Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

trái phiếu để hay động vốn trong toàn xã hội. Trái lại với tư cách là người cho vay,

ngân hàng cung cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và cá nhân. Khác với tín dụng

thương mại, loại tín dụng được cung cấp dưới hình thức hàng hố, còn tín dụng ngân

hàng được cung cấp dưới hình thức tiền tệ, bao gồm tiền mặt và bút tệ (chủ yếu là dưới

hình thức bút tệ).



1.1.1.2. Đặc điểm tín dụng ngân hàng.

Tín dụng ngân hàng được biểu hiện thông qua ba đặc điểm cơ bản sau:

 Thứ nhất là lòng tin: để thiết lập được quan hệ tín dụng thì người cho vay



phải lòng tin đối với người đi vay, tin tưởng người đi vay sẽ sử dụng vốn đúng mục

đích, có hiệu quả sẽ hoàn trả đầy đủ, đúng hạn.

 Thứ hai là tính thời hạn: quan hệ tín dụng được thiết lập có thời hạn, nghĩa là



người vay phải hồn trả cho người cho vay sau một thời gian nhất định được thoả thuận

giữa hai bên trong hợp đồng vay vốn, thời hạn cho vay được xác định trên cơ sở khả năng

về nguồn vốn của người cho vay, chu kỳ sản xuất kinh doanh của người đi vay.

 Thứ ba là tính hồn trả: đây là sự khác biết giữa tín dụng và các loại quan hệ



khác cấp phát, cho tặng,… sau một thời gian nhất định người đi vay phải hoàn trả cả

gốc lẫn lãi cho người cho vay.

1.1.2. Phân loại tín dụng ngân hàng.

Trong nền kinh tế thị trường, các hình thức tín dụng rất đa dạng và phong phú.

Sự phát triển kinh tế đã làm xuất hiện nhiều hình thức tín dụng mới, do đó tuỳ thuộc

vào việc phát triển kinh tế và pháp luật của mỗi nước, mỗi quốc gia khác nhau. Xuất

phát từ thực tiễn kinh tế xã hội và nhu cầu đa dạng của khác hàng mà các NHTM ln

tìm ra các giải pháp bằng cách đưa ra hình thức tín dụng mới nhằm đa dạng hố các

hình thức cho vay để mở rộng tín dụng, thu hút khách hàng, tăng lợi nhuận và giảm rủi

ro. Các hình thức này phán ánh đặc thù riêng của mỗi loại tín dụng khác nhau để từ đó

Nhà Nước đưa ra các chính sách, chế độ thích hợp cho mỗi loại tín dụng trong từng

thời kỳ phát triển nhất định. Hiện nay, các hình thức tín dụng có rất nhiều các phân loại

theo những tiêu thức khác nhau, một số tiêu thức phân loại chủ yếu như:

1.1.2.1. Xét theo thời hạn:

- Tín dụng ngắn hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay dưới 12 tháng,

thường được sử dụng để cho vay bổ sung thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của các



doanh nghiệp hoặc các nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của cá nhân. Loại này chiếm tỷ trọng

lớn nhất trong hoạt động tín dụng của NHTM.

- Tín dụng trung hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 1 năm đến 5

năm. Loại tín dụng này chủ yếu được sử dụng để đầu tư vào việc mua sắm tài sản cố

định, cải tiến hoặc đổi mới trang thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,xây

dựng các dự án hoặc cơng trình có quy mơ nhỏ và có thời hạn thu hồi vốn nhanh.

- Tín dụng dài hạn: là các khoản vay có thời hạn cho vay trên 5 năm trở lên.

