Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
TRÊN THỊ TRƯỜNG HOA KỲ

TRÊN THỊ TRƯỜNG HOA KỲ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



26



khoảng 400 – 600 triệu USD và thu hút bình quân 600.000 lao động mỗi năm.

 Ngành cà phê chế biến của Việt Nam

Ngoài việc cần nâng cao chất lượng cà phê hạt xuất khẩu để có mức giá

xuất khẩu tốt hơn thì nhu cầu đặt ra đối với nước ta hiện nay là phát triển cà

phê chế biến bởi nó vừa có thể gia tăng giá trị xuất khẩu của cà phê Việt Nam,

vừa có thể giảm bớt sự phụ thuộc của ngành cà phê Việt Nam vào các nhà

kinh doanh, sản xuất nước ngoài.

Tuy nhiên ở thời điểm hiện tại, ngành cà phê chế biến sâu của Việt

Nam vẫn chỉ phát triển ở một mức độ nhất định nên chưa phát huy được hết

lợi thế của mình. Có thể nói ngành cà phê chế biến của Việt Nam vẫn còn khá

khá non trẻ, tính đến trước thời điểm tháng 11 năm 2005, có ba đơn vị sản

xuất cà phê hòa tan với tổng cơng suất 2200 tấn/năm. Trong đó, Vinacafé:

1000 tấn/năm đang chạy hết cơng suất, Nescafé: 1000 tấn/năm, Trung

Nguyên: 200 tấn/năm chưa đưa vào sử dụng.

Đến ngày 2/11/2005, Công ty cà phê Trung Nguyên đã đưa vào hoạt

động Nhà máy cà phê hòa tan G7 tại Khu cơng nghiệp Tân Đơng Hiệp A, tỉnh

Bình Dương (Nhà máy có diện tích 3 ha, cơng suất 3.000 tấn cà phê hòa

tan/năm, tổng vốn đầu tư trên 10 triệu USD) và đến năm 2007, VinaCafe cũng

sở hữu cho mình một nhà máy cà phê hồ tan 20 triệu USD, với công suất

3.000 tấn/năm.

Giữa tháng 10/2008, công ty cà phê Trung Nguyên đã xây dựng một

nhà máy chế biến cà phê ở Ðak Lak có cơng suất 1.500 tấn mỗi năm. Theo dự

kiến, Trung Nguyên đầu tư 8 triệu đơ la Mỹ để sản xuất cà phê hồ tan và sẽ

hoàn thành vào cuối năm tới.

Ngoài việc tập trung khai thác thị trường trong nước, mỗi năm các

doanh nghiệp còn xuất khẩu từ 500 - 600 tấn cà phê hoà tan với kim ngạch

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



26



Khóa luận tốt nghiệp



27



1,5 - 2 triệu đơ la Mỹ.

2.1.2. Các loại cà phê chế biến của Việt Nam

Trước khi nói về cà phê chế biến chúng ta cũng cần hiểu qua về một số

loại cây cà phê được trồng chủ yếu ở Việt Nam. Bởi đó là những nguyên liệu

đầu vào cho quá trình chế biến sau này, chính từ nó mà người ta sản xuất chế

biến ra những loại đồ uống mang hương vị riêng, cũng như pha trộn nó để tạo

ra được cảm giác mới lạ trong việc thưởng thức cà phê cho người tiêu dùng.

 Một số loại cà phê nhân cơ bản

Cà phê nhân nguyên chất có rất nhiều loại khác nhau. Theo thống kê,

trên thế giới hiện nay có khoảng 70 loại cà phê nhân đang được trồng và xuất

khẩu. Trong đó phổ biến nhất về diện tích trồng cũng như vai trò quan trọng

trên thị trường cà phê thế giới có 1 số loại sau:

- Rubusta (cà phê vối): Đây cũng là loại được trồng chủ yếu ở Việt Nam

(chiếm 65% tổng diện tích trồng ở Việt Nam) do phù hợp với điều kiện thời

tiết, khí hậu cũng như đất đỏ bazan ở Tây Nguyên. Trồng loại này đơn giản,

chi phí ít, thường sau một năm đã cho quả thu hoạch với năng suất cao. Hằng

năm đạt 90-95% tổng sản lượng cà phê của Việt Nam.

