Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm, người ta có thể sử dụng rất nhiều những tiêu chí khác nhau nhưng ta có thể kể tới một số những chỉ tiêu quen thuộc như sau:

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm, người ta có thể sử dụng rất nhiều những tiêu chí khác nhau nhưng ta có thể kể tới một số những chỉ tiêu quen thuộc như sau:

Tải bản đầy đủ - 0trang

Khóa luận tốt nghiệp



14



có mang lại được hiệu quả hay khơng ta phải xét đến những chi phí đã hình

thành nên doanh thu đó. Nếu doanh thu và chi phí để sản xuất ra sản phẩm

đều tăng lên qua các năm nhưng tốc độ tăng của doanh thu lớn hơn tốc độ

tăng của chi phí tức tồn tại khả năng duy trì và tăng thêm về lợi nhuận thì hoạt

động sản xuất và kinh doanh vẫn được đánh giá là tốt, doanh nghiệp đã biết

phân bổ và sử dụng hợp lý yếu tố chi phí, bởi một phần chi phí tăng thêm đó

được doanh nghiệp mở rộng quy mơ kinh doanh, đầu tư mua sắm trang thiết

bị và xây dựng cơ sở hạ tầng…Một sản phẩm có khả năng tăng cao và duy trì

doanh thu, lợi nhuận thì đồng nghĩa năng lực cạnh tranh của sản phẩm đó cao

hơn và ngược lại. Đây là một trong những chỉ tiêu cơ bản nhất để đánh giá

năng lực cạnh tranh khi sản phẩm tham gia trên thị trường.

1.1.4.2. Thị phần

Thể hiện ở khả năng chiếm lĩnh và ngày càng tăng thị phần của sản

phẩm. Nó chứng tỏ mức độ đáp ứng nhu cầu khách hàng của sản phẩm.

Những sản phẩm có thị phhần càng lớn và khả năng ngày càng tăng thị phần

trong tương lai thì khả năng cạnh tranh của sản phẩm đó càng lớn và ngược

lại. Thị phần càng lớn cho thấy mức độ tín nhiệm của người tiêu dùng đối với

sản phẩm đó, đồng thời phản ánh được năng lực cạnh tranh cao của sản phẩm

đó trên thị trường.

Thị phần có thể được hiểu là phần trăm thị trường tính theo doanh số

mà doanh nghiệp thu được hoặc theo khối lượng sản phẩm bán ra trên thị

trường. Nghĩa là thị phần của sản phẩm phản ánh sản phẩm đó chiếm bao

nhiêu phần trăm thị trường.

Người ta thường xem xét các loại thị phần sau:

- Thị phần của sản phẩm của doanh nghiệp so với toàn bộ thị trường

sản phẩm: đó chính là tỷ lệ % giữa doanh thu sản phẩm của doanh nghiệp so

với doanh số của toàn ngành.

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



14



Khóa luận tốt nghiệp



15



- Thị phần của sản phẩm của doanh nghiệp so với phân khúc mà nó

phục vụ: đó là tỷ lệ % giữa doanh thu sản phẩm của doanh nghiệp so với

doanh thu của toàn khúc thị trường sản phẩm.

- Thị phần tương đối: đó là tỷ lệ so sánh về doanh thu sản phẩm của

doanh nghiệp so với doanh thu sản phẩm của đối thủ cạnh tranh mạnh nhất

trên thị trường sản phẩm đó.

Doanh thu (lượng bán) sản phẩm của doanh nghiệp

Thị phần =



(%)

Tổng doanh thu (lượng bán) sản phẩm trên thị trường



Chỉ tiêu thị phần cũng là một trong những chỉ tiêu cơ bản, nó thường đi

liền với chỉ tiêu doanh thu bán hàng của sản phẩm, dịch vụ.

Thông qua sự biến động của các chỉ tiêu này ta có thể biết được vị thế

của sản phẩm trong cạnh tranh trên thị trường như thế nào. Doanh nghiệp sản

xuất sản phẩm cũng sẽ biết mình đang đứng ở vị trí nào để từ đó có thể vạch

ra chiến lược hành động cho hợp lý.