Chủ yếu để đáp ứng nhu cầu về vốn dài hạn cho xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng

sản xuất các cơng trình có quy mơ lớn, như các cơng trình xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ

thuật, các cơng trình dự án thuộc điện ưu đãi đầu tư của Nhà nước …

1.1.2.2. Căn cứ vào hình thái giá trị.

- Tín dụng bằng tiền: là loại cho vay mà hình thái giá trị tín dụng Ngân hàng cung

cấp cho khách hàng là tiền. Đây là hình thái tín dụng chủ yếu của NHTM và nó được thực

hiện dưới kỹ thuật khác nhau như: tín dụng ứng trước, tín dụng trả góp, thấu chi …

- Tín dụng bằng tài sản: là loại tín dụng mà hình thái giá trị tín dụng ngân hàng

cung cấp cho khách hàng là tài sản (đối với NHTM chủ yếu dưới hình thức tín dụng

thuê mua ). Trong thời hạn cho vay vốn, những tài sản này chính là tài sản đảm bảo

cho các khoản vay.

1.1.2.3. Căn cứ vào mục đính sử dụng vốn.

- Tín dụng sản xuất và lưu thơng hàng hố: là loại tín dụng cấp cho chủ thể

kinh tế để tiến hành sản xuất và lưu thơng hàng hố. Gồm những loại hình như cho vay

bất động sản, cho vay công nghiệp và thương mại, cho vay nông nghiệp, thuê mua.

- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu

tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ và các hàng hoá tiêu dùng khác.

1.1.2.4.Căn cứ sự bảo đảm trong quan hệ tín dụng.

- Tín dụng có đảm bảo: là loại tín dụng mà khi cho vay đòi hỏi người vay vốn

phải có tài sản thế chấp (tài sản này phải thuộc sở hữu hợp pháp của người đi vay),

cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba.

- Tín dụng khơng có tài sản đảm bảo: là loại tín dụng khơng có tài sản thế

chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín

của bản thân khách hàng.



1.1.2.5.Căn cứ vào phương pháp cho vay.

- Tín dụng trực tiếp: là loại tín dụng mà ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người

có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hồn trả nợ cho Ngân hàng, được thực

hiện dưới hình thức cho vay.

- Tín dụng gián tiếp: là khoản vay được thực hiện thông qua người thứ ba như

mua lại các khế ước hoặc chứng từ phát sinh còn trong thời hạn thanh toán.

Các loại cho vay gián tiếp mà ngân hàng NHTM thực hiện là chiết khấu thương mại,

mua các phiếu bán hàng. mua các khoản nợ của các doanh nghiệp …

1.1.3. Vai trò của tín dụng Ngân hàng

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động tín dụng của ngân hàng được sử dụng

như là công cụ khai thác và động viên có hiệu quả nhất lượng tiền nhàn rỗi vào quá

trình tái sản xuất xã hội, phù hợp với quá trình vận động liên tục của vốn.

Ở mỗi nước, do trình độ phát triển kinh tế khác nhau, mục tiêu chiến lược kinh tế

- xã hội khác nhau cho nên vai trò tín dụng thể hiện và có định hướng khác nhau.

Trong điều kiện Việt Nam hiện nay, nhiệm vụ được đặt ra là hoàn thiện trong việc cải

cách cách thể chế đất nước để thu hút đầu tư nước ngồi đang có xu hướng suy giảm

trong thời gian gần đây. Điều đó cho thấy, tín dụng Ngân hàng đóng vai trò rất quan

trọng đối với sự phát triển kinh tế Việt Nam.

1.1.3.1. Đối với các doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp gặp phải một căn bệnh là thiếu vốn đặc biệt là thiếu vốn để

phát triển sản xuất. Nền kinh tế khơng ngừng vận động, hàng hố sản xuất ngày càng

nhiều và nhu cầu con người không ngừng nâng cao. Một DN muốn tồn tại và phát triển

thì phải nắm bắt nhu cầu và thoả mãn nhu cầu đó.