- Arabica (cà phê chè) với 2 loại là Moka và Catimor. Ở Việt Nam thì

Moka ít được trồng do cho sản lượng thấp mà giá xuất lại cao còn Catimor thì

trái chín vào mùa mưa, đòi hỏi trồng khơng tập trung khiến chi phí cao do đó

cũng khơng được trồng nhiều ở Việt Nam. Tuy nhiên cà phê Arabica lại là loại

được thế giới ưu chuộng nhất (70-80% nhu cầu thế giới).

- Cheri (cà phê mít): Việt Nam cũng có trồng nhưng loại này ít phổ biến

hơn do vị rất chua nên không được thế giới không ưu chuộng.

Cà phê quả tươi sau khi thu hoạch qua quá trình sơ chế sẽ cho ta cà phê

nhân. Từ cà phê nhân qua q trình chế biến cơng nghiệp sẽ cho ta các sản

phẩm tinh chế như là cà phê rang xay pha phin (cà phê bột) hay các sản phẩm

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



27



Khóa luận tốt nghiệp



28



cà phê hoà tan, cà phê sữa... Các sản phẩm tinh chế này được đóng gói nhãn

mác bao bì và qua các kênh phân phối được đem ra thị trường bán cho người

tiêu dùng, là nhũng người mua cuối cùng.

 Các loại cà phê chế biến của Việt Nam

Ở Việt Nam, thị trường cà phê chế biến hiện nay được chia thành hai

phân khúc rõ ràng: cà phê rang xay (cà phê bột hay cà phê phin) chiếm

khoảng 2/3 sản lượng cà phê được tiêu thụ và cà phê hoà tan chiếm 1/3.

Và trong số các loại cà phê hòa tan đang cạnh tranh trên thị trường thì

cà phê hòa tan nguyên chất chỉ chiếm 14%, còn lại 86% là cà phê hòa tan 3

trong 1, người dân gọi là cà phê sữa (vì có bổ sung thêm đường và bột sữa).

Nếu tất cả công suất của các nhà máy cà phê hòa tan ở Việt Nam sử dụng để

sản xuất cà phê hòa tan 3 trong 1 thì tổng sản lượng sẽ là 23.000 tấn/năm.

Cà phê bột pha phin kiểu truyền thống vốn có tiền lệ là khơng có nhiều

thay đổi trong thành phần chất lượng mà chủ yếu tìm kiếm sự mới lạ trong

phong cách trình bày bao bì sản phẩm. Thế nhưng trong những năm gần đây,

các doanh nghiệp sản xuất chế biến cà phê cũng đã có những sự đổi mới, bắt

đầu thử nghiệm và áp dụng những công nghệ tiên tiến mới để tạo nên những

hương vị cà phê tổng hợp đặc sắc riêng. Ví dụ nhu việc các doanh nghiệp đưa

ra thị trường các sản phẩm cà phê bột pha trộn giữa cà phê Moka và Robusta,

hoặc cà phê ướp hương lài, bưởi... Mặc dù nhiều người vốn trung thành với

dạng cà phê rang xay truyền thống tỏ ra không hưởng ứng lắm vì họ cho rằng

hương lài làm mất đi mùi cà phê đặc trưng, nhưng các sản phẩm cà phê mới

này vẫn được khơng ít người chấp nhận.