1.1.4.3. Chất lượng

Chất lượng sản phẩm được hình thành từ khâu thiết kế tới tổ chức sản

xuất, tiêu thụ và sau tiêu thụ sản phẩm, nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố

như công nghệ, dây chuyền sản xuất, nguyên nhiên liệu làm yếu tố đầu vào,

trình độ sản xuất, cơ sở vật chất… chất lượng sản phẩm không chỉ thể hiện ở

việc đảm bảo các thông số kĩ thuật mà còn thể hiện ở việc phù hợp và đáp ứng

tốt mọi nhu cầu của khách hàng, đem lại cho khách hàng độ thỏa mãn cao hơn

so với các đối thủ cạnh tranh. Đây là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu để đánh giá

năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

Khi hội nhập kinh tế quốc tế diễn ra, để nâng cao sức cạnh tranh của

sản phẩm thì yếu tố chất lượng sản phẩm đóng góp quan trọng cho sự tồn tại

của sản phẩm trên thị trường. Sản phẩm đó khơng chỉ đạt tiêu chuẩn chất



Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



15



Khóa luận tốt nghiệp



16



lượng quốc gia mà phải đạt tiêu chuẩn quốc tế. Khi đó, chất lượng sản phẩm

nói lên năng lực cạnh tranh của sản phẩm cao hay thấp.

Một sản phẩm có chất lượng cao ngồi việc đảm bảo các tiêu chuẩn

chất lượng thì cần có thêm những chất lượng vượt trội khác so với các đối thủ

cạnh tranh như chất lượng các nguyên liệu đầu vào thể hiện ở ưu thế về tài

nguyên thiên nhiên, đất đai, khí hậu…

Chất lượng sản phẩm chính là một khái niệm tổng hợp của rất nhiều

tiêu chí, nó là sự kết hợp hài hồ của năng suất sản lượng, trình độ công nghệ,

các chỉ tiêu cảm quan, mức độ an toàn của sản phẩm, các biện pháp bảo vệ

thực vật, thuỷ lợi, trình độ quản lý và cuối cùng là thị hiếu, nhu cầu tiêu thụ.

Do đó, để đánh giá được yếu tố chất lượng sản phẩm có ảnh hưởng đến khả

năng cạnh tranh của sản phẩm đó như thế nào thơng qua đánh giá định tính và

định lượng nhưng thơng thường thì biện pháp định tính sẽ được áp dụng qua

đánh giá về độ thỏa mãn nà sản phẩm đem lại cho khách hàng.

1.1.4.4. Chi phí sản xuất và giá cả của sản phẩm

Đây là chỉ tiêu định lượng mà ta có thể dễ dàng nhận thấy nhất.

Chi phí sản xuất của sản phẩm là giá trị của tất cả các yếu tố đầu vào

hình thành nên sản phẩm như: nguyên vật liệu, nhân công, công nghệ sản

xuất...Tổng hợp chi phí sản xuất sẽ có giá thành của sản phẩm, qua giá thành

sẽ xác định được giá bán trên thị trường. Do vậy, muốn có giá bán sản phẩm

thấp thì doanh nghiệp phải tìm giảm chi phí sản xuất tức là phải tận dụng hợp

lý các nguồn lực sẵn có như tài nguyên phong phú nguồn nhân lực dồi dào,

đồng thời đổi mới thiết bị và công nghệ sản xuất, nâng cao hiệu quả quản

lý...có như vậy mới hạ được giá thành sản xuất và nâng cao sức cạnh tranh

của sản phẩm hàng hố.

Chi phí sản xuất thấp thì giá bán sản phẩm sẽ thấp hơn, sản phẩm có

sức cạnh tranh tốt hơn các sản phẩm khác khi phải cạnh tranh về giá. Khi đó,

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



16



Khóa luận tốt nghiệp



17



sản phẩm được người tiêu dùng lựa chọn nhiều hơn, chỗ đứng của sản phẩm

một phần được khẳng định. Điều này đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế thị

trường có sự cạnh tranh lớn như hiện nay thì khách hàng có quyền lựa chọn

cho mình những sản phẩm tốt nhất và nếu cùng một mặt hàng sản phẩm, cùng

chất lượng, kiểu dáng mẫu mã thì tất nhiên sản phẩm nào được bán với giá

thấp hơn thì sẽ được khách hàng lựa chọn. Vì vậy giá cả là công cụ cạnh tranh

hữu hiệu trên thị trường.

Để chiếm ưu thế trong cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải có sụ lựa

chọn các chính sách giá thích hợp cho từng loại sản phẩm ở từng giai đoạn

trong chu kỳ sống của sản phẩm hay tuỳ thuộc vào đặc điểm của từng vùng

thị trường. Có thể đó là chiến lược của từng doanh nghiệp để thu hút khách

hàng và tất nhiên khả năng cạnh tranh của sản phẩm nhờ đó sẽ cao hơn.