Như vậy, DN phải không ngừng đổi mới, mạnh dạn đầu tư để nâng cao chất

lượng sản phẩm, mở rộng sản xuất hay để xâm nhập vào thị trường mới. Tuy nhiên, để

làm được điều này, cần huy động một khối lượng vốn nhất định, hoặc DN có thể tự

tích luỹ qua lợi nhuận để lại nhưng thời gian tích luỹ quá lâu, làm mất thời cơ kinh

doanh. Hơn nữa, khi chậm đổi mới có nghĩa là lợi nhuận khơng còn. DN có thể huy

động vốn trên thị trường chứng khốn hoặc là vay vốn NH. Đối với NH, việc vay vốn

từ NH đôi khi đem lại nhiều thuận lợi hơn so với việc huy động vốn trên thị trường

chứng khoán. Về mặt kỳ hạn, DN có thể vay vốn NH theo kỳ hạn phù hợp với yêu cầu



kinh doanh. Thủ tục thời gian thì nhanh chóng và ít phức tạp, hơn nữa không công ty

nào cũng được quyền bán trái phiếu, cố phiếu của mình trên thị trượng chứng khốn,

nhất là công ty mới thành lập hay quá nhỏ, chưa có tiếng tăm.

Ngồi ra với khoản vay trung và dài hạn tại NH, vừa giúp NH thực hiện chiến

lược kinh doanh đem lại lợi tức cho DN mà không gia tăng sự kiểm sốt của người bên

ngồi đối với hoạt động kinh doanh của DN như trong trường hợp phát hành cổ phiếu.

Mặc dù, có nhiều thuận lợi như vậy nhưng lãi suất trung và dài hạn của NH là chi phí

khá cao đối với DN. Nó buộc các DN phải nghĩ đến hiệu quả đầu tư, doanh thu đạt

được không chỉ đủ trả vốn và lãi cho NH mà phải đem lại lợi tức cho mình. Dó vậy, lãi

suất tín dụng của NH là đòn bẩy thúc đẩy DN khai thác triệt để đồng vốn để kinh

doanh có lãi và thắng lợi trong cạnh tranh.

1.1.3.2. Đối với NHTM.

Hoạt động của NHTM trong cơ chế thị trường là hoạt động trong mơi trường

cạnh tranh gay gắt. Để có thể đứng vững trong mơi trường cạnh tranh gay gắt này đòi

hỏi mỗi NH phải thực hiện sự quan tâm đến hiệu quả hoạt động kinh doanh của chính

mình. Vì vậy, hoạt động tín dụng được xem là sự cần thiết để mang tính cạnh tranh của

NH. Trong những năm gần đây, nền kinh tế thị trường vận động trong điều kiện nền

kinh tế mở với nhu cầu mở rộng quy mô, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, tiến

tới đổi mới toàn bộ nền kinh tế đã cho thấy nhu cầu vốn trung – dài hạn là cấp thiết và

quan trọng. Nguồn vốn này tạo điều kiện cho các DN đổi mới kỹ thuật, trang bị công

nghệ mới, phương pháp sản xuất mới để tạo ra hàng hoá mới. Đây là điều kiện để NH

mở rộng phạm vi hoạt động của mình và ngày càng khẳng định vai trò, vị trí của mình

trong nền kinh tế thị trường.

Hơn nữa, tín dụng trung và dài hạn còn là cách thức khả thi để giải quyết nguồn

vốn huy động còn dư thừa tại mỗi NHTM, đồng thời cũng là cách NH gọi vốn từ nền

kinh tế đáp ứng nhu cầu về vốn cho các DN. Vì vậy, tín dụng trung – dài hạn cần phải

được tăng cường để các NH có thể tham gia nỗ lực vào sự nghiệp cơng nghiệp hố hiện đại hố đất nước thơng qua nghiệp vụ này.

Ngồi ra tín dụng còn là một nghiệp vụ mang lại lợi ích chủ yếu cho NHTM. Bởi

lẽ tín dụng là những khoản tín dụng có quy mơ lớn, lãi suất cao, thời gian dài nên lãi

thu sẽ lớn và ổn định. Chuyển từ nghiệp vụ của NH, đồng thời nâng cao tính cạnh



tranh trong lĩnh vực Ngân hàng. Khi Ngân hàng khơng đa dạng hóa hoạt động cho vay,

đa dạng hố khách hàng, thời hạn vay tiền thì Ngân hàng không thể đứng vững trong

nền kinh tế thị trường với sự chèn ép đông đảo của Ngân hàng khác.Quan hệ tín dụng

cũng có thể dẫn tới các hoạt động bảo lãnh do Ngân hàng thực hiện. Ngân hàng có thể

thực hiện bảo lãnh vay các Ngân hàng khác cho khác, bảo lãnh thực hiện hợp đồng,

bảo lãnh dự thầu và các hình thức bảo lãnh khác cho khách hàng.

