Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2/Tổng quan vấn đề nghiên cứu

2/Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Tải bản đầy đủ - 0trang

thay thế lao động nhất hàm lượng kĩ thuật tạo ra nó là cao nhất, việc thay đổi

cơng nghệ và kĩ thuật mới tốn chi phí rất cao, mà chi tiêu cho dịch vụ lại

tăng nhanh hơn tốc độ tăng thu nhập, nên số người tham gia ngành dịch vụ

sẽ tăng và tăng nhanh hơn khi đất nước càng phát triển.

Xã hội châu Âu thế kỉ XIX và đầu thế kỉ XX cũng đã trải qua thời kì

cơng nghiệp hóa và ghi nhận những biến đổi đó, và trong xã hội Việt Nam

ngày nay cũng có những biến đổi tương tự. Tỉ lệ đóng góp của ngành nơng

nghiệp ở các nước Mỹ, Nhật hiện nay chỉ ở 1-2%, ở Canada và Đức là 45%, ở các nước NICs cũng chỉ đạt 9-15%. Ngành cơng nghiệp các ngành có

số lượng lao động cao ngày càng giảm và các ngành có đầu tư vốn lớn ngày

càng tăng. Các ngành dịch vụ chất lượng cao như: tài chính, ngân hàng, bảo

hiểm, luật, giáo dục, y tế, du lịch ngày càng phát triển nhanh và đóng góp

ngày cành nhiều vào tỷ trọng kinh tế. Trong cuốn Thế giới phẳng , tác giả

Thomas Friedman, cho rằng thời đại mới là thời đại của bán cầu não phải,

bán cầu não phải thường chuyên về các ngành khoa học xã hội và nghệ thuật,

sự logic ngày càng có thể thay thế bằng máy móc còn những cảm giác thì lại

khơng thể thay thế một cách dễ dàng.

Các ngành khoa học tự nhiên từ trước đến giờ vẫn được xếp cao hơn so

với các ngành khoa học xã hội, đẳng thức, phép tính có vẻ rất khó nhằn

nhưng những vấn đề xã hội lại liên quan đến rất nhiều người vì vậy nó hồn

tồn khơng hề dễ dàng và thậm chí thì ngành khoa học xã hội còn rất rắc rối

và rất khó thay thể được bằng các phép tính. Những người giàu nhất và

quyền lực nhất thế giới lại xuất thân nhiều trong ngành khoa học xã hội chứ

không phải trong ngành khoa học tự nhiên. Những ngành khoa học xã hội

không hề phải là ngành giành cho những người kém cỏi, những ngành đó cần

đào tạo và cần nhiều nguồn đầu tư hơn nhiều so với các ngành khác. Trong

tương lai gần cơ cấu kinh tế của Việt Nam có thể sẽ chuyển dịch như các

nước phát triển đi trước.



