Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
GIẢP PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

GIẢP PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



76



3.1.2. Mục tiêu

Một trong những vấn đề mà ngành cà phê cần đặc biệt quan tâm trong

thời gian tới là phải đổi mới khâu chế biến, mở rộng, sản xuất các sản phẩm

cà phê giá trị gia tăng. Đề án nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cà phê

Việt Nam vừa được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nơng thơn ban hành cũng

nêu rõ: Tồn ngành sẽ điều chỉnh cơ cấu sản phẩm theo hướng tăng tỷ lệ xuất

khẩu cà phê sang các thị trường cao cấp, phát triển mạnh cà phê hòa tan, cà

phê rang xay, nâng mức chế biến sâu các sản phẩm cà phê đạt 20% vào năm

2015 và 30% vào năm 2020. Bên cạnh đó sẽ tập trung nâng cao chất lượng,

đa dạng hóa các sản phẩm chế biến; xây dựng và khẳng định thương hiệu cà

phê Việt Nam trên trường quốc tế. Theo đó, Bộ khuyến khích doanh nghiệp

trong nước và nước ngồi đầu tư chế biến cà phê hòa tan, cà phê rang xay...

Mục tiêu đặt ra đến 2015 đạt sản lượng từ 10.000 - 15.000 tấn/năm, trong đó

50% phục vụ cho nhu cầu xuất khẩu. Đồng thời cũng phấn đấu đến 2015 đưa

vào hoạt động một đến hai sàn giao dịch cà phê tại Tây Nguyên hay TP.Hồ

Chí Minh, trong đó 50-70% sản lượng cà phê Việt Nam tham gia giao dịch tại

các sàn giao dịch quốc tế có chất lượng cao.

3.2. Một số lưu ý khi xuất khẩu cà phê chế biến vào thị trường Hoa Kỳ

Khi thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ thì các sản phẩm hàng hóa dịch

vụ của Việt Nam nói chung và của cà phê chế biến nói riêng cần có những

nghiên cứu kĩ lưỡng về thị trường này bởi Hoa Kỳ có nhiều tiềm năng để phát

triển nhưng cũng chứa đựng không ít những thách thức và rủi ro. Các doanh

nghiệp cần hiểu rõ về thị trường Hoa Kỳ để có những chính sách xuất khẩu

hợp lý để có thể nâng cao được khả năng cạnh tranh so với các đối thủ khác

trên thị trường.



Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



Khóa luận tốt nghiệp



77



3.2.1. Đặc điểm chung về thị trường Hoa Kỳ

Thị trường Hoa Kỳ có những đặc điểm nổi bật sau:

- Hợp chủng quốc Hoa Kỳ là một nước công nghiệp phát triển hàng đầu

thế giới với các ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vu hiện đại. Hoa Kỳ

là một thị trường khổng lồ với sức mua lớn, nhu cầu phong phú đa dạng. Đây

là một thị trường tiềm năng đối với tất cả các nước trên thế giới, trong đó có

Việt Nam. Hoa Kỳ là nền kinh tế có sức cạnh tranh mạnh mẽ, là cường quốc

xuất khẩu số một, là thị trường nhập khẩu đa dạng và lớn nhất thế giới. Sau

khi hiệp định Thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ được kí kết ngày

13/7/2000 và chính thức có hiệu lực từ ngày 10/12/2001 thì thương mại giữa

hai nước đã phát triển ở một tầm cao mới tăng trưởng nhanh và ổn định. Đặc

biệt xuất khẩu Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng nhanh hơn rất nhiều so với

nhập khẩu của Việt Nam từ Hoa Kỳ đưa Việt Nam trở thành nước xuất siêu

trong quan hệ thương mại với Hoa Kỳ. Từ năm 2003 thì Hoa Kỳ đã trở thành

đối tác thương mại lớn thứ ba của Việt Nam chỉ sau có EU và Nhật Bản.