Chính vì vậy, nâng cao hiệu quả tín dụng đang là những vấn đề mà các Ngân

hàng đều quan tâm nhằm đem lại lợi nhuận cho Ngân hàng cũng như phục vụ sự

nghiệp phát triển kinh tế đất nước.

1.1.3.3. Đối với nền kinh tế.

Hoạt động tín dụng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế quốc dân, điều hoà

lượng cung cầu về vốn trong nền kinh tế. Hoạt động tín dụng làm nhiệm vụ chuyển vốn từ

nơi thiếu vốn, từ những nhà tiết kiệm sang nhà đầu tư, phục vụ phát triển kinh tế.

Do tập trung được vốn và điều hoà cung cầu vốn trong nền kinh tế, tín dụng góp

phần đầy nhanh q trình tái sản xuất mở rộng đầu tư phát triển kinh tế, thực hiện

chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ. Các

khoản cho vay cung cấp cho ngành được thực hiện theo cả chiều sâu và chiều rộng,

đầu tư có trọng điểm, hình thành các ngành sản xuất mũi nhọn, xây dựng cơ cấu kinh

tế hợp lý, khai thác triết để các nguồn lực, tập trung phục vụ sản xuất. Nắm trong tay

nguồn vốn lớn, lâu dài đã thúc đẩy tiến độ phát triển các công trình, các dự án, tạo

được hiệu quả kinh tế bên vững, lâu dài góp phần thúc để tốc độ chuyển dịch cơ cấu

kinh tế đã hướng cơng nghiệp hố - hiện đại hố.

Bên cạnh đó, các khoản cho vay có vai trò tạo nguồn vốn để thực hiện xây dựng

mới, hiện đại hoá từng bước nền sản xuất trong nước, thúc đẩy sản xuất, nâng cao chất

lượng, mẫu mã, đa dạng về tính năng của sản phẩm để tiêu thụ trong nước và xuất

khấu, tăng thu ngoại tệ cho quốc gia, cải thiện cán cân thương mại và cán cân thanh

tốn quốc tế.

Tín dụng ngân hàng có vai trò trong việc thực hiện các chính sách kinh tế vĩ mơ.

NHTM ln quản lý tín dụng bằng các quy định và chính sách của mình. NHTM đóng

vai trò là người cho vay cuối cùng trong nền kinh tế ổn định lưu thơng tiền tệ. Thơng

qua tín dụng ngân hàng, Chính phủ có thể quản lý và thực hiện các chương trình kinh



tế lớn một cách có hiệu quả. Thực tế cho thấy, các chương trình kinh tế lớn đều được

cấp vốn thông qua hệ thống các NHTM, hiệu quả được xét đến kỹ hơn và Chính Phủ

cũng quản lý dễ dàng hơn các chương trình đầu tư này. Ngồi ra, Chính Phủ còn có thể

hướng tín dụng ngân hàng và các ngành kinh tế mũi nhọn, phục vụ q trình cơng

nghiệp hoá - hiện đại hoá để các ngành này đi đầu, tạo cho sự phát triển kinh tế -xã hội

đến đất nước.

Hoạt động tín dụng ngân hàng tạo điều kiện phát triển các quốc gia luôn gắn liền

với thị trường thế giới. Tín dụng trở thành nhịp cầu nối liền quan hệ kinh tế giữa các

quốc giavới nhau bằng các hoạt động tín dụng quốc tế như: Các hình thức tín dụng

giữa các Chính Phủ, giữa cá nhân, các hình thức tài trợ, cho vay khơng hồn lại của

Chính Phủ các nước.

1.1.4. Các đặc trưng của tín dụng ngân hàng.





Tính thời hạn: phụ thuộc vào nhu cầu vốn của các chủ thế.



