Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bán hàng và xác định kết quả kinh doanh có vai trò vơ cùng quan trọng

khơng chỉ đối với doanh nghiệp mà còn đối với tồn bộ nền kinh tế qc dân. Đối

với bản thân doanh nghiệp có bán được hàng thì mới có thu nhập để bù đắp những

chi phí bỏ ra, có điều kiện để mở rộng hoạt động kinh doanh ,nâng cao đời sống của

người lao động ,tạo nguồn tích luỹ cho nền kinh tế quốc dân.Việc xác định chính

xác kết quả bán hàng là cơ sở xác định chính xác hiệu quả hoạt động cuả các doanh

nghiệp đối vối nhà nước thông qua việc nộp thuế, phí ,lệ phí vào ngân sách nhà

nước, xác định cơ cấu chi phí hợp lý và sử dụng có hiệu quả cao số lợi nhuận thu

được giải quyết hài hoà giữa các lợi ích kinh tế: Nhà nước, tập thể và các cá nhân

người lao động

1.1.2. Các phương thức bán hàng và phương thức thanh toán trong doanh

nghiệp thương mại

1.1.2.1. Các phương thức bán hàng

Việc bán hàng trong các doanh nghiệp thương mại nội địa có thể thực hiện theo hai

phương thức: bán buôn và bán lẻ, được chi tiết dưới nhiều hình thức khác nhau

(trực tiếp, chuyển hàng...).

a) Bán bn hàng hố

là hình thức bán hàng cho các đơn vị thương mại, các doanh nghiệp sản

xuất.... Đặc điểm của hàng hố bán bn là hàng hố vẫn nằm trong lĩnh vực lưu

thông, chưa đi vào lĩnh vực tiêu dùng, do vậy, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hố

chưa được thực hiện. Hàng bán bn thường được bán theo lô hàng hoặc bán với số

lượng lớn. Giá bán biến động tuỳ thuộc vào số lượng hàng bán và phương thức

thanh tốn. Trong bán bn thường bao gồm hai phương thức:

- Phương thức bán bn hàng hố qua kho: Bán bn hàng hố qua kho là

phương thức bán bn hàng hố mà trong đó, hàng bán phải được xuất từ kho bảo

quản của doanh nghiệp. Bán buôn hàng hố qua kho có thể thực hiện dưới hai hình

thức:

+ Bán bn hàng hố qua kho theo hình thức giao hàng trực tiếp: Theo hình

thức này, bên mua cử đại diện đến kho của doanh nghiệp thương mại để nhận hàng.



Doanh nghiệp thương mại xuất kho hàng hoá giao trực tiếp cho đại diện bên mua.

Sau khi đại diện bên mua nhận đủ hàng, thanh toán tiền hoặc chấp nhận nợ, hàng

hố được xác định là tiêu thụ.

+ Bán bn hàng hố qua kho theo hình thức chuyển hàng: Theo hình thức này,

căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết hoặc theo đơn đặt hàng, doanh nghiệp

thương mại xuất kho hàng hoá, dùng phương tiện vận tải của mình hoặc đi thuế

ngồi, chuyển hàng đến kho của bên mua hoặc một địa điểm nào đó bên mua quy

định trong hợp đồng. Hàng hoá chuyển bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh

nghiệp thương mại. Chỉ khi nào được bên mua kiểm nhận, thanh toán hoặc chấp

nhận thanh toán thì số hàng chuyển giao mới được coi là tiêu thụ, người bán mất

quyền sở hữu về số hàng đã giao. Chi phí vận chuyển do doanh nghiệp thương mại

chịu hay bên mua chịu là do sự thoả thuận từ trước giưa hai bên. Nếu doanh nghiệp

thương mại chịu chi phí vận chuyển, sẽ được ghi vào chi phí bán hàng. Nếu bên

mua chịu chi phí vận chuyển, sẽ phải thu tiềncủa bên mua.