7



Sau một khoảng thời gian dài nghiên cứu về năng lực và hiệu quả làm

việc của con người, các nhà nghiên cứu hầu như tập trung chủ yếu vào các

quá trình nhận thức như tư duy, khả năng tri giác, tưởng tượng, trí nhớ…

Nhưng những năm gần đây, khi nghiên cứu xúc cảm như một dạng trí tuệ,

nhiều nhà tâm lý học đã đặc biệt chú ý đến vai trò của niềm say mê, hứng thú

nghề của người lao động đối với hiệu quả công việc của họ. Trong một cuộc

nghiên cứu 200 hoạ sỹ 18 tuổi sau khi họ tốt nghiệp trường mỹ thuật,

Csikszentmihalyi nhận thấy rằng chỉ những sinh viên say mê vẽ mới trở

thành hoạ sỹ giỏi. Những người được kích thích bởi giấc mơ nổi tiếng hay

giàu có, phần lớn đã bỏ nghề sau khi nhận bằng tốt nghiệp. Hầu như tất cả

những người thành đạt trong sự nghiệp đều khẳng định rằng, muốn có được

thành tích thì trước hết người lao động phải say mê, hứng thú với lĩnh vực

mà họ đang làm. Các kết quả khảo sát thực tiễn cũng cho thấy, trong số

những sinh viên cảm thấy ngành đang học phù hợp với năng lực của bản

thân hoặc hứng thú với ngành học có tỷ lệ số em gắn bó với nghề cao hơn

hẳn tỷ lệ tương ứng trong số những em không hứng thú với ngành học hoặc

thấy ngành học không phù hợp với năng lực của bản thân. Sự thiếu hiểu biết

về các loại ngành nghề, về năng lực và hứng thú nghề nghiệp của bản thân

đã dẫn đến những lựa chọn sai lầm và điều đó sẽ gây lãng phí khơng chỉ cho

xã hội mà cho chính bản thân các em khi phải bỏ ra khoảng thời gian 4 năm

để học một nghề mà các em không thật sự hứng thú và rồi rất có thể sẽ rời bỏ

nghề đó sau khi tốt nghiệp.

b. Các điều tra nghiên cứu tại Việt Nam

Trong cuốn Tư vấn hướng nghiệp , tập 2 Tự hướng nghiệp và rèn luyện

kĩ năng vào đời của tác giả Quang Dương có nêu thực trạng chọn trường của

học sinh , một số lựa chọn theo cảm tính, chạy theo phong trào , “ nhắm mắt

đưa chân” ….hay một số lại bị sức ép từ gia đình tới việc chọn ngành nghề ,

từ đấy dẫn đến chọn lầm nghề , gây hậu quả nghiêm trọng đến tương lai của

các em .

8



Trong bài báo Giúp học sinh định hướng đúng nghề nghiệp đăng trên

Báo Giáo dục TP Hồ Chí Minh (14/1/2011) , đây là đề tài đạt giải nhất cuộc

thi Eureka năm 2010. Các tác giả đã chỉ ra được sự khác biệt về giới trong

việc lựa chọn ngành nghề thể hiện qua những số liệu cụ thể. Đồng thời cho

thấy thực trạng: gia đình là yếu tố tác động lớn nhất đối với HS trong việc

chọn nghề, từ đó đưa ra những kết luận chung về những vấn đề liên quan đến

việc chọn ngành nghề của HS hiện nay.

Bài Thực trạng công tác hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp trung

học cơ sở và trung học phổ thơng tại tỉnh Bình Dương hiện nay đăng trên

Tạp chí Tâm lí học số 6 ( 147) 6-2011 đưa ra những yếu tổ ảnh hưởng đến

quyết định lựa chọn nghề của học sinh , từ những yếu tố xa như phương tiện

truyền thông, các trung tâm tư vấn hướng nghiệp cho đến những người xung

quanh như gia đình , bạn bè , nhà trường …từ đấy điều tra về yếu tố ảnh

hưởng lớn nhất đến quyết định lựa chọn ngành nghề ở học sinh , từ đấy giúp

các nhà quản lí điều chỉnh khi các em hướng đến những đối tượng không

đáng tin cậy và tận dụng những yếu tố có sức ảnh hưởng lớn để tác động đến

quyết định chọn nghề của học sinh.

“Chọn ngành học: Theo xu hướng hay chọn "hàng hiếm"?” Bài từ Tủ

sách Khoa học VLOS đưa ra một số ngành học chỉ được đào tạo với số

lượng rất ít, từ đó đặt ra câu hỏi phải chăng đây là những ngành xã hội khơng

có nhu cầu hay bản thân người học chưa nhận thức được cơ hội đang có?

“ Chọn trường : ế các ngành xã hội “là bài báo nói về xu hướng chạy

đua vào các khối ngành kinh tế và thực trạng bị “tụt hạng” của khối ngành xã

hội , phân tích nguyên nhân của thực trạng ấy ,Báo Mới .vn

“ Xu hướng lựa chọn nghề nghiệp của học sinh lớp 12 THPT dưới ảnh

hưởng của nền kinh tế thị trường (Khảo sát tại tỉnh Phú Thọ) “ là một cuộc

điều tra tìm hiểu nền kinh tế thị trường có những tác động như thế nào đến

việc lựa chọn nghề của học sinh , từ đấy chỉ ra xu hướng lựa chọn ngành

nghề của học sinh 12 THPT hiện nay.