 Tính hồn trả: Ngân hàng cấp tiền vay cho khách hàng và sau một thời gian

nhất định đã thỏa thuận thì người đi vay có trách nhiệm thanh tốn cả gốc và lãi cho

ngân hàng.

 Sự tín nhiệm: hoạt động tín dụng ngân hàng sự trên cơ sở sự tín nhiệm lẫn

nhau giữa khách hàng và ngân hàng.

 Tính rủi ro: hoạt động ngân hàng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro vì đây là một hoạt

động rất nhạy cảm về tiền tệ.

1.2. HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG.

1.2.1. Khái niệm.

Hiệu quả hoạt động tín dụng là một trong những biểu hiện của hiệu quả kinh tế

trong lĩnh vực ngân hàng, nó phản ánh chất lượng của các hoạt động tín dụng ngân

hàng. Đó là khả năng cung ứng tín dụng phù hợp với yêu cầu phát triển của các mục

tiêu kinh tế - xã hội và nhu cầu của khách hàng đảm bảo nguyên tắc hoàn trả nợ vay

đúng hạn, mang lại lợi nhuận cho NHTM từ nguồn tích lũy do đầu tư tín dụng và do

đạt được các mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Trên cơ sở đó đảm bảo sự tồn tại và phát

triển bền vững của Ngân hàng.

Vì vậy, hiệu quả hoạt động tín dụng là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh

khả năng thích nghi của tín dụng ngân hàng với sự thay đổi của các nhân tố chủ quan



(khả năng quản lý, trình độ của cán bộ quản lý ngân hàng…) , các nhân tố khách quan

(mức độ an tồn vốn tín dụng, lợi nhuận của khách hàng, sự phát triển kinh tế - xã

hội…). Do đó hiệu quả tín dụng là kết quả của mối quan hệ biện chứng giữa ngân hàng

– khách hàng vay vốn – nền kinh tế xã hội.

Đối với ngân hàng - một doanh nghiệp đặc biệt, sản phẩm của nó là “tiền tệ” và

cung cấp các dịch vụ về tiền tệ khác với các ngành sản xuất khác.Trong hoạt động

quan trọng nhất mang lại 90% thu nhập cho Ngân hàng là hoạt động tín dụng và là cơ

sở phát sinh các nhiệm vụ khác trong hoạt động kinh doanh của Ngân hàng, nhưng nó

cũng chính là hoạt động mang lại rủi ro cao nhất cho ngân hàng. Các rủi ro Ngân hàng

không những trong chọn khách hàng mà còn tư phía khách hàng gây ra. Trong hoạt

động khi khách hàng không thực hiện theo đúng trong thoả thuận với Ngân hàng trong

việc trả nợ do các điều kiện khác nhau như:thiên tai, hoả hoạn, sự biến động về tỷ

giá… dẫn đến những tồn thất cho người vay gây rủi ro cho Ngân hàng.

Như vậy, muốn hoạt động an toàn, sinh lợi và tăng khả năng cạnh tranh Ngân

hàng phải nâng cao chất lượng tín dụng và cả chất lượng các dịch vụ khác của Ngân

hàng để đảm bảo tính cạnh tranh an tồn, sinh lời theo nguyên tắc hoàn trả gốc lẫn lãi

của các doanh nghiệp.

Bởi vậy, đối với Ngân hàng, hiệu quả tín dụng đi liền với độ an tồn của vốn vay

và việc hoàn trả đẩy đủ, đúng thời hạn gốc và lãi vay của khách hàng khi hết hợp đồng

tín dụng. Đối với khách hàng, khoản tín dụng được đánh giá là có hiệu quả cao khi

khoản tín dụng đó đáp ứng được về khối lượng vốn sản xuất kinh doanh cho doanh

nghiệp, đáp ứng được nhu cầu vốn doanh nghiệp cả mặt không gian và thời gian, giúp

doanh nghiệp tạo ra lợi nhuận đủ để trả lãi cho khoản vay và được tăng giá trị tài sản

sở hữu cho chủ doanh nghiệp

Trong nền kinh tế thị trường, tất cả các chủ thể kinh tế đều đang hoạt động trong mơi

trường kinh tế có sự điều tiết và quản lý vĩ mơ của Nhà nước. Tuy vậy, hiệu quả tín dụng

không chỉ đánh giá bởi hai chủ thể là Ngân hàng và các khách hàng mà còn đánh giá từ phía