Bảng 3.1:Kim ngạch thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ

giai đoạn 2003-2007

Đơn vị: tỷ USD

Năm



2003

2004

2005

2006

2007



Tổng kim

ngạch xuất

nhập khẩu

5,8

6,0

7,63

9,7

12,36



Kim ngạch xuất khẩu

Xuất khẩu



Kim ngạch

nhập khẩu



Tỷ trọng / tổng kim

ngạch xuất khẩu



4,5

19,5

1,3

5,16

15,5

0,84

6,53

20,1

1,1

8,0

21,6

1,7

10,54

22,6

1,82

Nguồn: Viện nghiên cứu thương mại- Bộ Cơng Thương



Hiện nay thì Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất và ngày càng

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



Khóa luận tốt nghiệp



78



quan trọng của Việt Nam, vượt Nhật bản vào năm 2002 và bằng kim ngạch

xuất khẩu 25 nước EU cộng lại.

Trong những năm gần đây, mặc dù nền kinh tế thế giới chịu những sự

giảm sút do khủng hoảng kinh tế tài chính mang tính chất toàn cầu tuy nhiên

xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ vẫn tiếp tục không ngừng

tăng. Hoa Kỳ vẫn luôn là thị trường xuất khẩu số một của Việt Nam. Năm

2007, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt hơn 10 tỷ USD, năm 2008 đạt

12,9 tỷ USD và tính riêng cho hai tháng đầu năm 2009 thì xuất khẩu của Việt

Nam sang Hoa Kỳ cũng đã đạt gần 2 tỷ USD.

Bảng 3.2: Kim ngạch thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ

năm 2008-2009

Đơn vị: tỷ USD



Năm 2008

Tháng 1-2009

Tháng 2-2009



Nhập khẩu

2.789,9

157,5

162,1



Xuất khẩu

12.900,7

1.086,1

875,5



Nguồn: http://www.census.gov/foreign-trade/balance/c5520.html

Theo dự báo thì trong những năm tới Hoa Kỳ vẫn sẽ tiếp tục là thị

trường xuất khẩu hàng đầu của Việt Nam với tổng kim ngạch dự báo là

13.800 triệu USD chiếm tới 19,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam.

Năm 2010 xuất khẩu ước tính tiếp tục tăng và đạt 16.000 triệu USD, cũng

chiếm tới 19,1% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam. Hoa Kỳ thực sự đã,

đang và sẽ tiếp tục là một thị trường quan trọng hàng đầu của Việt Nam, là thị

trường lớn nơi các hàng hóa Việt Nam nói chung và các sản phẩm cà phê chế

biến nói riêng có thể tìm được chỗ đứng và phát triển.

Cơ cấu hàng hóa của Việt Nam vào Hoa Kỳ cũng đã có những biến đổi

theo hướng đa dạng dần về chủng loại, trong đó chiếm tỷ trọng cao nhất vẫn

là hàng dệt may với kim ngạch 4,5 tỷ USD chiếm 54,5% tổng giá trị hàng

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



Khóa luận tốt nghiệp



79



xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường Hoa Kỳ, tiếp đến là các mặt hàng

truyền thống như sản phẩm gỗ (1,23 tỷ USD), giày dép (1,03 tỷ USD ), thủy

sản (692 tỷ USD), điện tử (350 tỷ USD)…

Bảng 3.3: Dự báo cơ cấu thị trường xuất khẩu cả năm

trong hai năm 2009 và 2010

Đơn vị: triệu USD

Khu vực thị trường



Năm 2009

Kim ngạch

Cơ cấu



Năm 2010

Kim

Cơ cấu



(%)

ngạch

(%)

Tổng kim ngạch

72.320

100

83.860

100

- Châu Á:

33.500

46,3

39.400

47,0

Nhật bản

8.700

12,0

10.200

12,2

Trung Quốc

5.200

7,2

7.000

8,3

ASEAN

12.400

17,1

14.500

17,3

Hàn Quốc

1.750

2,4

2.400

2,9

Đài Loan

1.550

2,1

2.050

2,4

- Châu Âu :