9



Các nghiên cứu trước đã chỉ ra rất nhiều yếu tố ảnh hưởng , tác động

đến hành vi lựa chọn ngành nghề trước khi tốt nghiệp THPT của học sinh ,

đưa ra xu hướng lựa chọn ngành nghề hay ý nghĩa của công tác giáo dục

hướng nghiệp trong việc định hướng cho học sinh ngành nghề phù hợp …..

Trong nghiên cứu này , em muốn bổ sung và làm rõ những yếu tố chủ quan

và khách quan ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT

hiện nay , những yếu tố ấy có mối liên hệ với nhau hay khơng , nó ảnh

hưởng như thế nào, mức độ ảnh hưởng ra sao , giải pháp khắc phục những

yếu tố tiêu cực hay phương hướng vận dụng những yếu tố ảnh hưởng tích

cực đến quyết định lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT là gì ?….Từ

đấy ta có thể có một cái nhìn sâu hơn về vấn đề này, thấy rõ được tầm quan

trọng của vấn đề lựa chọn ngành nghề của học sinh THPT, nguồn nhân lực

của đất nước .

1.3/Mục đích nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu hướng tới tìm hiểu:

-Thực trạng về xu hướng chọn ngành nghề của học sinh THPT hiện nay

(thiên về lĩnh vực khoa học tự nhiên hay khoa học xã hội)

- Các yếu tố cơ bản tác động đến việc chọn ngành của các bạn học sinh

THPT.

- Xây dựng biện pháp tổ chức hoạt động giáo dục hướng nghiệp phù hợp

cho học sinh THPT .

1.4/ Câu hỏi ( giả thuyết ) nghiên cứu

a. Câu hỏi nghiên cứu

Những yếu tố nào ảnh hưởng đến quá trình lựa chọn ngành nghề của học

sinh



THPT



?



b. Giả thuyết nghiên cứu

Lựa chọn ngành nghề phù hợp với điều kiện của bản thân là điều mà các

bạn học sinh THPT , nhất là học sinh lớp 12 rất quan tâm . Việc quyết định

lựa chọn ngành học nào sau khi tốt nghiệp THPT bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu

10



tố , có những lựa chọn là đúng , phù hợp , nhưng cũng có những lựa chọn sai

lầm gây ra lãng phí thời gian cá nhân và của cải xã hội . Vì vậy , nếu tìm

hiểu được những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi lựa chọn ngành nghề của học

sinh , chúng ta có thể điều chỉnh và đưa ra biện pháp để định hướng một

cách chính xác nhất cho học sinh , giúp các em lựa chọn ngành nghề phù hợp

với bản thân và nhu cầu xã hội .

1.5/ Phương pháp nghiên cứu

a/ Mẫu nghiên cứu và Đối tượng khảo sát

-/Mẫu nghiên cứu :

Để tìm hiểu về các yếu tố dẫn đến việc quyết định lựa chọn ngành nghề

của học sinh THPT , nghiên cứu sẽ chọn 400 học sinh THPT ( chủ yếu là học

sinh lớp 12 ) tại 4 trường cấp 3 trên địa bàn Hà Nội , trong đó có 3 trường

thuộc quận Cầu Giấy ( nội thành Hà Nội) và 1 trường thuộc huyện Hà Tây

( ngoại thành Hà Nội ) . Kết quả thu được trên mẫu 400 học sinh để suy rộng

ra toàn thành phố .

-/ Đối tượng khảo sát

-Học sinh THPT hiện nay .

-Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi sẽ tiến hành thu thập

thông tin từ học sinh của 4 trường THPT trên địa bàn Hà Nội :

+Trường THPT Nguyễn Tất Thành

+Trường THPT Yên Hòa

+Trường THPT DL Nguyễn Bỉnh Khiêm

+Trường THPT Ngơ Quyền

Trong đó trường THPT Nguyễn Tất Thành , THPT Yên Hòa , THPT DL

Nguyễn Bỉnh Khiêm là 3 trường thuộc quận Cầu Giấy nội thành Hà Nội ,

còn trường THPT Ngơ Quyền ở Ba Vì Hà Tây ngoại thành Hà Nội .

b/ Địa điểm khảo sát

Khảo sát taị 4 trường THPT trên .

c/ Phương pháp thu thập thông tin

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2/Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×