Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ

Điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ

Tải bản đầy đủ - 0trang

phải la hiện tượng ma nước nhập khẩu không thể lường trước được khi đưa ra

cam kết trong khuôn khổ WTO. Điều XIX, GATT đưa ra khái niệm “không

lường trước được” nghĩa la có sự gia tăng một cách bất thường, la kết quả của

những nghĩa vụ, của sự nhân nhượng thuế quan. Song song với các điều kiện

chung nay, một số nước khi gia nhập WTO phải đưa ra những cam kết riêng liên

quan đến biện pháp tự vệ. Việt Nam không có rang buộc hay bảo lưu nao lớn về

các biện pháp tự vệ nay, do đó, việc áp dụng biện pháp tự vệ ở Việt Nam đối với

hang hoá nước ngoai nếu có sẽ tuân thủ đầy đủ các quy định của WTO về vấn đề

nay.

Ngoai ra, một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng biện pháp tự vệ sau khi

đã tiến hanh điều tra va chứng minh được sự tồn tại đồng thời các điều kiện sau:

Thứ nhất, hàng hoá liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng

Câu hỏi đặt ra la khi nao hang hoá nhập khẩu được coi la tăng đột biến

đến mức có thể áp dụng biện pháp tự vệ? Đây la một câu hỏi xuất hiện đầu tiên

đối với nước nhập khẩu trước khi quyết định có áp dụng biện pháp tự vệ hay

không đối với một mặt hang nhất định. Để áp dụng biện pháp tự vệ, sự gia tăng

đột biến về số lượng của hang hoá phải đáp ứng các điều kiện sau:

 Sự gia tăng nay la gia tăng tụt đới (ví dụ, sớ lượng hang hoá nhập



khẩu tăng gấp 2 lần) hoặc tương đối so với sản xuất trong nước (ví

dụ, lượng hang nhập khẩu dường như không tăng, nhưng cùng thời

điểm đó lượng hang sản xuất trong nước lại giảm mạnh).

 Sự gia tăng về sớ lượng phải mang tính đợt biến (diễn ra đột ngột,



nhanh va tức thời).

Cũng cần lưu ý ở đây rằng, vẫn theo các điều kiện chung thì sự gia tăng

nhập khẩu nay phải thuộc diện không dự đoán được vao thời điểm nước nhập

khẩu đam phán tham gia Hiệp định về áp dụng biện pháp tự vệ. Thêm nữa, chú ý

7



ba yếu tố sau đây khi xem xét điều kiện nay: sự gia tăng về giá trị nhập khẩu

không phải la yếu tố bắt buộc để điều tra trong vụ việc tự vệ; sự gia tăng lượng

nhập khẩu cần được xem xét theo diễn tiến trong suốt quá trình điều tra chứ

không chỉ đơn thuần la so sánh lượng nhập khẩu thời điểm đầu va cuối của cuộc

điều tra; sự thay đổi về xu hướng thời trang va ảnh hưởng của nó đến cạnh tranh

được xem la việc không thể dự đoán trước bởi các nha đam phán.

Thứ hai, ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với

hàng hố đó bị thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại nghiêm trọng.

Một trong các điều kiện để có thể áp dụng biện pháp tự vệ la phải điều tra

chứng minh được rằng nganh sản xuất nội địa phải chịu thiệt hại nghiêm trọng

từ việc hang nhập khẩu tăng ồ ạt. Vậy xác định yếu tố “thiệt hại nghiêm trọng”

như thế nao? Theo Hiệp định SG quy định tại khoản 1, Điều 4: “Tổn hại nghiêm

trọng” được hiểu la sự suy giảm toan diện đáng kể tới vị trí của nganh cơng

nghiệp sản x́t nợi địa. “Đe dọa gây tổn hại nghiêm trọng” la tổn hại nghiêm

trọng rõ rang sẽ xảy ra. Việc xác định nguy cơ tổn hại nghiêm trọng phải dựa

trên cơ sở thực tế chứ không phải la phỏng đoán, viện dẫn hoặc khả năng xa. Cụ

thể:

 Về hình thức, các thiệt hại nay có thể tồn tại dưới hai dạng: thiệt



hại thực tế hoặc nguy cơ thiệt hại (nguy cơ nay la rất gần);

 Về mức độ, các thiệt hại nay phải ở mức nghiêm trọng (tức la ở



mức cao hơn so với thiệt hại đáng kể trong trường hợp các vụ kiện

chống bán phá giá, chống trợ cấp).