13.500

18,7

15.500

18,5

EU

12.200

16,9

14.100

16,8

- Châu Mỹ

15.800

21,8

18.200

21,7

Hoa kỳ

13.800

19,1

16.000

19,1

- Châu Đại Dương

6.100

8,4

6.900

8,2

- Châu Phi, Tây Nam Á

3.420

4,7

3.860

4,6

Nguồn: Đề án phát triển xuất khẩu-Bộ công thương

Cũng theo Ủy ban Thương mại quốc tế của Hoa Kỳ (ITC) cho biết, Việt

Nam đã vượt qua những đối thủ lớn như Philippines, Tây Ban Nha, Chilê,

Colombia để lọt vào Top 30 nhà xuất khẩu lớn nhất vào Hoa Kỳ năm 2007.

Đây thực sự là một lợi thế lớn cho nền kinh tế của Việt Nam nói chung và cho

các mặt hàng xuất khẩu nói riêng.

- Tuy nhiên thị trường Hoa Kỳ có nhiều quy định pháp luật chặt chẽ và

chi tiết trong buôn bán thương mại cũng như các quy định nghiêm ngặt về

chất lượng, xuất xứ, nhãn hiệu, kĩ thuật….

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



Khóa luận tốt nghiệp



80



Mỹ có hệ thống luật pháp chặt chẽ, chi tiết và phức tạp hàng đầu thế

giới. Nhiều khi có sự khác biệt giữa luật pháp của Liên bang và luật pháp của

các Tiểu bang. Luật pháp được xem là một vũ khí thương mại lợi hại của Mỹ.

Nó liên quan đến bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Hoa Kỳ và được thực thi

khá hiệu quả vì vậy hàng hóa nhập khẩu và bán trên thị trường Hoa Kỳ

thường xuyên phải được đảm bảo và đôi khi các doanh nghiệp không nắm rõ

hệ thống các quy định thường thấy khó khăn khi làm ăn trên thị trường này.

Người ta nói rằng có hiểu biết về luật pháp xem như bạn đã đặt được một

chân vào thị trường Mỹ.

Đứng trên góc độ xâm nhập của các doanh nghiệp vào thị trường Mỹ,

hệ thống luật pháp về kinh doanh của Mỹ có một số đặc điểm đáng chú ý

sau đây:

Khung luật cơ bản cho việc xuất khẩu sang Mỹ gồm luật thuế suất năm

1930, luật buôn bán năm 1974, hiệp định buôn bán 1979, luật tổng hợp về

buôn bán và cạnh tranh năm 1988. Các luật này đặt ra nhằm điều tiết hàng

hoá nhập khẩu vào Mỹ; bảo vệ người tiêu dùng và nhà sản xuất khỏi hàng giả,

hàng kém chất lượng; định hướng cho các hoạt động buôn bán; quy định về

sự bảo trợ của Chính phủ với các chướng ngại kỹ thuật và các hình thức bán

phá giá, trợ giá, các biện pháp trừng phạt thương mại.

- Thị trường Hoa Kỳ là thị trường lớn có tính mở khá cao. Điều này thể

hiện ở chỗ quy chế xuất nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ phù hợp với

nguyên tắc cơ bản của tổ chức thương mại thế giới WTO. Hoa Kỳ là nước

nhập khẩu lớn nhất các mặt hàng có hàm lượng lao động cao như dệt may,

giày dép…Có thể thấy Hoa Kỳ là nước đi đầu trong quá trình quốc tế hóa

kinh tế tồn cầu và thúc đẩy tự do hố thương mại phát triển bởi vì việc mở

rộng sản xuất hàng hoá và dịch vụ để xuất khẩu ra thị trường toàn cầu là một

trong những yếu tố cơ bản cho sự tăng trưởng kinh tế Mỹ.

