Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn

Tải bản đầy đủ - 0trang

Chun đề thực tập



động vốn có thể được nhìn nhận từ góc độ quy mơ, tỷ trọng các loại vốn hay

sự biến động vốn qua các năm.

3.1. Quy mô vốn và tốc độ tăng trưởng vốn

Vấn đề đầu tiên được quan tâm đến khi xem xét khả năng huy động vốn

của một NHTM chính là quy mơ vốn Ngân hàng đó huy động được. Bên cạnh

việc đánh giá quy mơ tổng vốn của Ngân hàng, sự xem xét chi tiết quy mô

từng loại vốn, vốn chủ sở hữu và vốn nợ, cũng rất cần thiết.

Các khoản mục được tính đến khi xác định quy mô vốn chủ sở hữu

bao gồm:

- Vốn cổ phần (vốn được cấp, vốn góp)

- Thặng dư vốn

- Lợi nhuận giữ lại

- Các quỹ: quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng rủi ro, các

quỹ khác

- Tỷ lệ nhất định cổ phần ưu đãi có thời hạn và giấy nợ có khả năng

chuyển đổi thành cổ phiếu.

Quy mô vốn chủ sở hữu là một trong những tiêu chí quan trọng để một

NHTM được xếp loại là Ngân hàng quy mơ lớn, trung bình hay nhỏ. Quy mô

vốn chủ sở hữu được dùng để so sánh giữa các ngân hàng khác nhau hoặc của

một Ngân hàng trong những thời điểm khác nhau.

Khi xét về quy mô, vốn nợ của NHTM thường được xác định gồm tiền

gửi, tiền vay và vốn nợ khác. Trong đó, vốn nợ khác là vốn nhận ủy thác, tiền

trong thanh toán và các khoản phải trả phải nộp.

Các khoản tiền gửi bao gồm:

- Tiền gửi thanh toán của doanh nghiệp

- Tiền gửi có kỳ hạn của các tổ chức

- Tiền gửi tiết kiệm của dân cư (khơng kỳ hạn và có kỳ hạn)

- Tiền gửi của các tổ chức tín dụng

SV: Nguyễn Thị Trang Nhung



27



Lớp: TMQT 47



Chuyên đề thực tập



Để xác định quy mô tiền vay, các khoản mục được sử dụng gồm:

- Công cụ nợ: kỳ phiếu, các giấy tờ có giá ngắn hạn khác, giấy tờ có giá

dài hạn

- Các khoản vay NHTW và vay các Tổ chức tín dụng

Quy mô vốn của mỗi Ngân hàng cần được xác định dựa trên sự so sánh

tương quan với hoạt động cho vay và các hoạt động sử dụng tài sản khác. Nếu

một NHTM huy động quá nhiều vốn và không kịp cho vay, nó sẽ rơi vào tình

trạng ứ đọng vốn và có nguy cơ bị thua lỗ. Để giải quyết tình trạng đó, một số

Ngân hàng mở rộng cho vay một cách mạo hiểm, khơng thẩm định tín dụng

chặt chẽ. Điều này có thể dẫn đến hậu quả là các khoản nợ xấu và nguy cơ

mất khả năng thanh tốn. Bên cạnh đó, việc mở rộng quy mơ vốn sẽ làm phát

sinh chi phí mới. Quy mơ vốn huy động càng lớn, chi phí biên sẽ càng cao và

ảnh hưởng đến thu nhập của Ngân hàng. Do đó, một quy mơ vốn hợp lý là

điều mỗi NHTM cần có sự tính tốn cẩn trọng.

Quy mơ vốn là một chỉ số tuyệt đối. Nếu chỉ được dùng đơn lẻ, nó

khơng phản ánh được đầy đủ khả năng huy động vốn của một Ngân hàng.

Một chỉ tiêu khác cũng được thường xuyên sử dụng là tốc độ tăng trưởng vốn.

Nếu quy mô vốn cho biết độ lớn của lượng vốn Ngân hàng huy động được thì

tốc độ tăng trưởng phản ánh sự tăng (giảm) của vốn tại các thời điểm khác

nhau cũng như sự tăng (giảm) đó là nhiều hay ít.