1.1.4.5. Mức độ hấp dẫn của sản phẩm

Là các đặc điểm bên ngoài dễ dàng nhận thấy của sản phẩm như mẫu

mã, màu sắc, kiểu dáng…đây cũng là một yếu tố không thể thiếu tạo nên sức

cạnh tranh cho sản phẩm. Khơng tính đến các sản phẩm có thương hiệu đã

được người tiêu dùng biết đến thì giữa vơ vàn sản phẩm thì những sản phẩm

có mẫu mã, màu sắc, kiểu dáng đẹp mắt sẽ thu hút được sự chú ý của khách

hàng ngay tức khắc cho dù họ chưa biết sản phẩm như thế nào, chất lượng ra

sao. Mặc dù đây chỉ là những chỉ tiêu định tính nhưng cũng là chỉ tiêu quan

trọng mà mỗi sản phẩm cần chú ý.

1.1.4.6. Thương hiệu của sản phẩm

Đây là yếu tố quan trọng mà các sản phẩm cần hướng tới. Chỉ tiêu này

khó định lượng tuy nhiên là yếu tố quan trọng để tạo nên sự khác nhau về khả

năng cạnh tranh của sản phẩm. Thương hiệu, uy tín của sản phẩm được hình

thành dựa trên chất lượng, giá trị sử dụng của sản phẩm, các dịch vụ bán hàng

và sau bán hàng, thời gian giao hàng, quy mô của doanh nghiệp...

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



17



Khóa luận tốt nghiệp



18



Hiện nay vấn đề thương hiệu đã được chú trọng hơn trước rất nhiều, có

nhiều ý kiến cho rằng thương hiệu là nhân tố quan trọng thứ hai chỉ sau chất

lượng, xếp trước yếu tố giá trong việc tạo nên thành công trong khả năng cạnh

tranh của sản phẩm. Những sản phẩm nổi tiếng có thương hiệu mạnh sẽ có

chiếm được uy tín và lòng tin từ phía khách hàng. Do đó khi sản phẩm đưa ra

thị trường có thể nhanh chóng thu hút được người tiêu dùng. Khách hàng khi

đó sẽ biết đến, tin tưởng và trung thành với sản phẩm hơn và sản phẩm tất

nhiên sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn.

1.1.4.7. Một số chỉ tiêu khác

Ngồi những tiêu chí quen thuộc như trên thì để đánh giá năng lực cạnh

tranh của sản phẩm người ta còn sử dụng một số chỉ tiêu khác như các kênh

phân phối, dịch vụ sau bán hàng, các hoạt động marketing, quảng cáo, khuyến

mại hỗ trợ đầu ra tiêu thụ sản phẩm, môi trường kinh doanh, môi trường pháp

lý…Đây cũng là những yếu tố vơ cùng quan trọng góp phần nâng cao năng

lực cạnh tranh cho sản phẩm.

Hệ thống phân phối: giải quyết vấn đề hàng hoá dịch vụ được đưa đến

người tiêu dùng như thế nào. Các doanh nghiệp tổ chức và quản lý hoạt động

phân phối thông qua các hệ thống kênh phân phối (con đường mà hàng hố

được lưu thơng từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng). Để hoạt động tiêu thụ sản

phẩm được diễn ra thông suốt, thường xuyên và đầy đủ doanh nghiệp cần phải

lựa chọn các kênh phân phối, nghiên cứu các đặc trưng của thị trường, của

khách hàng. Từ đó có các chính sách phân phối sản phẩm hợp lý, hiệu quả, đáp

ứng nhu cầu của khách hàng. Chính sách phân phối sản phẩm hợp lý sẽ giúp

tăng nhanh vòng quay của vốn, thúc đẩy tiêu thụ, tăng khả năng cạnh tranh của

sản phẩm.

Các hoạt động hỗ trợ đầu ra tiêu thụ sản phẩm: là những yếu tố quan

trọng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho sản phẩm. Việc lựa chọn thị

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



18



Khóa luận tốt nghiệp



19



trường tiêu thụ tốt kết hợp với các chính sách marketing, quảng cáo, khuyến

mại…hợp lý chắc chắn sẽ đem lại những ưu thế rõ nét cho sản phẩm. sản

phẩm được sản xuất ra cần thiết phải có những hoạt động này thì mới có thể

đến được với tay người tiêu dùng.