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



Khóa luận tốt nghiệp



81



- Thị trường Hoa Kỳ là thị trường có tính cạnh tranh lớn. Điều này

khơng q khó hiểu khi Hoa Kỳ là thị trường lớn, tiêm năng với tất cả các

quốc gia. Hoa Kỳ là nước nhập khẩu lớn nhất thế giới, trên thị trường Hoa Kỳ

có vơ số các nhà cung cấp tương ứng với vô vàn những đối thủ cạnh tranh kể

cả các đối thủ cạnh tranh hiện tại và tiềm ẩn. Thương trường cũng chính là

chiến trường đặc biệt với Hoa Kỳ, một thị trường khủng lồ như vậy. Chính vì

thế trong cuộc tranh giành này thì ngồi sự cạnh tranh hết sức khắc nghiệt về

giá và chất lượng thì còn phải chú ý tới cả những yếu tố khác như nhãn mác,

bao bì, mẫu mã, nguồn gốc xuất xứ…để có thể tìm kiếm và khẳng định được

chỗ đứng trên thị trường Hoa Kỳ.

- Thị trường Hoa Kỳ tồn tại nhiều hiệp hội kinh doanh. Ví dụ như các

hiệp hội dệt may, thủy sản, cà phê… Các hiệp hội này có vai trò lớn trong

việc hướng dẫn và phối hợp hoạt động của các doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích

cộng đồng doanh nghiệp tại Hoa Kỳ. Bản thân các doanh nghiệp xuất khẩu

của Việt Nam cần chủ động khai thác và có những mối quan hệ tốt với các

hiệp hội của Hoa Kỳ để tận dụng những cơ hội và giảm thiểu những rủi ro hay

những khó khăn khi phải đối đầu với các hiệp hội này.

- Hệ thống tư vấn Hoa Kỳ có vai trò đặc biệt quan trọng. Trong đó phải

kể tới hệ thống tư vấn pháp luật, một đòi hỏi khách quan được quy định bởi

đặc điểm của thị trường Hoa Kỳ, tuy nhiên chi phí tư vấn tại Hoa Kỳ lại

khơng hề nhỏ. Chính vì vậy bản thân các doanh nghiệp cần chủ động sử dụng

có hiệu quả các công ty tư vấn của Việt Nam, mặt khác cần cải tiến xây dựng

hệ thống tư vấn của mình ngang tầm quốc tế.

- Hệ thống phân phối của Hoa Kỳ mang tính thống nhất và ổn định cao.

Chính vì vậy các sản phẩm cà phê chế biến của Việt Nam khi xuất khẩu sang

thị trường Hoa Kỳ cũng cần có cho mình một mạng lưới phân phố rộng khắp,

ổn định và hợp lý. Đây cũng là một cơ hội nhưng cũng là một thách thức cho

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



Khóa luận tốt nghiệp



82



các doanh nghiệp khi thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ.

3.2.2. Quy định của Hoa Kỳ đối với hàng hóa nhập khẩu

3.2.2.1. Hệ thống thuế quan và phi thuế quan

 Hệ thống thuế quan

Về hệ thống thuế quan thì Hoa Kỳ sử dụng biểu thuế quan hài hòa

(Harmonized Tariff Schedule – HTS) được thơng qua ngày 1/1/1989. Hệ

thống này xây dựng trên cơ sở hệ thống mơ tả hàng hóa và mã số hài hòa của

hội đồng hợp tác Hải quan Quốc tế. Hầu hết các loại thuế quan của Hoa Kỳ

đánh theo tỷ lệ trên giá trị, tức là mức thuế được xác định bằng một tỷ lệ %

trên giá trị hàng nhập khẩu. Mức thuế suất thông thường biến động từ dưới

1% đến gần 40%. Cá biệt có một số mặt hàng như hàng dệt may thì bị đánh

với mức thuế suất cao hơn hay như một số mặt hàng nông sản, hàng chế biến

nhập khẩu lại được đánh thuế theo số lượng chứ khơng theo giá trị. Đặc biệt

có 1 số mặt hàng như đường thực phẩm thì lại đánh thuế theo hạn ngạch,

nghĩa là mặt hàng này sẽ đánh thuế theo hai mức, mức thuế trong hạn ngạch

và mức thuế vượt hạn ngạch thông thường cao hơn. Về bản chất thì đây chính

là một biện pháp nhằm hạn chế nhập khẩu mà chúng ta cần lưu ý.

