Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
trong tinh thể của chúng. Với phương dao động khác nhau, tín hiệu Raman của SnO2

trong tinh thể của chúng. Với phương dao động khác nhau, tín hiệu Raman của SnO2

Tải bản đầy đủ - 0trang

Eg

420



A1g

617



Cường độ



Raman Shift (cm-1)



Đồ thị phổ Raman thể hiện sự có mặt của SnO2 trong mẫu 1 ở 12h-120oC

25000



20000



15000



10000



5000

1000



1100



1200



1300



1400



1500



1600



1700



1800



1900



2000



Ta có thể



thấy rằng tín hiệu dao động Eg tại vị trí có tần số 420 cm-1 và tín hiệu dao động A1g tại tần số

617 cm-1 thì 2 điểm này gần giống với đặc trưng tán xạ phổ Raman của tinh thể SnO 2, cho

thấy sự có mặt của tinh thể SnO2 trong mẫu. Tuy nhiên, phổ Raman cũng xuất hiện các peak

với cường độ nhỏ và chưa cao lắm so với mẫu chuẩn có thể là do các tạp chất còn lẫn trong

mẫu. Sự chênh lệch tín hiệu A1g – E12g của sản phẩm tổng hợp là 97 cm-1. Dựa vào độ chênh

lệnh có thể xác định được số lớp SnO2 là.



75



Đồ thị phổ Raman thể hiện sự có mặt của graphene oxit trong mẫu 1 ở 12h-120oC



Từ hình trên ta thấy rằng trong khoảng 1000-2000cm-1 có 2 đỉnh peak có cường độ lớn. Peak

thứ nhất nằm ở tần số 1324.2cm-1 ứng với tín hiệu D và peak thứ 2 nằm ở tần số 1599.2cm -1

ứng với tín hiệu G. Hai tín hiệu này đặc trưng cho sự có mặt của graphene trong mẫu. Bên

cạnh đó cũng có những peak cường độ yếu thể hiện còn có các tạp lẫn trong mẫu. Từ phổ

chuẩn có thể thấy rằng graphene oxit khá giống với phổ của mẫu chuẩn. Do đó có thể kết

luận rằng sản phẩm tổng hợp thành đã đạt được những thành công nhất định

4.6. Kết quả PL

Mẫu chuẩn bị cho chụp quang phát quang ở dạng bột. Mẫu sau khi li tâm được sấy khô ở

nhiệt độ 12oC trong 120h để mẫu khơ hồn tồn, dùng muỗng sạch lấy một lượng vừa đủ

cho vào ng đựng mẫu. Máy đo PL là máy của hãng HORIBA iHR320.



76



Ảnh PL

của

SnO2/



Graphe



ne của



bài báo



tham



khảo



-



Mẫu số



1: 12h-120oC



Cường độ



77



Ảnh PL của SnO2/Graphene trong mẫu 1 ở 12h-120oC

Trong khoảng 625-675nm có 1 peak có cường độ mạnh tại vị trí 657.55 nm. Peak này xác

định được sự có mặt của SnO2 trong mẫu. Trong mẫu còn xuất hiện những peak nhảy với

cường độ thấp có thể là do tạp chấp còn tồn tại trong mẫu. Peak chính thì nhảy với cường độ

chưa cao và chưa đúng vị trí so với peak chuẩn là 360-700 nm do có thể người đo mẫu lấy

mẫu với hàm lượng mẫu q ít hay dùng mẫu ở dạng bột có nhiều lỗ hổng nên peak nhảy

chưa cao.



4.7.



Kết quả UV



Hình 4.30: Phổ UV – vis SnO2/Graphene của bài báo tham khảo



78



Phổ UV – vis Graphene của bài báo tham khảo [12]

Mẫu chuẩn bị để đo ở dạng lỏng, đầu tiên hút 1 ml mẫu sau khi li tâm cho vào lọ đựng mẫu

sau đó cho thêm vào 15ml ethanol lắc đều rồi đánh siêu âm 30 phút cho dung dịch đồng

nhất. Máy đo mẫu thuộc hãng Dynamicamdòng HALO RB-10 do Thụy Sỹ sản xuất.

Chuẩn bị 2 cuvet đựng mẫu, trong đó 1 cuvet đựng mẫu trắng ethanol (làm chất nền

baseline), 2 cuvet đựng mẫu cần khảo sát, đặt cuvet vào máy và tiến hành đo. Vùng khảo sát

từ 200-1000nm, bước nhảy 1nm.

Mẫu số 1: 12h-120o



Graphene oxit

SnO2



Peak

D

C

B

A



Bước sóng (nm)

418

463

491

600



Kết quả đo của phổ UV – vis mẫu 1 ở 12h-120oC



79



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

trong tinh thể của chúng. Với phương dao động khác nhau, tín hiệu Raman của SnO2

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×