Tuy nhiên đổi mới "mãnh liệt" hơn cả thì phải nói tới sự đổi mới của

các loại sản phẩm cà phê hòa tan, đáp ứng nhu cầu uống cà phê kiểu công

nghiệp trong cuộc sống hối hả bộn bề hiện nay. Khơng những có những sự đổi

mới về hình thức mẫu mã, kiểu dáng bên ngồi mà các doanh nghiệp còn đa

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



28



Khóa luận tốt nghiệp



29



dạng trong cả số lượng gói, trọng lượng gói để phục vụ tốt cho nhu cầu của

người tiêu dùng. Hơn thế nữa là sự đột phá trong những hương vị hoàn toàn

mới lạ của các sản phẩm cà phê hòa tan. Ví dụ như vào tháng 4/2005, Công ty

Vinacafe đã thử nghiệm giới thiệu và tung ra thị trường loại sản phẩm cà phê

sâm 4 trong 1 (cà phê+đường+bột sữa+nhân sâm) nhằm mang đến cho người

thưởng thức cà phê một hương vị hòa tan độc đáo và mới lạ.

Như vậy ta có thể thấy cùng với việc đầu tư xây dựng thêm nhiều nhà

máy mới thì các doanh nghiệp vẫn đang cố gắng tìm tòi đổi mới kĩ thuật, áp

dụng cơng nghệ mới tiên tiến để đa dạng hóa sản phẩm, khơng ngừng đổi mới

mẫu mã nâng cao chất lượng cũng như tìm ra những lối đi mới cho riêng

mình để đáp ứng tốt nhu cầu trong nước và nhằm mục tiêu dài hạn hơn là

phục vụ cho việc xuất khẩu.

2.1.3. Thực trạng sản xuất và chế biến cà phê của Việt Nam

2.1.3.1.Các nhà sản xuất và chế biến cà phê lớn ở Việt Nam

Trong những năm gần đây ở Việt Nam, cả hai sản phẩm cà phê bột và

cà phê hòa tan của các thương hiệu Cafe Moment, Vinacafe, Nescafe, Trung

Nguyên đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng. Tuy nhiên nếu nói đến thị

trường cà phê hòa tan, cần nói đến hai doanh nghiệp chế biến cà phê hoà tan

lớn là Nestlé với nhãn hiệu Nescafé và Vinacafé Biên Hòa với nhãn hiệu

Vinacafé. Cà phê hòa tan có đặc điểm chung là hơi chua. Ở Vinacafé, tính

chất này đã được xử lý, vì thế cà phê hòa tan Vinacafé ít chua nhất, được đánh

giá là phù hợp với gu sở thích cà phê của người Việt Nam.

Theo số liệu nghiên cứu thị trường của trung tâm nghiên cứu thị trường

Hoa Kỳ (Taylor Nelson Sofrees - TNS năm 2004) thì Vinacafé chiếm 50,4%,

Nescafé 33,2%, các nhãn hiệu khác 16,4%.

Năng suất chế biến cà phê hoà tan của nhà máy Vinacafé khoảng 1.000

tấn sản phẩm mỗi năm. Tổng công ty Cà phê Việt Nam (Vinacafé) cho biết,

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



29



Khóa luận tốt nghiệp



30



trong năm 2006, hơn 500 tỷ đồng được đầu tư xây dựng mới và mở rộng năng

lực sản xuất của 3 nhà máy chế biến cà phê tại Biên Hồ, Bình Dương và Gia

Lai. Dựa trên lợi thế về chất lượng sản phẩm, giá, uy tín, thương hiệu các sản

phẩm hoà tan, Vinacafe Biên Hoà sẽ đầu tư mở rộng quy mơ nhà máy chế

biến cà phê hồ tan với công suất 3.200 tấn sản phẩm/năm, tổng mức đầu tư

khoảng 400 tỷ đồng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng trong và ngoài

nước (sản lượng xuất khẩu cà phê chế biến sâu đạt từ 45 – 50%). Ngoài ra, sẽ

đầu tư xây lắp hai nhà máy chế biến cà phê chất lượng cao tại các tỉnh Bình

Dương và Gia Lai, với tổng mức đầu tư dự kiến khoảng 108 tỷ đồng, nhằm

tạo điều kiện để Vinacafe chủ động thu mua, chế biến, tiêu thụ và gia tăng giá

trị cà phê xuất khẩu qua chế biến chất lượng cao, tiến tới thực hiện vai trò

định hướng thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Năm 2008, Vinacafé

Biên Hoà xuất khẩu các sản phẩm cà phê đạt kim ngạch hơn 80 triệu đồng.