Tuy nhiên từ khi hiệp định thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ

được kí kết và có hiệu lực thì phần lớn các hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu

vào thị trường Hoa Kỳ sẽ được hưởng thuế suất ưu đãi trên cơ sở chế độ đãi

ngộ tối huệ quốc (MFN). Theo quy định hiện hành, hàng hóa của các nước

thuộc diện đối xử tối huệ quốc khi nhập khẩu vào Hoa Kỳ sẽ chịu các mức

thuế như nhau. Khi Hoa Kỳ giảm, loại bỏ hoặc thay đổi một loại thuế quan

nào đó thì sự thay đổi đó sẽ mặc nhiên được áp dụng với tất cả các quốc gia

được hưởng MFN. Mức thuế ưu đãi theo chế độ đĩa ngộ MFN thấp hơn rất

nhiều so với mức thuế nhập khẩu không được hưởng chế độ ưu đãi này (mức

chênh lệc trung bình vào khoảng 35-40%).

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



Khóa luận tốt nghiệp



83



Ngoài ra, Hoa Kỳ dành một ưu đãi thuế quan đặc biệt với hàng hóa

nhập khẩu có những bộ phận được sản xuất tại Hoa Kỳ. Thỏa thuận này được

gọi là Hợp đồng phân chia sản phẩm. Theo đó thuế chỉ đánh vào phần giá trị

gia tăng ở nước ngoài của sản phẩm, không đánh thuế đối với những phần

được sản xuất ở Hoa Kỳ. Vì thế luật Hải quan quy định xuất xứ của sản phẩm

hàng hóa phải rõ ràng, trung thực.

Bên cạnh hệ thống thuế quan là các hàng rào phi thuế quan. Chúng tồn

tại như những trở ngại đối với các nước xuất khẩu.

 Hệ thống phi thuế quan

Hệ thống phi thuế quan trong thương mại đôi khi cũng được gọi là các

rào cản phi thuế quan, rào cản kĩ thuật, là một trong những biện pháp kĩ thuật

nhằm bảo vệ người tiêu dùng trong nước, lợi ích quốc gia, bảo hộ sản xuất

trong nước.

- Các tiêu chuẩn quy định kĩ thuật: Các biện pháp này tập trung trong

hiệp định hàng rào kĩ thuật trong thương mại do WTO soạn thảo. Cũng như

nhiều nước khác, các quy định và tiêu chuẩn kĩ thuật được Hoa Kỳ áp dụng

chủ yếu vì mục đích bảo vệ sức khỏe, bảo vệ sự an tồn của mơi trường sinh

thái. Những mặt hàng chịu sự quản lý thường là những mặt hàng nhạy cảm

với môi trường như thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, dược phẩm, dụng cụ y tế,

các phương tiện có đông cơ…việc áp dụng các tiêu chuẩn kĩ thuật của Hoa

Kỳ trong đó có tiêu chuẩn liên quan đến mơi trường được nhiếu đối tác

thương mại biết đến vì sự phức tạp và khắt khe. Các tiêu chuẩn thường rất chi

tiết và khó đáp ứng (bao gồm cả quy định về nhãn hiệu) cũng có thể được xây

dựng ở cấp độ Tiểu bang.

- Hệ thống tiêu chuẩn chất lượng: Chương 4 của Luật về hiệp định

thương mại năm 1979 của Hoa Kỳ quy định việc áp dụng các tiêu chuẩn về

chất lượng và thủ tục xin cấp giấy chứng nhận cho hàng hóa nhập khẩu vào

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



Khóa luận tốt nghiệp



84



Hoa Kỳ được căn cứ theo hiệp định của GATT.