Nhà nước. Đối với Nhà nước, khoản tín dụng được đánh giá là có hiệu quả khi nó đáp ứng

được các mục tiêu chung của Nhà nước cả về mặt kinh tế và mặt xã hội. Chẳng hạn như,

các khoản tín dụng mà Ngân hàng cung cấp sẽ góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp, nâng cao cơ

sở hạ tầng, giảm ô nhiễm môi trường, tăng phúc lợi xã hội.

1.2.2 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tín dụng.

Khi xem xét, đánh giá một khoản tín dụng có hiệu quả cao hay khơng, có rất

nhiều quan điểm khác nhau, theo quan điểm của các nhà quản lí NHTM, việc đánh giá



hiệu quả hoạt động tín dụng thường dựa vào các chỉ tiêu chủ yếu sau:

1.2.2.1 Nhóm các chỉ tiêu định lượng.

 Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ:

(Dư nợ năm nay - Dư nợ năm trước)

Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ (%) = --------------------------------------------------



x100%



Dư nợ năm trước

Tỷ lệ này đánh giá sự tăng trưởng hoạt động tín dụng của ngân hàng thông qua

chỉ tiêu dư nợ. Tỷ lệ này càng cao càng tốt, nhưng phải phù hợp giữa doanh số cho

vay và daonh số thu nợ. Tỷ lệ này quá cao đơi khi do việc thu nợ gặp khó khăn, chứng

tỏ hoạt động của Ngân hàng khơng có hiệu quả.

 Hiệu suất sử dụng vốn.

Dư nợ cho vay

Hiệu suất sử dụng vốn = --------------------------- X 100%

Tổng vốn huy động

Đây là một trong những cơng cụ đo lường đáng tín cậy về hoạt động vay của

Ngân hàng. Hệ số này xác định hiệu quả đầu tư của một đồng vốn huy động, nó giúp

phân tích so sánh khả năng cho vay của ngân hàng vốn tổng vốn huy động được, tỷ lệ

này bình quân thường là 80%. Tuy nhiên tỷ lệ này biến đối từ 30% trong những khu

vực kinh tế trì trệ đến 100% tại các trung tâm tiền tệ lớn hay các Ngân hàng khu vực.

Tỷ lệ tổng dư nợ cho vay trên nguồn vồn huy động thấp, giả sử dưới 40% thì điều đó

có nghĩa là Ngân hàng khơng tìm kiến được nhiều khách hàng và dự án vay vốn có

hiệu quả hoặc Ngân hàng dè dặt trong hoạt động cho vay của mình.

 Tỷ lệ nợ quá hạn.

Nợ quá hạn trong kinh doanh tín dụng là khi đến thời hạn thành tồn khoản nợ,

người đi vay khơng có khả năng thực hiện ngay nghĩa vụ của mình đối với người cho

vay. Nợ quá hạn là kết quả của mối quan hệ khơng hồn hảo, trước hết nó vi phạm đặc

điểm của tín dụng đó là thời hạn, tính hồn trả và lòng tin của người cấp tín dụng đối

với người nhận tín dụng.

Dư nợ quá hạn



Tỷ lệ nợ quá hạn = ---------------------------- X 100%

Tổng dư nợ

Trong đó nợ quá hạn là tổng dư nợ từ nhóm 2 đến nhóm 5 theo phân nhóm nợ

của ngân hàng.

