng vốn huy động, đến năm 2012 tỉ lệ này cũng là khoảng

78% (289,175 triệu trên tổng số 370,108 triệu đồng mà ngân hàng huy động được).

Trong cơ cấu vốn theo loại tiền tệ, gần như toàn bộ vốn ngân hàng huy động

được là nội tệ. Đây là do đặc điểm của khu vực, do ngân hàng chủ yếu phục vụ dân cư,

hơn nữ khu vực thành phố Ninh Bình cũng khơng phát triển các dịch vụ, ít các cơng ty

nước ngồi, cơng nghiệp cũng chưa phát triển nên hoạt động về ngoại tệ hầu như là ít.

Mặt khác, do sự tăng mạnh tỉ giá và các chính sách của chính phủ nhằm ngăn cản hiện

tượng đơla hóa nền kinh tế nên ngoại tệ trong dân cư là không nhiều, nên ngoại tệ huy

động được ngày càng giảm dần. cụ thể, năm 2009, số ngoại tệ ngân hàng huy động

được là 22729 triệu USD, tức chiếm gần 8% tổng vốn huy động, đến năm 2012 chỉ

huy động được 9893 triệu USD, tương đương với gần 3% tổng vốn huy động.

Còn trong cơ cấu nguồn vốn huy động theo kì hạn, chủ yếu là vốn ngắn và không



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TẠI NGÂN HÀNG AGRIBANK TP. NINH BÌNH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×