- Phương thức bán bn hàng hố vận chuyển thẳng: Theo phương thức này,

doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua, không đưa về nhập

kho mà chuyển bán thẳng cho bên mua. Phương thức này có thể thực hiện theo hai

hình thức:

+ Bán bn hàng hố vận chuyển thẳng theo hình thức giao hàng trực tiếp

(còn gọi là hình thức giao tay ba): Theo hình thức này, doanh nghiệp thương mại

sau khi mua hàng, giao trực tiếp cho đại diện của bên mua tại kho người bán. Sau

khi đại diện bên mua ký nhận đủ hàng, bên mua đã thanh toán tiền hàng hoặc chấp

nhận nợ, hàng hoá được xác nhận là tiêu thụ.

+ Bán bn hàng hố vận chuyển thẳng theo hình thức chuyển hàng: Theo hình

thức này, doanh nghiệp thương mại sau khi mua hàng, nhận hàng mua, dùng

phương tiện vận tải của mình hoặc th ngồi vận chuyển hàng đến giao cho bên

mua ở địa điểm đã được thoả thuận. Hàng hoá chuyển bán trong trường hợp này vẫn

thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại. Khi nhận được tiền của bên mua

thanh toán hoặc giấy báo của bên mua đã nhận được hàng và chấp nhận thanh tốn

thì hàng hoá chuyển đi mới được xác định là tiêu thụ.



b) Bán lẻ hàng hoá

là phương thức bán hàng trực tiếp cho người tiêu dùng hoặc các tổ chức kinh tế

hoặc các đơn vị kinh tế tập thể mua về mang tính chất tiêu dùng nội bộ. Bán hàng

theo phương thức này có đặc điểm là hàng hố đã ra khỏi lĩnh vực lưu thông và đi

vào lĩnh vực tiêu dùng, giá trị và giá trị sử dụng của hàng hoá đã được thực hiện.

Bán lẻ thường bán đơn chiếc hoặc bán với số lượng nhỏ, giá bán thường ổn định.

Bán lẻ có thể thực hiện dưới các hình thức sau:

- Hình thức bán lẻ thu tiền tập trung: Bán lẻ thu tiền tập trung là hình thức bán

hàng mà trong đó tách rời nghiệp vụ thu tiền của người mua và nghiệp vụ giao hàng

cho người mua. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền của

khách, viết hố đơn hoặc tích kê cho khách để khách đến nhận hàng ở quầy hàng do

nhân viên bán hàng giao. Hết ca (hoặc hết ngày) bán hàng, nhân viên bán hàng căn

cứ vào hố đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng hoá tồn quầy để

xác định số lượng hàng đã bán trong ngày, trong ca và lập báo cáo bán hàng. Nhân

viên thu tiền làm giấy nộp tiền và nộp tiền bán hàng cho thủ quỹ.

- Hình thức bán lẻ thu tiền trực tiếp: Theo hình thức này, nhân viên bán hàng trực

tiếp thu tiền của khách và giao hàng cho khách. Hết ca, hết ngày bán hàng, nhân

viên bán hàng làm giấy nộp tiền và nộp tiền cho thủ quỹ. Đồng thời, kiểm kê hàng

hoá tồn quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ca, trong ngày và lập báo cáo

bán hàng.

- Hình thức bán lẻ tự phục vụ (tự chọn): Theo hình thức này, khách hàng tự chọn

lấy hàng hố, mang đến bán tình tiền để tính tiền và thanh toán tiền hàng. Nhân viên

thu tiền kiểm hàng, tính tiền, lập hố đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng.

Nhân viên bán hàng có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng và bảo quản hàng hoá ở

quầy (kệ) do mình phụ trách. Hình thức này được áp dụng phổ biến ở các siêu thị.

