Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ

Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ

Tải bản đầy đủ - 0trang

được phương pháp này, Thành viên nhập khẩu sẽ phân bổ cho các Thành viên

có lợi ích cung cấp chủ yếu đối với sản phẩm này theo thị phần, tính theo tổng

giá trị hay số lượng sản phẩm được nhập từ các Thành viên này trong một thời

gian đại diện trước đó và có tính đến bất cứ một yếu tố đặc biệt nào đã hoặc có

thể ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa này.”

Như vậy, trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ giữa các nước xuất

khẩu, khi áp dụng biện pháp tự vệ thương mại, nước áp dụng phải thỏa thuận với

các nước có hang hóa xuất khẩu về phân bổ hạn ngạch đối với từng nước nay.

Trong trường hợp không áp dụng được phương pháp trên, nước nhập khẩu sẽ

phân bổ cho các nước xuất khẩu thị phần, tính theo tởng giá trị hay sớ lượng sản

phẩm được nhập từ các nước đó trong một khoảng thời gian đại diện va có tính

đến mợt sớ ́u tớ khác. Tóm lại trong trường hợp nay sẽ có sự chênh lệch nhất

định về thị phần xuất khẩu hang hóa giữa các quốc gia xuất khẩu cho nên trường

hợp nay được coi la ngoại lệ của nguyên tắc không phân biệt đối xử.

5.2.



Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ trong phạm vi va

mức độ cần thiết



Theo khoản 1, Điều 5, Hiệp định SG: “Một Thành viên sẽ chỉ áp dụng

biện pháp tự vệ trong giới hạn cần thiết để ngăn cản hay khắc phục tổn hại

nghiêm trọng và để tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh”. Điều nay la hoan toan

hợp lý vì mục đích chính của biện pháp tự vệ la nhằm tạo điều kiện, thời gian

cho nganh sản xuất nội địa khắc phục thiệt hại, hợp lý hóa sản xuất để có thể

cạnh tranh sòng phẳng với hang hóa xuất khẩu sau khi dỡ bỏ biện pháp tự vệ.

Bởi toan bộ thời gian áp dụng một biện pháp tự vệ kể cả thời gian áp dụng biện

pháp tạm thời, thời gian bắt đầu áp dụng va bất kỳ sự gia hạn nao không được

vượt quá 8 năm. Đối với các nước đang phát triển thì thời hạn nay có thể la tối

đa 10 năm. Trong thời kỳ áp dụng, nếu những căn cứ để áp dụng biện pháp tự vệ

không còn thì nước áp dụng phải tiến hanh dỡ bỏ hay đình chỉ áp dụng biện



11



pháp tự vệ đối với hang hóa đó. Đồng thời, nước áp dụng phải tiến hanh ra soát

các biện pháp tự vệ để đảm bảo quyền va lợi ích cho nước bị áp dụng.

5.3.



Nguyên tắc ưu tiên cho các nước đang phát triển



Các thanh viên của WTO phần nhiều vấn la các nước đang phát triển nên

WTO đã có những chính sách ưu tiên nhằm khuyến khích các nước đó phát triển

kinh tế dần bắt kịp các nước phát triển. Cụ thể, tại Điều 9, Hiệp định SG có quy

định riêng về chế độ đãi ngộ đối với các nước đang phát triển. “Các biện pháp

tự vệ không được áp dụng để chống lại hàng hóa có xuất xứ từ một Thành viên

đang phát triển, nếu thị phần hàng hóa có liên quan được nhập từ Thành viên

này không vượt quá 3%, với điều kiện là tổng số thị phần nhập khẩu từ các

Thành viên đang phát triển, có thị phần nhập khẩu riêng lẻ nhỏ hơn 3%, không

vượt quá 9% tổng kim ngạch nhập khẩu nhập khẩu của hàng hóa liên quan”.

Hơn nữa, như đã nói ở trên, một thanh viên đang phát triển có thể kéo dai thời

hạn áp dụng biện pháp tự vệ thêm 2 năm so với các thanh viên phát triển tức la

kéo dai thời hạn từ 8 năm lên 10 năm.



5.4.



Nguyên tắc đảm bảo bồi thường tổn thất thương mại



WTO quy định nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ phải bồi thường

tổn thất thương mại cho các nước xuất khẩu liên quan (thường la việc nước nhập

khẩu tự nguyện giảm thuế nhập khẩu cho một số nhóm hang hoá khác đến từ các

nước xuất khẩu đó). Nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ phải tiến hanh

thương lượng với các nước xuất khẩu về biện pháp đền bù thương mại thoả

đáng. Trường hợp không đạt được thoả thuận, nước xuất khẩu liên quan có thể

áp dụng biện pháp trả đũa (thường la việc rút lại những nghĩa vụ nhất định trong

WTO, bao gồm cả việc rút lại các nhượng bộ về thuế quan - tức la từ chối giảm

thuế theo cam kết WTO - đối với nước áp dụng biện pháp tự vệ). Tuy nhiên,

việc trả đũa không thể được thực hiện trong 3 năm đầu kể từ khi biện pháp tự vệ

12



được áp dụng (nếu biện pháp áp dụng tuân thủ đầy đủ các quy định của WTO va

thiệt hại nghiêm trọng la thiệt hại thực tế.