Quy mô vốn năm i

Tốc độ tăng trưởng vốn năm i =



-1

Quy mô vốn năm i – 1



Tốc độ tăng trưởng >0: số vốn Ngân hàng huy động được tăng.

Tốc độ tăng trưởng <0: quy mô vốn của Ngân hàng giảm.

Vốn của Ngân hàng gia tăng với những tỉ lệ xấp xỉ nhau trong nhiều

năm thể hiện một sự tăng trưởng vốn ổn định. Điều đó, một mặt, giúp Ngân

hàng thuận lợi hơn trong việc dự kiến lượng vốn huy động được để có kế

SV: Nguyễn Thị Trang Nhung



28



Lớp: TMQT 47



Chuyên đề thực tập



hoạch điều hòa vốn, tạo được sự phù hợp giữa phương án mở rộng huy động

vốn với mở rộng tín dụng. Trên khía cạnh khác, sự tăng trưởng vốn ổn định

còn cho thấy phần nào hình ảnh tốt của Ngân hàng trong mắt công chúng.

Tốc độ tăng trưởng có thể được tính cho tổng vốn cũng có thể được xét

riêng với từng loại vốn cụ thể. Sự biến động của từng loại vốn, đôi khi, trái

chiều nhau và không giống chiều biến động của tổng vốn. Chỉ tiêu này kết

hợp với tỷ trọng vốn giúp sự đánh giá về khả năng huy động vốn của NHTM

được sâu sắc hơn và toàn diện hơn.

3.2. Tỉ trọng từng loại vốn

Một yếu tố quan trọng khác được đưa ra để đánh giá khả năng huy

động vốn của NHTM là tỷ trọng từng loại vốn trong tổng vốn của Ngân hàng.

Quy mô của loại vốn i được sử dụng để tính tỷ trọng của nó trong tổng vốn

huy động.

Quy mơ của loại vốn i

Tỷ trọng của loại vốn i =

Tổng vốn huy động

Việc tỷ trọng vốn được thực hiện dựa theo nhiều tiêu chí phân loại khác

nhau: theo đối tượng huy động, theo kỳ hạn, theo tính chất hay theo loại tiền.

Tỷ trọng loại vốn nào cao phản ánh ưu thế của Ngân hàng trong việc huy

động loại vốn đó. Mặt khác, nó cũng cho thấy sự chú trọng của Ngân hàng

vào những hình thức huy động nhất định. Qua đó, người ta có thể nhận thấy

chính sách huy động vốn của Ngân hàng và đánh giá được Ngân hàng có đạt

được mục tiêu trong trường hợp thực hiện thay đổi cấu trúc vốn hay không.

Mỗi Ngân hàng, tùy vào điều kiện cụ thể mà duy trì tỷ trọng từng loại

vốn ở mức nhất định. Sự sao chép, áp đặt các tỷ trọng vốn giống những Ngân

hàng khác có thể gây bất lợi hoặc không phát huy được thế mạnh của bản thân

Ngân hàng.

Mỗi chỉ tiêu trên đây có những ưu điểm và nhược điểm riêng. Để đánh

SV: Nguyễn Thị Trang Nhung



29



Lớp: TMQT 47



Chuyên đề thực tập



giá một cách toàn diện và chính xác khả năng huy động vốn của một NHTM,

sự kết hợp các chỉ tiêu đó là điều rất cần thiết.



SV: Nguyễn Thị Trang Nhung



30



Lớp: TMQT 47



Chuyên đề thực tập



CHƯƠNG 2

THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN CỦA SỞ GIAO DỊCH I –

NGÂN HÀNG CÔNG THƯƠNG VIỆT NAM

1. Giới thiệu chung về Sở giao dịch I – Ngân hàng Công thương

Việt Nam

Tên: Sở giao dịch I - Ngân hàng Công thương

Địa vị pháp lý: Ngân hàng thương mại quốc doanh

Quy mô vốn : 17.940 tỷ VNĐ

Quy mô lao động: 290 nhân viên

1.1. Quá trình hình thành và phát triển

Thực hiện nghị định 53/HĐQT ngày 26/3/1988 của HĐQT về việc

chuyển hoạt động hạch tốn kinh doanh và hình thành hệ thống Ngân hàng

cấp 2. Ngày 1/7/1988 Ngân hàng Công Thương ra đời và đi vào hoạt động

trên cơ sở vụ tín dụng cơng nghiệp và vụ tín dụng thương nghiệp của Ngân

hàng Nhà Nước Trung Ương cùng với các phòng tín dụng cơng nghiệp, tín

dụng thương nghiệp của 17 chi nhánh Ngân hàng Nhà Nước địa phương.