Về cơ bản, tỷ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu phán ánh các khoản tín dụng có vấn đềnhững khoản cho vay quá hạn mà Ngân hàng không thu hồi được.Mặc dù các khoản

tín dụng có vấn đề là kết quả của nhiều yếu tố khác nhau, nhưng về cơ bản chúng là

hậu quả của sự khơng sẵn lòng chi trả của khách hàng vay vốn, hoặc khơng có khả

năng thực hiện hợp đồng để giảm bớt dư nợ hay toàn bộ khoản vay như đã thoả thuận,

cá biệt có âm mưu chiếm dụng vốn.

 Vòng quay vốn tín dụng:



Doanh số cho vay

Vòng quay vốn tín dụng = ---------------------------------------------Dư nợ bình quân một khách hàng.

Đây là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá chất lượng hoạt động tín dụng. Vòng

quay càng lớn với số dư nợ luôn tăng chứng tỏ đồng vốn mà ngân hàng đã bỏ ra đã

được sử dụng một cách có hiệu quả.

 Tỷ lệ thu nợ.

Doanh số thu nợ

Tỷ lệ thu nợ = -------------------------------- X 100%

Doanh số cho vay

Doanh số cho vay càng cao, kết hợp với tỷ lệ thu nợ hợp lý chứng tỏ hoạt động

có hiệu quả của ngân hàng. Nếu doanh số cho vay ra cao mà khơng thu được nợ thì

ngân hàng dễ gặp rủi ro có nợ xấu.

1.2.2.2. Các chỉ tiêu định tính.

Tín dụng là một trong những hoạt động mang lại thu nhập chủ yếu cho các

NHTM, song không phải tất cả các NHTM đều thực hiện tốt hoạt động này. Một số

ngân hàng gặp khó khăn trong việc khơng thể tìm được dự án thích hợp cho vay hoặc

gặp khó khăn trong huy động vốn. Vì vậy việc xem xét hiệu quả tín dụng trung và dài

hạn là hết sức cần thiết, nó giúp ngân hàng có thể đánh giá lại hoạt động cho vay của

mình từ đó đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại, thiếu sót và đẩy mạnh



hơn nữa hoạt động cho vay.

Để đánh giá hiệu quả hoạt động tín dụng đứng trên giác độ là một nhà ngân hàng

chúng ta phải xem xét cả những chỉ tiêu về mặt định tính và định lượng. Về mặt định

tính, các chỉ tiêu được thể hiện quả một số khía cạnh sau.

- Hiệu quả tín dụng được thực hiện thông qua khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của

khách hàng, thủ tục đơn giản, thuận tiện, cung cấp vốn nhanh chóng, kịp thời, an tồn,

kỳ hạn và phương thực thanh toán phù hợp với chu kỳ kinh doanh của khách hàng.

- Những ngân hàng có lịch sử hoạt động lâu đời, cơ sở vật chất trang thiết bị tốt,

đồng thời ngân hàng tham gia vào nhiều hình thức huy động vốn, đa dạng hố khơng

ngừng ứng dụng các dịch vụ ngân hàng mới. Ngân hàng có tổng nguồn vốn huy động

lớn, ổn định có lượng khách hàng vay đơng đảo chứng tỏ ngân hàng có uy tín.

- Ngồi ra hiệu quả tín dụng còn được xem xét thơng qua hình hoạt động sản

xuất kinh doanh của ngân hàng, tình hình khai thác tiềm năng của Ngân hàng trên địa

bàn hoạt động.

1.2.3. Các nhân tố ảnh hướng tới hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng.

Tuỳ thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng nước, từng NHTM mà có

mức độ ảnh hưởng khác nhau đến hiệu quả hoạt động tín dụng Ngân hàng. Chúng ta

có thể chia các yếu tố ảnh hướng tới hiệu quả hoạt động tín dụng ngân hàng làm 2 loại:

các nhân tố chủ quan và các nhân tố khách quan.