II.



Quy định của pháp luật về biện pháp tự vệ trong thương

mại quốc tê

1. Các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tê

1.1. Biện pháp thuế quan (tăng thuế so với mức thuế trần đã cam



kết)

Thuế quan tức thuế xuất nhập khẩu bao gồm: thuế xuất khẩu va thuế nhập

khẩu. Thuế quan được hiểu la khoản thu của nha nước đánh vao hang hóa khi

hang hóa đó di chuyển từ lãnh thổ hải quan nay sang lãnh thổ hải quan khác

nhằm tăng nguồn thu ngân sách quốc gia va bảo hộ hang hóa tương tự, nganh

kinh tế hang hóa tương tự trong nước. Những vấn đề quan trọng liên quan đến

thuế quan ma các nước thường quan tâm bao gồm: danh mục thuế quan, mức

thuế trần va lộ trình giảm thuế quan.

Trong khuôn khổ WTO, thông qua các vòng đam phán về lộ trình cắt

giảm thuế quan, thuế suất rang buộc sẽ được đưa vao danh mục thuế quan của

mỗi quốc gia va được công bố rộng rãi. WTO từ khi thanh lập đã có 22500 trang

danh mục thuế quan cam kết của các nước đối với một số loại hang hóa cụ thể

được thỏa thuận trong khuôn khổ WTO, nhất la những cam kết giảm thuế va

mức thuế trần đối với hang hóa nhập khẩu. Mức th́ trần chính la những cam

kết khơng tăng thuế vượt quá một mức đã được xác định, được gọi la mức

“trần”, thường la mức thuế đang được áp dụng trên thực tế. Có nhiều mức thuế

“trần” khác nhau va đa số các nước đang phát triển có mức thuế “trần” cao hơn

một chút so với các mức thuế đang áp dụng. Những cam kết về thuế quan có giá

trị rang buộc đối với các thanh viên. Để đảm bảo kết quả đam phán về thuế cũng

như mở rộng thương mại ổn định, WTO cấm các nước thanh viên đánh thuế cao

13



hơn mức thuế ma họ đã cam kết va không cho phép các thanh viên tự ý thay đổi

mức thuế nay.

Tuy nhiên, trong trường hợp nền sản xuất trong nước gặp khó khăn do

lượng nhập khẩu tăng đột biến la hệ quả của việc dỡ bỏ hang rao thuế quan, tự

do hóa thương mại, cùng với đó la có những thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt

hại cho nền sản xuất trong nước ma nước đó đã có tiến hanh điều tra theo luật

định thì nước nhập khẩu có quyền áp dụng biện pháp thuế quan như một biện

pháp tự vệ khi có đủ căn cứ áp dụng. Mức thuế tăng va phải tính toán trong một

thời gian hợp lý sau đó sẽ dỡ bỏ dần. Mục đích la để tạm thời hạn chế nhập

khẩu, tranh thủ thời gian phục hồi sản xuất, khắc phục thiệt hại, thích nghi với

mơi trường cạnh tranh để dần lấy lại thị trường chú khơng nhằm mục đích nao

khác ( đặc biệt khơng được nhằm mục đích chính trị, phân biệt đối xử…)

1.2. Biện pháp phi thuế quan (hạn chế định lượng)



Hạn chế định lượng la một trong những biện pháp để bảo vệ sản xuất

trong nước. Biện pháp hạn chế định lượng bao gồm các hình thức: hạn ngạch;

giấy phép; cấm xuất khẩu, nhập khẩu… do một nước thanh viên áp dụng nhằm

hạn chế lượng nhập khẩu từ nước thanh viên khác. Điều XI, Hiệp đinh GATT

1994 quy định: “Không một sự cấm hay hạn chế nào khác ngoại trừ thuế quan

và các khoản thu khác, dù mang hình thức hạn ngạch, giấy phép nhập khẩu hay

xuất khẩu hoặc các biện pháp khác sẽ được bất cứ một bên ký kết nào định ra

hay duy trì nhằm vào việc nhập khẩu từ lãnh thổ của bất kỳ bên ký kết nào hay

nhằm vào việc xuất khẩu hay bán hàng để xuất khẩu đến lãnh thổ của bất kỳ bên

ký kết nào.”

Về nguyên tắc, biện pháp hạn chế định lượng bị cấm trong WTO. Tuy

nhiên, ngoại lệ trong trường hợp khi nganh sản xuất trong nước bị thiệt hại khi

nhập khẩu ồ ạt thì có thể áp dụng biện pháp hạn chế định lượng la một biện pháp

tự vệ đế cứu vãn sản xuất trong nước. Trong những trường hợp khác, biện pháp

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×