Sản lượng chế biến trong năm 2008 hơn 12 nghìn tấn, đã đạt 100% cơng suất

của nhà máy, trong đó 40 - 50% sản lượng cà phê hoà tan và 20% sản lượng

cà phê sữa được xuất khẩu, còn lại tiêu thụ trong nước.



Bảng 2.1: Tình hình sản xuất và kinh doanh Vinacafe Biên hòa



Chỉ tiêu

Năm 2007

Năm 2008

Quý

1/2009

Kế hoạch

năm 2009



Trong đó



Sản lượng



Sản lượng



sản xuất cà



tiêu thụ cà



phê các loại



phê các loại



10.721

12.777



(tấn)

10.809

12.439



1.273

1.372



2.658



2.748



178



sản lượng



Tổng



cà phê



doanh thu



xuất khẩu



Trong đó

doanh thu

xuất khẩu



(triệu đồng)

619.649

68.311

863.396

80.234

215.550



11.463



1.019.20

13.420



13.420



1.182



2



67.522



Nguồn: Báo cáo sản xuất kinh doanh cty Vinacafe Biên hòa

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



30



Khóa luận tốt nghiệp



31



Như vậy ta có thể thấy nổi bật hơn cả trong thị trường cà phê chế biến ở

Việt Nam đó là các sản phẩm của Vinacafé và Trung Nguyên, những doanh

nghiệp thuần Việt tiên phong trong việc sản xuất và chế biến cà phê. Ngoài ra

cũng phải kể tới nhãn hiệu Cafe Moment của Vinamilk và Nescafé của Nestlé

hiện chiếm thị phần khá lớn trong nước với nhiều các sản phẩm như Cafe

Moment hay “cà phê Việt” - loại cà phê đen hòa tan khơng đường của

Nescafé rất được ưu chuộng…cũng góp phần đưa tên tuổi của cà phê Việt

Nam tới người tiêu dùng ở các thị trường trên thế giới.

2.1.3.2. Quá trình sản xuất và chế biến

Cà phê quả tươi sau khi thu hoạch qua quá trình sơ chế sẽ cho ta cà phê

nhân. Ở Việt Nam chế biến cà phê nhân thường theo hai phương pháp đó là

chế biến theo phương pháp ướt và phương pháp chế biến khô. Phương pháp

chế biến ướt bao gồm các công đoạn thu lượm quả tươi đem lọc và rửa sơ bộ

để loại bỏ đất, que, lá cây, đá... sau đó đến xát vỏ để loại bỏ vỏ rồi đến đánh

nhớt, sau đó lên men ngâm rửa rồi đem phơi khơ. Phương pháp chế biến khô

là cà phê tươi để phơi khô không cần qua khâu sát tươi.

Từ cà phê nhân qua q trình chế biến cơng nghiệp sẽ cho ta các sản

phẩm cà phê tinh chế như là cà phê rang xay pha phin (cà phê bột) hay các sản

phẩm cà phê hoà tan, cà phê sữa... Hiện nay cà phê hòa tan được chế biến theo

hai phương pháp: sấy phun và sấy đông lạnh. Các chất tan của hạt cà phê được

cơ đặc và sản phẩm có dạng các bóng hơi nhỏ li ti hoặc các hạt, mảnh nhỏ.