Thực chất thì những quy định đó được Hoa Kỳ áp dụng làm phương

tiện phân biệt đối xử với hàng hóa nhập khẩu. Ví dụ hàng nhập khẩu có thể bị

kiểm tra, thử nghiệm xem có phù hợp với tiêu chuẩn trong nước không và tiến

hành ở những điều kiện khó khăn hơn so với điều kiện áp dụng cho hàng

trong nước. Chế độ giấy chứng nhận hàng phù hợp tiêu chuẩn cũng được

dùng để hạn chế hàng nhập khẩu hoặc phân biệt đối xử. Đây thực chất là hàng

rào kĩ thuật nhằm giúp Hoa Kỳ bảo hộ hợp lệ cho sản xuất hàng hóa và dịch

vụ trong nước.

Ngồi ra thì cũng phải kể tới một số biện pháp quản lý định lượng khác

của Hoa Kỳ như cấm nhập khẩu, quy định về giấp phép nhập khẩu, hạn ngạch

nhập khẩu…

3.2.2.2. Một số các quy định khác

Ngoài một hệ thống phức tạp các hàng rào thuế quan và phi thuế quan

thì Hoa Kỳ còn có một loạt những quy định nghiêm ngặt về nhãn mác, nguồn

gốc xuất xứ sản phẩm…Hàng nông sản khi nhập khẩu vào Mỹ phải tuân theo

những quy định của bộ nông nghiệp Mỹ, qua cơ quan giám định về vệ sinh an

toàn thực phẩm trước khi làm thủ tục hải quan. Các sản phẩm sau khi qua cơ

quan giám định còn phải qua giám định của cơ quan quản lý thực phẩm và

dược phẩm (FDA).

- Quy định về xuất xứ hàng nhập khẩu vào thị trường Mỹ

Việc xuất xứ rất quan trọng vì hàng nhập khẩu ở những nước đang phát

triển hoặc những nước đã ký hiệp định thương mại với Mỹ sẽ được hưởng

thuế suất thấp hơn .

Xuất xứ của mặt hàng được xác định theo nguyên tắc biến đổi phần lớn

về giá trị , và được định nghĩa như sau: “Sản phẩm được xác định thuộc nước

gốc là nước cuối cùng sản xuất ra sản phẩm với du lịch sản phẩm đã biến

dạng để mang tên mới và có đặc tính sử dụng mới” .

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



Khóa luận tốt nghiệp



85



Khi xuất khẩu vào Mỹ, muốn được hưởng thuế suất ưu đãi theo nước

xuất xứ, luật Mỹ quy định trên sản phẩm phải ghi nhãn của nước xuất xứ và

chỉ bắt buộc với sản phẩm hoàn chỉnh, khi nhập vào Mỹ có thể bán thẳng cho

người tiêu dùng, đồng thời hàng hoá gốc từ Mỹ khi chuyển sang nước khác để

gia cơng, sắp xếp lại và đóng gói khi nhập khẩu trở lại Mỹ sẽ khơng phải

đóng thuế nhập khẩu cho phần nguyên liệu có nguồn gốc từ Mỹ .

- Quy định vê nhãn hiệu nhập khẩu vào thị trường Mỹ

Mọi hàng hoá khi nhập khẩu vào Mỹ phải có nhãn mác rõ ràng, có xuất

xứ ngoại quốc, khơng tẩy xoá… và phải được đăng ký tại Cục hải quan Mỹ,

đựơc lưu giữ theo quy định, hàng hố có nhãn hiệu giả sẽ bị tịch thu sung công.

Xử lý vi phạm: hàng nhập khẩu vào Mỹ phải tuân thủ theo quy định

nếu không sẽ bị phạt mức 10% giá trị lô hàng và phải thực hiện thêm một số

yêu cầu nữa. Hàng nhập khẩu không ghi tên nhãn mác sẽ bị tịch thu tại trạm

Hải quan Mỹ cho đến khi người nhập khẩu thu xếp tái xuất trở lại, nếu cố tình

vi phạm sẽ bị phạt tiền 5000 USD hoặc bỏ tù dưới một năm .