Các dịch vụ kèm theo: Trong hoạt động sản xuất kinh doanh mang tính

cạnh tranh cao như hiện nay, vai trò của các dịch vụ kèm theo hàng hố ngày

càng quan trọng. Nó bao gồm các hoạt động trong và sau bán hàng như vận

chuyển, bao gói, lắp đặt, bảo dưỡng, bảo hành, tư vấn... Cải tiến dịch vụ cũng

chính là nâng cao chất lượng hàng hoá sản phẩm. Do đó phát triển hoạt động

dịch vụ là rất cần thiết, nó đáp ứng mục tiêu phục vụ khách hàng tốt hơn, tạo

ra sự tín nhiệm, sự gắn bó của khách hàng đối với doanh nghiệp đồng thời giữ

gìn uy tín của doanh nghiệp. Từ đó sản phẩm có thể thu hút được khách hàng,

tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường.

1.1.5. Phương pháp đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm

- Đánh giá qua phương pháp chuyên gia: Để đánh giá năng lực cạnh

tranh của sản phẩm ta có thể sử dụng phương pháp chuyên gia (đo lường và

đánh giá cho điểm). Trên cơ sở các tiêu chí, các chuyên gia đánh giá khả năng

cạnh tranh của từng tiêu chí trên thị trường để cho điểm dựa vào tầm quan

trọng của mỗi chỉ tiêu xác định trọng số cho nó với tổng trọng số bằng 1. Từ

đó ta có thể tổng hợp, tính được điểm trung bình và xác định được vị trí cạnh

tranh của sản phẩm trên thị trường.

- Một cách làm đơn giản hơn là vẫn sử dụng các chỉ tiêu trên nhưng ta có

thể đánh giá trực tiếp năng lực cạnh tranh theo từng tiêu chí. Dựa vào những

tiêu chí cụ thể như doanh thu, thị phần, giá cả…mà ta có thể đánh giá được

khả năng cạnh tranh của sản phẩm so với các đối thủ khác trên thị trường.

Và khóa luận cũng sẽ sử dụng phương pháp này để phân tích thực trạng

năng lực cạnh tranh của các sản phẩm cà phê chế biến Việt Nam xuất khẩu

trên thị trường Hoa Kỳ ở chương II.

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



19



Khóa luận tốt nghiệp



20



1.2. Kinh nghiệm nâng cao năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến xuất

khẩu của một số nước trên thế giới

1.2.1.Braxin

Braxin được xem là cường quốc xuất khẩu cà phê nhân lớn nhất thế

giới và Braxin đặc biệt nổi tiếng với việc sản xuất cà phê Arabica do điều kiện

thổ nhưỡng, khí hậu…Khơng những chú trọng vào việc đảm bảo cà phê nhân

xuất khẩu để giữ vững vị thế số một trên thị trường thế giới mà Braxin cũng

có những định hướng và chính sách của riêng mình cho việc tập trung cà phê

nhân vào việc chế biến không chỉ nhằm phục vụ thị trường nội địa trong nước

mà còn nhằm mục tiêu xa hơn đó là xuất khẩu. Braxin chú trọng tới chất

lượng của cà phê chế biến ngay từ khâu trồng trọt, thu hoạch… chất lượng

được đảm bảo ngay từ nguyên vật liệu đầu vào. Bởi ngoài những hương vị

vốn có nhờ vào những ưu thế về điều kiện tự nhiên thì chất lượng cà phê nhân

có tốt thì cà phê chế biến sau này mới có chất lượng cao. Thêm vào đó là việc

đầu tư, đổi mới dây chuyền sản xuất chế biến cà phê theo hướng chuyên đại

hóa và chun mơn hóa.

Ta có thể khái qt kinh nghiệm về tổ chức sản xuất, chế biến cà phê

của Braxin qua một số điển nhấn chính sau:

- Ngành cà phê của Braxin đã được nhiều chuyên gia khái quát bằng 6

chữ “Truyền thống – chất lượng – hiện đại”. Cà phê Braxin được sản xuất tại

các nông trường lớn chuyên canh, áp dụng kĩ thuật sản xuất tiên tiến và công

nghệ chế biến hiện đại đảm bảo cả về số lượng và chất lượng nguồn nguyên

liệu đầu vào cho quá trình chế biến cà phê. Việc sản xuất tại các nông trường

lớn chuyên canh không những đem lại những thuận lợi về quy mô, năng

suất… mà Braxin cũng sẽ điều kiện áp dụng các kĩ thuật mới về giống cây

trồng, phân bón, chăm sóc, thu hoạch…hay các cơng nghệ tiên tiến hiện đại.