Phương pháp sấy đông lạnh: Ở phương pháp này, nước trong cà phê

bốc hơi để lại một dung dịch có nồng độ cà phê cao. Sau đó dung dịch này

được làm lạnh đến -40*C, tạo ra các tinh thể đá. Nhờ quá trình thăng hoa

(chất rắn chuyển sang dạng hơi), đá được tách ra khỏi tinh thể. Phần hạt khơ

còn lại chính là cà phê hòa tan. Mặc dù phương pháp này khá tốn thời gian,

nhưng nó có khả năng giữ lại mùi vị của cà phê tốt hơn nhiều so với phương

pháp sấy phun.

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



31



Khóa luận tốt nghiệp



32



Phương pháp sấy phun: Sau quá trình bốc hơi tự nhiên, dung dịch cà phê

đậm đặc được phun từ một tháp cao vào buồng chứa khơng khí nóng. Sự lưu

thơng khí nóng trong buồng này tách nước ra khỏi dung dịch và để lại bột cà

phê khô. Phương pháp này đơn giản hơn rất nhiều so với phương pháp sấy

đông lạnh. Tuy nhiên nhiệt độ quá cao lại làm cho hương vị cà phê bị mất đi

nhiều hơn.

Chất lượng cà phê hòa tan được thể hiện một phần ở tính hòa tan. Nếu

cà phê hòa tan bị lắng cặn khi pha là cà phê chất lượng kém (chưa kể đến các

yếu tố cảm quan khác như hương, vị...).

2.2. Thực trạng năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên

thị trường Hoa Kỳ

2.2.1. Khái quát về tình hình tiêu thụ cà phê chế biến của Hoa Kỳ

Trong những năm qua, Hoa Kỳ ln thể hiện mình là nước tiêu thụ cà

phê vào cỡ lớn nhất thế giới, một thị trường rộng lớn và đầy tiềm năng cho

mọi quốc gia xuất khẩu cà phê trên thế giới.

Vào năm 1999, ở Hoa Kỳ có khoảng 108 triệu khách hàng tiêu dùng cà

phê. Và tính trung bình thì hàng năm mỗi khách hàng tiêu tốn 164,71 đơla cho

sở thích uống cà phê của mình. Năm 2000, theo hiệp hội cà phê trung ương

của Hoa Kỳ (The National Coffee Association) thì có tới 54% dân số Mỹ (trên

18 tuổi) uống cà phê thường xuyên hàng ngày và 25% thì thỉnh thoảng dùng

nó. Lượng tiêu thụ cà phê trung bình của Hoa Kỳ tính theo đầu người khoảng

4,3kg/người. Và tính theo cốc thì trung bình đàn ơng uống 1,9 cốc/ngày trong

khi phụ nữ thì sử dụng ít hơn với 1,4 cốc/ngày.

Theo số liệu một cuộc điều tra gần đây cho thấy cà phê thực sự là một

thứ đồ uống thông dụng đối với đa số người dân Hoa Kỳ. Cà phê xuất hiện

trong gia đình, trường học, nơi cơng sở…và trở thành một thứ đồ uống thông

dụng không thể thiếu với nhiều người dân Hoa Kỳ.

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



32



Khóa luận tốt nghiệp



33



Bảng 2.2: Điều tra về mức độ quan tâm

của người dân Hoa Kỳ đối với các sản phẩm cà phê

Câu hỏi



Số người

được hỏi



Bạn thường sử dụng loại



571



đồ uống nào sau đây?



Câu trả lời



Số người trả lời



cà phê



182



chè



173



không sử dụng cả

cà phê và chè



Với cà phê bạn thường sử



320



dụng mấy cốc một ngày?



Bạn có sử dụng cà phê

như một thứ uống bắt



300



buộc vào mỗi buổi sáng?

Loại cà phê nào thường

được bạn sử dụng?