- Hình thức bán trả góp: Theo hình thức này, người mua được trả tiền mua hàng

thành nhiều lần. Doanh nghiệp thương mại, ngoài số tiền thu theo giá bán thơng

thường còn thu thêm ở người mua một khoản lãi do trả chậm. Đối với hình thức

này, về thực chất, người bán chỉ mất quyền sở hữu khi người mua thanh toán hết



tiền hàng. Tuy nhiên,về mặt hạch toán, khi giao hàng cho người mua, hàng hố bán

trả góp được coi là tiêu thụ, bên bán ghi nhận doanh thu.

- Hình thức bán hàng tự động: Bán hàng tự động là hình thức bán lẻ hàng hố mà

trong đó, các doanh nghiệp thương mại sử dụng các máy bán hàng tự động chuyên

dùng cho một hoặc một vài loại hàng hố nào đó đặt ở các nơi công cộng. Khách

hàng sau khi bỏ tiền vào máy, máy sẽ tự động đẩy hàng ra cho người mua.

- Hình thức gửi đại lý bán hay ký gửi hàng hoá: Gửi đại lý bán hay ký gửi hàng

hoá là hình thức bán hàng mà trong đó doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cơ

sở đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Bên nhận làm đại lý, ký gửi sẽ

trực tiếp bán hàng, thanh toán tiền hàng và được hưởng hoa hồng đại lý. Số hàng

chyển giao cho các cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp

thương mại cho đến khi doanh nghiệp thương mại được cơ sở đại lý, ký gửi thanh

toán tiền hay chấp nhận thanh tốn hoặc thơng báo về số hàng đã bán được, doanh

nghiệp mới mất quyền sở hữu về số hàng này.

1.1.2.2. Các phương thức thanh tốn:

Thơng thường, việc thanh tốn tiền mua hàng trong nước được thực hiện theo hai

phương thức:

- Phương thức thanh toán trực tiếp: Sau khi nhận được hàng mua, doanh nghiệp

thương mại thanh toán ngay tiền cho người bán, có thể bằng tiền mặt, bằng tiền cán

bộ tạm ứng, bằng chuyển khoản, có thể thanh tốn bằng hàng (hàng đổi hàng)…

- Phương thức thanh toán chậm trả: Doanh nghiệp đã nhận hàng nhưng chưa

thanh toán tiền cho người bán. Việc thanh tốn chậm trả có thể thực hiện theo điều

kiện tín dụng ưu đãi theo thoả thuận. Chẳng hạn, điều kiện “1/10, n/20″ có nghĩa là

trong 10 ngày đầu kể từ ngày chấp nhận nợ, nếu người mua thanh tốn cơng nợ sẽ

được hưởng chiết khấu thanh toán là 1%. Từ ngày thứ 11 đến hết ngày thứ 20,

người mua phải thanh tốn tồn bộ cơng nợ là “n”. Nếu hết 20 ngày mà người mua

chưa thanh tốn nợ thì họ sẽ phải chịu lãi suất tín dụng.



1.1.3. Vai trò và nhiệm vụ của kế tốn bán hàng và xác định kết quả kinh

doanh

a) Vai trò của kế toán bán hàng và kết quả bán hàng

Tiêu thụ là khâu quan trọng của hoạt động thương mại doanh nghiệp, nó thực

hiện mục đích của sản xuất và tiêu dùng đó là đưa sản phẩm từ nơi sản xuất đến nơi

tiêu dùng. Tiêu thụ hàng hóa là khâu trung gian là cầu nối giữa sản xuất và tiêu

dùng.

Qua tiêu thụ mới khẳng định được năng lực kinh doanh của doanh nghiệp. Sau

tiêu thụ doanh nghiệp không những thu hồi được tổng chi phí bỏ ra mà còn thực

hiện được một phần giá trị thặng dư. Phần thặng dư này chính là phần quan trọng

đóng góp vào ngân sách nhà nước, mở rộng quy mô kinh doanh.