1.2.3.1 Nhân tố chủ quan.

Chính bản thân Ngân hàng có liên quan đến hoạt động tín dụng và ảnh hưởng

trực tiếp tới hiệu quả tín dụng từ những góc độ khác nhau được thể hiện qua:

 Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng: Là một trong những nhân tố có ảnh

hướng lớn tới hiệu quả tín dụng của Ngân hàng. Chiến lược kinh doanh sẽ giúp cho

Ngân hàng có mục đích và đường lối đúng đắn. Nếu khơng có chiến lược kinh doanh,

tất cả các hoạt động của ngân hàng sẽ trở nên bị động, chệch hướng. Trên cơ sở chiến

lược kinh doanh đúng đắn, Ngân hàng sẽ có kế hoạch cụ thể trong từng thời kỳ nhằm

đảm bảo thực hiện đúng những mục tiêu đã để ra, nhất là những kế hoạch ảnh hướng

trực tiếp đến hiệu quả tín dụng của Ngân hàng.

 Vấn đề chính sách tín dụng Ngân hàng: Đây là một vấn đề đóng vai trò

quan trọng và là yếu tố bao trùm có tác động mạnh mẽ đảm bảo sự thành công hay thất



bại của Ngân hàng.

Một chính sách tín dụng hợp lý, đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm

bảo khả năng sinh lời của hoạt động tín dụng trên cơ sở phân tán và hạ thấp rủi ro, tuân

thủ pháp luật của Nhà nước, sẽ là sự tin cậy của nhân dần về tính cơng bằng trong xã

hội. Đối với vấn đề này các Ngân hàng cần thực hiện việc quản lý một cách thống nhất

các hoạt động tín dụng theo sự phát triển của cơ chế thị trường bằng các công cụ kinh

tế có chiến lược. Định hướng sắp xếp mọi hoạt động kinh doanh một cách nghiêm

chỉnh với uy tín và độ tín cậy cao nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi về tín dụng và

thanh tốn cho khách hàng, thực hiện tốt chiến lược Marketing ngân hàng về lãi suất

hợp lý và mang tính cạnh tranh cao. Từ đó, ta thấy rằng hiệu quả tín dụng tuỳ thuộc

vào việc xây dựng chính sách tín dụng NHTM. Do vậy, bất cứ một NHTM nào muốn

có hiệu quả tín dụng cao thì phải xác lập cho mình một chính sách tín dụng rõ ràng,

hợp lý phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế.

 Quy trình tín dụng: Quy trình tín dụng là những cơng đoạn mà Ngân hàng liên

tục thực hiện trong quá trình cho vay, phải tiến hành từ khi bắt tiếp nhận hồ sơ vay vốn,

giải ngân, kiểm tra tình hình sử dụng vốn vay cho đến khi thu hồi được nợ, trong đó tất cả

các cơng đoạn thuộc chức năng trách nhiệm của cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng có

liên quan phải thực hiện. Quy trình tín dụng là một yếu tố quan trọng để thực hiện chính

sách tín dụng của một tổ chức tín dụng, là sản phẩm của chuyển mơn hoạt động Ngân

hàng. Trong quy trình tín dụng thì cơng tác thẩm định là khâu quan trọng nhất giúp cho

người có thẩm quyền đưa quyết định đầu tư một cách chuẩn xác hơn. Q trình này đòi

hỏi cán bộ phải có sự hiểu biết và vận đụng một cách toàn diện các điều kiến thức về kinh

tế xã hội, phải áp dụng các biện pháp tính tốn kỹ thuật và so sánh,thời phải nắm bắt cả

diện biến kinh tế, xã hội, chính trị của khu vực và thế giới. Tuỳ thuộc vào điều kiện thực

tế ở từng địa phương, từng khách hàng và từng dự án.

Để đảm bảo cho một khoản tín dụng, việc kiểm tra trước hay kiểm tra sau khi

cho vay giúp Ngân hàng nắm được diễn biến của khoản tín dụng đã cung cấp, từ đó có

những can thiệp, điều chỉnh hay ngăn ngừa những rủi ro có thể xảy ra. Như vậy, hiệu

quả tín dụng có đảm bảo hay không là tùy thuộc vào việc thực hiện tốt không những

quy định ở từng bước và sự phối hợp giữa các bước trong quy trình.

 Thơng tin tín dụng: Thơng tin tín dụng có vai trò quan trọng trong quản lý



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×