- Các quy định về bình đẳng thương mại

Hoa Kỳ là quốc gia ủng hộ việc cạnh tranh lành mạnh nên trong hệ

thống luật pháp cũng có một số các quy định về bình đẳng thương mại như

chống độc quyền, chống bán phá giá, chống cạnh tranh khơng bình đẳng…

Quy định chống bán phá giá những quy định biện pháp trừng phạt đối

với một quốc gia, hay doanh nghiệp đã bán sản phẩm của mình với giá thấp

hơn giá thành của sản phẩm đó. Luật cũng cho phép Hoa Kỳ được đệ trình

khiếu nại về hoạt động bán phá giá ở nước thứ ba. Nó sẽ được áp dụng khi giá

bán sản phẩm ở Hoa Kỳ thấp hơn giá trị thông thường của sản phẩm nghĩa là

giá xuất khẩu vào Hoa Kỳ thấp hơn giá bán của hàng hóa đó ở nước xuất xứ

hoặc ở nước thứ ba thay thế phù hợp.

Hoa Kỳ cũng có những quy định về những biện pháp mà nước nhập

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



Khóa luận tốt nghiệp



86



khẩu được phép áp dụng để chống lại nước xuất khẩu, khi họ đã có những

hành động hỗ trợ các nhà sản xuất của mình về tiền vốn, thiết bị, hoặc trợ giá

cho nhà sản xuất để sản phẩm đó được xuất khẩu với giá thấp hơn giá thành

thực tế của nó.

3.2.3. Tiềm năng của Hoa Kỳ đối với cà phê chế biến của Việt Nam

3.2.3.1. Những thuận lợi

- Hoa Kỳ có nhu cầu tiêu dùng cà phê lớn nhất thế giới. Các sản phẩm

cà phê uống liền thực sự phù hợp với một nước công nghiệp hiện đại hàng

đầu như Hoa Kỳ. Chỉ tính cho các sản phẩm cà phê chế biến thì nhu cầu tiêu

thụ cà phê của Hoa Kỳ ngày càng tăng, cà phê trở thành thứ đồ uống thường

xuyên hàng ngày của đa số người dân Mỹ. Năm 2002, đã lên tới 150 triệu

người và đến năm 2003 số người uống cà phê thường xuyên hàng ngày tăng

lên thành 77% dân số Mỹ (không kể trẻ em dưới 18 tuổi) tương đương với

khoảng 161 triệu người, tăng 1,8 triệu người so với năm 2001. Nếu xét bình

quân đầu người thì năm 2008 họ uống trung bình 3,2 cốc/ ngày so với năm

2007 là 3,1 cốc/ ngày và cao hơn hẳn so với năm 2005 chỉ có 2,5 cốc/ngày.

Theo dự báo thì nhu cầu này còn tiếp tục tăng trong những năm tới.

- Hệ thống thuế quan ưu đãi cho các sản phẩm cà phê xuất khẩu Việt

Nam. Việc hiệp định thương mại song phương Việt Nam-Hoa Kỳ được kí kết

và có hiệu lực thì các hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu vào thị trường Hoa

Kỳ nói chung và cà phê chế biến nói riêng đã được hưởng thuế suất ưu đãi

trên cơ sở chế độ đãi ngộ tối huệ quốc (MFN).

- Là sân chơi bình đẳng cho các sản phẩm xuất khẩu. Hoa Kỳ là nước

có hệ thống pháp lí bảo vệ cạnh tranh, như luật chống độc quyền, chống bán

phá giá, chống cạnh tranh không bình đẳng…Đây là cơ hội cho các sản phẩm

cà phê chế biến của Việt Nam cạnh tranh lành mạnh với các đối thủ khác.

Tóm lại ta có thể thấy Hoa Kỳ là một thị trường lớn với nhu cầu tiêu

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

GIẢP PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×