Bạn thường sử dụng cà

phê với…



358



448



59



1-2



104



3-4



68



4-5



32



>6



2







89

91



Khơng

Cà phê pha phin

Cà phê mocha

Cà phê Espresso

Cà phê uống liền

Những loại khác

Khơng thêm gì cả

Đường

Kem sữa

Cả đường và kem

Kem sữa



85

10

36

58

10

77

24

38

29

13



đã đánh bọt

Nguồn: www.cafeviet.com

Nhu cầu tiêu thụ cà phê của Hoa Kỳ ngày càng tăng, cà phê trở thành

thứ đồ uống thường xuyên hàng ngày của đa số người dân Mỹ. Năm 2002, đã

lên tới 150 triệu người và đến năm 2003 số người uống cà phê thường xuyên

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



33



Khóa luận tốt nghiệp



34



hàng ngày tăng lên thành 77% dân số Mỹ (không kể trẻ em dưới 18 tuổi)

tương đương với khoảng 161 triệu người, tăng 1,8 triệu người so với năm

2001 (uống hàng ngày) và 10,2 triệu người (uống hàng tuần).

Theo số liệu mới nhất của Hiệp hội cà phê Hoa Kỳ thì nhu cầu tiêu thụ

cà phê của nhóm tuổi 18-24 còn tiếp tục cao hơn nữa. Năm 2008 họ uống

trung bình 3,2 cốc/ ngày so với năm 2007 là 3,1 cốc/ ngày và cao hơn hẳn so

với năm 2005 chỉ có 2,5 cốc/ngày. Điều này cho thấy nhu cầu ngày càng cao

của nhóm dân số trẻ Hoa Kỳ, họ không chỉ dùng cà phê trong các buổi tiệc

vui chơi, trong các bữa ăn gia đình mà cà phê uống liền còn chủ yếu được sử

dụng trong các công sở. Điều này phù hợp với Mỹ, một đất nước công nghiệp

phát triển hàng đầu trên thế giới.

Như vậy có thể thấy đây thực sự là một thị trường lớn mà Việt Nam cần

khai thác để cà phê Việt có thể tìm được chỗ đứng và phát triển. Tuy nhiên

thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ thì các sản phẩm cà phê chế biến của Việt

Nam sẽ phải đương đầu với sự cạnh tranh khắc nghiệt từ vơ số các đối thủ

cạnh tranh lớn nhỏ. Chính vì vậy dù có những sự khác biệt đặc thù của từng

doanh nghiệp nhưng bản thân các doanh nghiệp sản xuất và chế biến cà phê

của Việt Nam cần thiết phải hiểu được những nhân tố ảnh hưởng và tác động

tới khả năng cạnh tranh của cà phê Việt Nam để từ đó có thể tìm ra những giải

pháp hợp lý nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho cà phê chế biến khi xuất

khẩu sang Hoa Kỳ.

2.2.2. Các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến

Việt Nam ở thị trường Hoa Kỳ

2.2.1.1. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô:

 Các yếu tố kinh tế

Cà phê là thứ đồ uống hấp dẫn và hữu ích và cho đến ngày nay khơng

ai còn phủ nhận công dụng và sự nổi tiếng của loại đồ uống này. Cà phê giúp

con người tỉnh táo và minh mẫn hơn, nó được sử dụng ở mọi nơi và trong mọi

hoạt động, ở nhà, ở công sở hay nơi vui chơi…Nó cũng được coi như một món

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



34



Khóa luận tốt nghiệp



35



tráng miệng, một bữa ăn phụ của người dân nhiều nước trên thế giới. Cà phê dần

trở thành một thứ đồ uống không thể thiếu đối với nhiều người. Nhu cầu đó

khơng bị tác động suy giảm quá nhiều khi nền kinh tế gặp khó khăn và càng tăng

cao khi nền kinh tế tăng trưởng, thu nhập của người dân được cải thiện.

Trong những năm qua nền kinh tế Việt Nam có những sự tăng trưởng

mạnh mẽ. Ta có thể thấy được điều này qua sự tăng trưởng không ngừng về

tổng sản phẩm trong nước (GDP) hay mức tiêu dùng cuối cùng của người dân

(C). GDP năm sau luôn được cải thiện cao hơn năm trước (kể cả GDP tính

theo giá thực tế hay tính theo giá so sánh). Và theo đó tốc độ tăng GDP hàng

năm cũng tăng và trong những năm qua vẫn được giữ ổn định ở mức trên 8%.