 Về phương pháp, các thiệt hại thực tế được xem xét trên cơ sở



phân tích tất cả các ́u tớ liên quan đến thực trạng của nganh sản

x́t nợi địa (ví dụ tỉ lệ va mức tăng lượng nhập khẩu, thị phần của

sản phẩm nhập khẩu, thay đổi về doanh số, sản lượng, năng suất,

nhân công…)

8



Trong cuộc điều tra để áp dụng biện pháp tự vệ, việc chứng minh thiệt hại

nghiêm trọng chủ yếu thuộc trách nhiệm của nganh sản xuất nội địa liên quan.

Vì vậy, để đạt được mục tiêu của mình, nganh sản xuất nội địa cần chuẩn bị kỹ

về các số liệu, tập hợp trong một thời gian tương đối dai để có đủ dữ liệu chứng

minh.

Thứ ba, có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột

biến và thiệt hại hoặc đe doạ thiệt hại gây ra nói trên.

Sự gia tăng sớ lượng hang hóa nhập khẩu la hệ quả của chính sách tự do

hóa thương mại va có mối quan hệ nhân quả với những thiệt hại xảy ra. Đề xác

định được mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến va

thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại, nước nhập khẩu cần phải xác định được

nganh sản xuất liên quan – đối tượng bị thiệt hại. Vậy nganh sản xuất nội địa

liên quan la gì? Nganh sản xuất nội địa liên quan trong vụ việc tự vệ la nganh

sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm nhập khẩu bị

điều tra (rộng hơn khái niệm nganh sản xuất sản phẩm tương tự nội địa trong các

vụ điều tra chống bán phá giá hay chống trợ cấp). Qua đây cũng xin lam rõ khái

niệm sản phẩm tương tự va khái niệm sản phẩm cạnh tranh trực tiếp:

 Sản phẩm tương tự được hiểu la sản phẩm giống hệt hoặc nếu



không có sản phẩm giống hệt thì la sản phẩm tương đờng về tính

chất, thanh phần, chất lượng va mục đích sử dụng ći cùng;

 Sản phẩm cạnh tranh trực tiếp la những sản phẩm có thể thay thế



sản phẩm nhập khẩu bị điều tra ở một mức độ nhất định trên va

trong các điều kiện của thị trường nước nhập khẩu.

Ngoai ra, để xác định được sản phẩm nao la sản phẩm cạnh tranh trực tiếp

hoặc sản phẩm tương tự, chúng ta cần căn cứ vao một số yếu tố sau:



9



 Hai loại sản phẩm có tác động khác nhau đến sức khoẻ con người



khó có thể coi la sản phẩm tương tự (vụ các quy định đối với chất

Amiăng va sản phẩm có chứa Amiăng – EC).

 Khi xem xét tính chất có thể thay thế nhau của các sản phẩm tương



tự cần lưu ý đến cả cách thức các sản phẩm nay được quảng cáo va

tiêu thụ/sử dụng (vụ thuế đối với đồ uống có cồn - Nhật Bản).

 Những sản phẩm có dây chuyền sản xuất tương tự nhau hoặc được



sản xuất bởi các chủ thể có cùng lợi ích kinh tế khơng nhất thiết la

sản phẩm tương tự (vụ Đèn của Hoa Kỳ).

5. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ

5.1.



Nguyên tắc không phân biệt đối xử.