Chủng loại cà phê được nghiên cứu và áp dụng những loại mới chất lượng

cao như cà phê hảo hạng, cà phê hữu cơ…

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



20



Khóa luận tốt nghiệp



21



- Chính phủ có các chương trình tín dụng hỗ trợ cho các doanh nghiệp

sản xuất, xuất khẩu cà phê rang xay sang cà phê hòa tan, tài trợ 50% chi chí

nghiên cứu và phát triển các sản phẩm cà phê chế biến cho các nhà sản xuất

và xuất khẩu cà phê chế biến.

- Chính phủ Braxin định hướng trong dài hạn ngành cà phê của mình đi

theo hướng xuất khẩu cà phê chế biến do đó đã và đang có những kế hoạch hỗ

trợ các nhà máy chế biến mới cho hướng xuất khẩu cà phê hòa tan. Hiệp hội các

nhà rang xay cà phê Brazil (ABIC) và Cục Xúc tiến Thương mại và Đầu tư

Brazil (APEX) mới đây đã bắt đầu chương trình hành động mới cụ thể của giai

đoạn 2009-2010 nhằm xúc tiến việc xuất khẩu cà phê rang xay của Brazil.

Với tổng số vốn đầu tư lên đến 10,1 triệu USD, kế hoạch này sẽ sử

dụng các chiến lược mới hướng đến các nước xuất khẩu chính của cà phê

Brazil như Chile, Panama, Thổ Nhĩ Kỳ, Singapore.

Kế hoạch hành động mới bao gồm sự hợp tác với các hiệp hội ‘chefs de

cuisine’ và việc hình thành một Tổ cơng tác cà phê Barista Brazil. Nhóm cơng

tác này sẽ chịu trách nhiệm đi ra nước ngoài và quảng bá thương hiệu cà phê

Brazil: “Cafés do Brasil”.

- Tập trung hơn nữa vào thị trường nội địa để từ đó làm bàn đạp cho

việc xuất khẩu các sản phẩm cà phê chế biến. Hiện nay thì Braxin là nước tiêu

thụ cà phê vào dạng lớn nhất thế giới, với trung bình hàng năm khoảng 4,9

kg/người. Như vậy việc chủ động trong việc sản xuất và chế biến không những

giúp Braxin đáp ứng tốt nhu cầu trong nước mà còn khích thích xuất khẩu.

1.2.2. Indonexia

Nhờ có lực lượng lao động dồi dào, điều kiện tự nhiên thuận lợi và chính

sách hướng về xuất khẩu hợp lý mà Indonexia cũng đã trở thành một trong

những nước xuất khẩu cà phê lớn nhất thế giới và đặc biệt là xuất khẩu cà phê

Robusta.

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



21



Khóa luận tốt nghiệp



22



Về kinh nghiệm về tổ chức sản xuất, chế biến cà phê xuất khẩu của

Indonexia ta có thể thấy một số điểm cơ bản sau:

- Có các chính sách nhằm tăng cường giám sát chất lượng, đầu tư máy

móc thiết bị…Cũng như Braxin, Indonexia chú trọng tới chất lượng của cà phê

chế biến ngay từ khâu trồng trọt, thu hoạch… chất lượng được đảm bảo ngay

từ nguyên vật liệu đầu vào. Trước đây cà phê nhân của Indonexia có chất lượng

thấp, thường phơi chưa đến độ khơ cần thiết và có tạp chất. Tuy nhiên

Indonexia đã có những giải pháp hữu hiệu để giảm tỷ lệ các hạt cà phê ẩm, mốc

nâng cao chất lượng cà phê nhân đảm bảo cho việc chế biến, đồng thời đầu tư

máy móc thiết bị thu gom, sản xuất, chế biến…để nâng cao năng suất và chất

lượng sản phẩm.

- Không chỉ chú trọng trong sản xuất chế biến cà phê mà Indonexia còn

chú trọng tới cả lĩnh vực lưu thơng cho sản phẩm như việc cải tiến tiếp thị,

nghiên cứu thị trường Hoa Kỳ cũng như các thị trường khác, tìm hiểu về các

đối thủ cạnh tranh hiện tại về cà phê hòa tan.