Tiền thân của Sở giao dịch I là Ngân hàng nghiệp vụ khu vực 1 Hà Nội,

trực thuộc chi nhánh NHCT Thành phố Hà Nội. Năm 1988, nguồn vốn huy

động đạt 42 tỷ đồng và 37 tỷ đồng dư nợ cho vay, sản phẩm dịch vụ Ngân

hàng nghèo nàn, đơn điệu, chủ yếu là cho vay ngắn hạn và huy động tiết

kiệm. Từ tháng 12 năm 1989 đến tháng 11 năm 1992, Ngân hàng nghiệp vụ

khu vực 1 Hà Nội đổi tên thành Trung tâm giao dịch NHCT Hà Nội, nguồn

vốn huy động đã đạt 270 tỷ đồng và dư nợ cho vay là 125 tỷ đồng, đây cũng

là năm Trung tâm giao dịch NHCT Hà Nội triển khai hoạt động kinh doanh

đối ngoại.

SV: Nguyễn Thị Trang Nhung



31



Lớp: TMQT 47



Chuyên đề thực tập



Ngày 24/3/1993, Tổng giám đốc NHCT Việt Nam ra quyết định số

93/NHCT – TCCB chuyển hoạt động chi nhánh NHCT Thành phố Hà Nội

vào hội sở chính NHCT Việt Nam. Ngày 30/3/1995, Tổng giám đốc NHCT

Việt Nam ra quyết định số 83/NHCT – QĐ chuyển bộ phận giao dịch trực tiếp

tại Hội sở chính NHCT Việt Nam để thành lập Sở giao dịch NHCT Việt Nam.

Trong giai đoạn này, cùng với những thành quả ban đầu của công cuộc đổi

mới, hoạt động kinh doanh của Sở giao dịch đã thu được nhiều kết quả quan

trọng như củng cố và mở rộng mạng lưới, trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật, đa

dạng hóa sản phẩm dịch vụ nên đã có sự tăng trưởng cao. Đến năm 1998,

nguồn vốn huy động đạt 5.572 tỷ đồng, tăng 133 lần so với năm 1988; dư nợ

cho vay đạt 870 tỷ đồng, tăng 23 lần.

Ngày 30/12/1998, Chủ tịch HĐQT NHCT Việt Nam ra quyết định số

134/QĐ-HĐQT-NHCT1 chuyển hoạt động của Sở giao dịch thành Sở giao

dịch I – NHCT Việt Nam kể từ ngày 1/1/1999. Một lần nữa cơ cấu tổ chức

thay đổi, các phòng ban được sắp xếp lại để đáp ứng yêu cầu kinh doanh

trong tình hình mới. Kế thừa thành quả và kinh nghiệm sau 10 năm hoạt động,

Sở giao dịch I vẫn duy trì được sự phát triển nhanh, vững chắc, toàn diện. Từ

năm 1999 đến năm 2008, các mặt hoạt động cơ bản đều có tốc độ tăng trưởng

hàng năm từ 20% - 25%. Sở giao dịch I đã trở thành đơn vị có quy mô hoạt

động lớn, kinh danh đa năng, hiệu quả, có uy tín cao trong cộng đồng tài

chính Ngân hàng trong cả nước.

Sở giao dịch I ra đời và phát triển gắn liền với sự ra đời và phát triển

của Ngân hàng công thương Việt Nam. Kể từ khi được thành lập đến nay, Sở

giao dịch I đã không ngừng phát triển cả về mặt số lượng và chất lượng, trở

thành một trong những Ngân hàng hiện đại, đạt hiệu quả cao trong hệ thống

Ngân hàng công thương Việt Nam. Đã, đang và sẽ đáp ứng phần nào nhu cầu

về các dịch vụ Ngân hàng – tài chính của nền kinh tế.

SV: Nguyễn Thị Trang Nhung



32



Lớp: TMQT 47



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×