Theo đó, các quốc gia không được phân biệt đối xử đối với hang hóa nhập

khẩu từ các nước khác nhau. Các quốc gia khác nhau đều bình đẳng trước pháp

luật, không gây ra sự phân biệt từ các hang hóa, công dân của nước nay với

nước khác, nói cách khác họ phải đều được hưởng chế độ đãi ngộ quốc dân. Tức

la, biện pháp tự vệ khi được áp dụng lên một loại hang hóa nhập khẩu sẽ không

phân biệt nguồn gốc xuất xứ của loại hang hóa đó. Như vậy khác với biện pháp

chống bán phá giá va biện pháp chống trợ cấp (chỉ áp dụng đối với nha xuất

khẩu từ một hoặc một số nước xuất khẩu nhất định bị điều tra), biện pháp tự vệ

áp dụng cho tất cả các nha sản xuất, xuất khẩu của tất cả các nước xuất khẩu

đang xuất mặt hang đó sang nước nhập khẩu.

Tuy nhiên, nguyên tắc nay cũng có ngoại lệ nhất định. Theo quy định tại

khoản 2a, Điều 5, Hiệp định SG: “Trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ

giữa các nước xuất khẩu, Thành viên áp dụng hạn chế này có thể tìm kiếm một

thỏa thuận liên quan tới việc phân bổ hạn ngạch cho tất cả các Thành viên có

lợi ích cung cấp chính yếu đối với sản phẩm. Trong trường hợp không áp dụng

10



được phương pháp này, Thành viên nhập khẩu sẽ phân bổ cho các Thành viên

có lợi ích cung cấp chủ yếu đối với sản phẩm này theo thị phần, tính theo tổng

giá trị hay số lượng sản phẩm được nhập từ các Thành viên này trong một thời

gian đại diện trước đó và có tính đến bất cứ một yếu tố đặc biệt nào đã hoặc có

thể ảnh hưởng đến thương mại hàng hóa này.”

Như vậy, trong trường hợp hạn ngạch được phân bổ giữa các nước xuất

khẩu, khi áp dụng biện pháp tự vệ thương mại, nước áp dụng phải thỏa thuận với

các nước có hang hóa xuất khẩu về phân bổ hạn ngạch đối với từng nước nay.

Trong trường hợp không áp dụng được phương pháp trên, nước nhập khẩu sẽ

phân bổ cho các nước xuất khẩu thị phần, tính theo tởng giá trị hay sớ lượng sản

phẩm được nhập từ các nước đó trong một khoảng thời gian đại diện va có tính

đến mợt sớ yếu tố khác. Tóm lại trong trường hợp nay sẽ có sự chênh lệch nhất

định về thị phần xuất khẩu hang hóa giữa các quốc gia xuất khẩu cho nên trường

hợp nay được coi la ngoại lệ của nguyên tắc không phân biệt đối xử.

5.2.



Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tự vệ trong phạm vi va

mức độ cần thiết



Theo khoản 1, Điều 5, Hiệp định SG: “Một Thành viên sẽ chỉ áp dụng

biện pháp tự vệ trong giới hạn cần thiết để ngăn cản hay khắc phục tổn hại

nghiêm trọng và để tạo thuận lợi cho việc điều chỉnh”. Điều nay la hoan toan

hợp lý vì mục đích chính của biện pháp tự vệ la nhằm tạo điều kiện, thời gian

cho nganh sản xuất nội địa khắc phục thiệt hại, hợp lý hóa sản xuất để có thể

cạnh tranh sòng phẳng với hang hóa xuất khẩu sau khi dỡ bỏ biện pháp tự vệ.

Bởi toan bộ thời gian áp dụng một biện pháp tự vệ kể cả thời gian áp dụng biện

pháp tạm thời, thời gian bắt đầu áp dụng va bất kỳ sự gia hạn nao không được

vượt quá 8 năm. Đối với các nước đang phát triển thì thời hạn nay có thể la tối

đa 10 năm. Trong thời kỳ áp dụng, nếu những căn cứ để áp dụng biện pháp tự vệ

không còn thì nước áp dụng phải tiến hanh dỡ bỏ hay đình chỉ áp dụng biện



11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Điều kiện áp dụng biện pháp tự vệ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×