1.2.3. Bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Từ thực tiễn và kinh nghiệm tổ chức sản xuất chế biến cà phê xuất khẩu

của một số nước như Braxin, Indonexia, chúng ta có thể rút ra một số những

bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam trong việc xuất khẩu các sản phẩm cà

phê chế biến của mình sang các thị trường khác trên thế giới đặc biệt là thị

trường Hoa Kỳ, một thị trường có mức tiêu thụ cà phê lớn nhất thế giới chứa

đựng đầy tiềm năng và cơ hội phát triển:

Thứ nhất, các doanh nghiệp cần chủ động, tăng cường giám sát đảm bảo

số lượng và chất lượng đầu vào. Chú trọng từ những hoạt động đầu của quá

trình sản xuất chế biến như trồng trọt, thu hái đến chế biến để sản phẩm có chất

lượng cao đảm bảo các tiêu chuẩn về chất lượng của Hoa Kỳ. Tăng cường kiểm

tra, giám sát chất lượng sản phẩm bằng việc hướng dẫn, theo dõi thường xuyên

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



22



Khóa luận tốt nghiệp



23



người trồng cà phê, các cơ sở chế biến tuân thủ nghiêm ngặt những yêu cầu về

kĩ thuật.

Thứ hai, doanh nghiệp cần chú trọng tới việc đầu tư đổi mới trang thiết bị

máy móc kĩ thuật. Đổi mới theo hướng áp dụng nhiều những công nghệ chế biến

hiện đại đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm của quốc gia, quốc tế. Cần

thiết phải chủ động trong công nghệ máy móc sản xuất chế biến nhằm tránh tình

trạng phụ thuộc nước ngoài và định hướng xa hơn cho việc xuất khẩu.

Thứ ba, bản thân doanh nghiệp cần có những nghiên cứu cần thiết về

thị trường xuất khẩu và các đối thủ cạnh tranh lớn, tiềm ẩn. Thị trường Hoa

Kỳ là một thị trường lớn đầy tiềm năng nhưng là một môi trường cạnh tranh

khắc nghiệt với nhiều đối thủ cạnh tranh lớn, khơng thiếu những khó khăn

thách thức thậm chí rủi ro nên cần có những nghiên cứu cụ thể để có những

chính sách hợp lý khi xuất khẩu hợp lý sang thị trường này.

Bên cạnh đó, cần thiết phải chú trọng tới cả các hoạt động phía sau của

quá trình sản xuất chế biến như đảm bảo đầu ra của sản phẩm: lưu thông,

quảng cáo tiếp thị, dich vụ sau bán hàng…Hơn nữa, tập trung hơn khai thác

mạnh vào thị trường trong nước để từ đó tạo nên bàn đạp cho việc xuất khẩu

các sản phẩm cà phê chế biến sang các thị trường nước ngồi.

Ngồi ra, chính phủ và hiệp hội cà phê Việt Nam cần có vai trò nhất

định trong việc hỗ trợ doanh nghiệp và người nơng dân. Những định hướng,

chính sách hợp lý cùng với hành lang pháp lý thuận lợi sẽ có tác dụng khích

thích, khuyến khích cả doanh nghiệp và người nơng dân trong việc sản xuất

chế biến cà phê nhằm mục đích xuất khẩu.

Như vậy với việc nghiên cứu kinh nghiệm trong việc nâng cao năng lực

cạnh tranh của cà phê chế biến xuất khẩu của hai cường quốc lớn trên thế giới

là Braxin và Indonexia, ta có thể rút ra được những điểm đáng chú ý lớn. Tuy

nhiên, những kinh nghiệm đó được học hỏi và sử dụng đến đâu cho chính Việt

Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



23



Khóa luận tốt nghiệp



24



Nam khi Việt Nam xuất khẩu các sản phẩm cà phê chế biến sang thị trường

Hoa Kỳ để nó trở thành những bài học thực sự bổ ích và có ý nghĩa thì chúng

ta cần thiết phải nắm được thực tế năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến

Việt Nam xuất khẩu trên thị trường Hoa Kỳ. Chỉ có như vậy thì ta mới có thể

áp dụng những bài học kinh nghiệm của Braxin và Indonexia một cách hiệu

quả cho Việt Nam để từ đó đưa ra những giải pháp hữu hiệu góp phần nâng

cao được năng lực cạnh tranh của cà phê chế biến Việt Nam trên thị trường

này.



Sinh viên: Phạm Minh Đức



Lớp: KTPT 47B



24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Để đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm, người ta có thể sử dụng rất nhiều những tiêu chí khác nhau nhưng ta có thể kể tới một số những chỉ tiêu quen thuộc như sau:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×