Chính nhờ vậy mà thu nhập của người dân cũng cao hơn và khiến người dân

có khả năng chi tiêu nhiều hơn dẫn đến tiêu dùng cuối cùng cho các sản phẩm

hàng hóa dịch vụ cũng cao hơn.

Tổng sản phẩm trong nước năm 2007 đạt 1.144.015 tỷ đồng tăng

169749 tỷ so với năm 2006, tương đương với mức tăng 8,48%. Tiêu dùng

cuối cùng năm 2007 tăng 135.405 tỷ đồng so với năm 2006 và đạt mức

811.321 tỷ đồng, chiếm 70,92 % của GDP.

Cà phê vốn đã trở thành một thứ đồ uống không thể thiếu với nhiều

người dân trên thế giới. Công dụng và tính hữu ích của cà phê cũng đã được

khẳng định. Và nền kinh tế tăng trưởng là một cơ hội để người tiêu dùng

nhiều hơn các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ nói chung và các sản phẩm cà

phê chế biến nói riêng.



Bảng 2.3: Một số chỉ tiêu kinh tế cơ bản của Việt Nam

giai đoạn 2000-2007

GDP theo



GDP theo



Sinh viên: Phạm Minh Đức



Tốc độ



Tiêu dùng



Tiêu



Lớp: KTPT 47B



35



Khóa luận tốt nghiệp



36



Năm



giá thực tế giá so sánh



2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007



(tỷ đồng)

441.646

481.295

535.762

613.443

715.307

839.211

974.266

1.144.015



(tỷ đồng)

273.666

292.535

313.247

336.242

362.435

393.031

425.373

461.443



tăng GDP

(%)

6,79

6,89

7,08

7,34

7,79

8,44

8,23

8,48



cuối cùng



dùng cuối



(tỷ đồng) cùng/GDP (%)

321.853

72,87

342.607

71,18

382.137

71,33

445.221

72,58

511.221

71,47

584.793

69,68

675.916

69,38

811.321

70,92

Nguồn: Tổng cục thống kê



Trong những năm qua nền kinh tế phát triển đã giúp cho thu nhập của

người dân Việt Nam được cải thiện từ đó dẫn đến khả năng tiêu dùng cho

hàng hóa dịch vụ cao hơn, trong đó khơng thể khơng kể tới các sản phẩm cà

phê đặc biệt là cà phê hòa tan vốn được ưa chuộng trong cuộc sống công

nghiệp phát triển như hiện nay. Doanh nghiệp có nhiều hơn khả năng tiếp cận

với người tiêu dùng trong nước khai thác nhiều hơn thị trường nội địa để từ

đó có thể vươn xa hơn ra các thị trường nước ngoài đặc biệt là thị trường Hoa

Kỳ rộng lớn nhiều tiềm năng. Bên cạnh đó, nền kinh tế phát triển các doanh

nghiệp sản xuất và chế biến cà phê cũng có nhiều cơ hội hơn cho việc đầu tư

trang thiết bị cũng như mở rộng sản xuất từ đó gián tiếp dẫn tới khả năng

nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm.

 Các yếu tố chính trị, pháp luật

Trong những năm qua, Việt Nam với một mơi trường chính trị ổn định

cùng những chính sách hợp lý, cơ sở pháp lý thuận lợi từ phía Chính phủ và

hiệp hội cà phê Việt Nam đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho các doanh

nghiệp sản xuất và chế biến cà phê cho xuất khẩu.

Chiến lược của nhà nước ta trong giai đoạn 2003- 2010 là phát triển

các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong đó cà phê là

một trong những mặt hàng giữ vị trí hàng đầu. Việt Nam với chính sách là

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



36



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

TRÊN THỊ TRƯỜNG HOA KỲ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×