Cũng như các q trình khác, q trình tiêu thụ hàng hố cũng chịu sự thay đổi

và quản lý của nhà nước, của người có lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp. Đó là chủ

doanh nghiệp, các cổ đông, bạn hàng, nhà tài trợ, các cơ quan quản lý nhà nước...

Hiện nay trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thương mại đã sử dụng

nhiều biện pháp để quản lý công tác tiêu thụ hàng hoá. Với chức năng thu thập số

liệu, xử lý và cung cấp thơng tin, kế tốn được coi là một trong những cơng cụ góp

phần giải quyết những vấn đề phát sinh trong doanh nghiệp. Cụ thể kế toán đã theo

dõi số lượng, chất lượng, giá trị của tổng lô hàng từ khâu mua đến khâu tiêu thụ

hàng hố. Từ đó doanh nghiệp mới điều chỉnh đưa ra những phương án, các kế

hoạch tiêu thụ hàng hoá nhằm thu được hiệu quả cao nhất.

Doanh nghiệp thương mại thực hiện tốt nghiệp vụ này thì sẽ đáp ứng tốt, đầy

đủ, kịp thời nhu cầu của khách hàng, góp phần khuyến khích tiêu dùng, thúc đẩy

sản xuất, tăng doanh thu bán ra, mở rộng thị phần, khẳng định được uy tín doanh

nghiệp trong các mối quan hệ với chủ thể khác ... Đồng thời động viên người lao

động, nâng cao mức sống cho họ và đặc biệt là doanh nghiệp sẽ thu hồi được khoản

lợi nhuận mong muốn, góp phần xây dựng nền kinh tế quốc dân.

b) Nhiệm vụ của kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh

Để đáp ứng được yêu cầu quản lý quá trình tiêu thụ sản phẩm và xác định kết

quả tiêu thụ sản phẩm. Kế tốn có những nhiệm vụ chủ yếu sau đây:



-



Phản ánh tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh tế về tiêu thụ và xác định kết



quả tiêu thụ như mức bán ra, doanh thu tiêu thụ, mà quan trọng nhất là lãi thuần của

hoạt động tiêu thụ.

-



Ghi chép, phản ánh đầy đủ, kịp thời , chi tiết sự biến dộng của hàng hoá ở tất



cả các trạng thái: hàng đi đường, hàng trong kho, hàng gia công chế biến, hàng gửi

đại lý... nhằm đảm bảo an tồn cho hàng hố.

-



Tính tốn chính xác giá vốn, chi phí khối lượng tiêu thụ hàng hố, thanh tốn



chấp nhận thanh tốn, hàng trả lại....

-



Phản ánh chính xác, kịp thời doanh thu tiêu thụ để xác định kết quả đảm bảo



thu đủ và kịp thời tiền bán hàng tránh sự chiếm dụng vốn.

-



Phản ánh và giám sát tình hình thực hiện kết quả tiêu thụ, cung cấp số liệu,



lập báo cáo tài chính và lập quyết tốn đầy đủ, kịp thời để đánh giá đúng hiệu quả

tiêu thụ cũng như việc thực hiện nghĩa vụ đối với nhà nước

1.2. Nội dung kế toán bán hàng và xác định kết quả kinh doanh của chế độ kế

tốn theo thơng tư số 200/2014/TT-BTC

1.2.1. Kế toán doanh thu bán hàng

a) Nội dung kế toán doanh thu bán hàng

Điều kiện ghi nhận doanh thu

Doanh nghiệp chỉ ghi nhận doanh thu bán hàng khi đồng thời thỏa mãn các

điều kiện sau:

- Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền với quyền sở

hữu sản phẩm, hàng hóa cho người mua.

- Doanh nghiệp khơng còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu

hoặc quyền kiểm sốt hàng hóa.

- Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn. Khi hợp đồng quy định người

mua được quyền trả lại sản phẩm, hàng hoá, đã mua theo những điều kiện cụ thể,

doanh nghiệp chỉ được ghi nhận doanh thu khi những điều kiện cụ thể đó khơng còn

tồn tại và người mua khơng được quyền trả lại sản phẩm, hàng hố (trừ trường hợp



khách hàng có quyền trả lại hàng hóa dưới hình thức đổi lại để lấy hàng hóa, dịch

vụ khác).

- Doanh nghiệp đã hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng.

- Xác định được các chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.

Nguyên tắc hạch toán

- Doanh thu phát sinh từ các giao dịch được xác định bằng giá trị hợp lý của

các khoản đã thu được hoặc sẽ thu được sau khi trừ (-) các khoản chiết khấu thương

mại,giảm giá hàng bán và giá trị hàng bán bị trả lại.

- Trường hợp bán hàng theo phương thức trả chậm, trả góp ghi nhận doanh thu

bán hàng trả ngay và ghi nhận vào doanh thu hoạt động tài chính phần lãi trả chậm

phù hợp với thời điểm ghi nhận doanh thu.

- Trường hợp trong kỳ doanh nghiệp viết hóa đơn bán hàng và đã thu tiền bán

hàng nhưng đến cuối kỳ vẫn chưa giao hàng cho người mua thì chưa được coi là

tiêu thụ và không được ghi nhận doanh thu mà chỉ ghi vào bên có vào tài khoản tiền

đã thu của khách hàng, khi giao hàng cho người mua thì mới ghi nhận vào TK

“Doanh Thu”.

- Đối với các doanh nghiệp thực hiện nghiệp vụ cung cấp sản phẩm, hàng hoá,

dịch vụ cho yêu cầu của nhà nước, được nhà nước trợ cấp,trợ giá theo quy định thì

doanh thu trợ cấp, trợ giá là số tiền được nhà nước chính thức thông báo, hoặc thực

tế trợ cấp trợ giá.

b) Chứng từ sử dụng

- Hoá đơn giá trị gia tăng

- Hoá đơn bán hàng

- Các bảng kê bán lẻ hàng hoá,dịch vụ;bảng thanh tốn hàng đại lý,kí gửi

- Sổ chi tiết bán hàng

c) Tài khoản sử dụng

Tài khoản 511 - Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ

Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ của

doanh nghiệp trong một kỳ kế toán, bao gồm cả doanh thu bán hàng hoá, sản phẩm

và cung cấp dịch vụ cho công ty mẹ, công ty con trong cùng tập đồn.



Tài khoản 511có 6 tài khoản cấp 2:

- Tài khoản 5111 - Doanh thu bán hàng hoá

- Tài khoản 5112 - Doanh thu bán các thành phẩm

- Tài khoản 5113 - Doanh thu cung cấp dịch vụ

- Tài khoản 5114 - Doanh thu trợ cấp, trợ giá

- Tài khoản 5117 - Doanh thu kinh doanh bất động sản đầu tư

- Tài khoản 5118 - Doanh thu khác

Và các tài khoản liên quan TK 111, 112, 131, 3387…

d) Sơ đồ hạch toán kế toán doanh thu bán hàng (Sơ đồ 1.1)



1.2.2. Kế toán các khoản giảm trừ doanh thu

a) Nội dung kế toán các khoản giảm trừ doanh thu

Chiết khấu thương mại phải trả là khoản doanh nghiệp bán giảm giá niêm yết

cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn

Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho người mua do sản phẩm, hàng hoá

kém, mất phẩm chất hay không đúng quy cách theo quy định trong hợp đồng kinh

tế.

Đối với hàng bán bị trả lại, tài khoản này dùng để phản ánh giá trị của số sản

phẩm, hàng hóa bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân: Vi phạm cam kết, vi

phạm hợp đồng kinh tế, hàng bị kém, mất phẩm chất, không đúng chủng loại, quy

cách.

b) Chứng từ kế tốn

-



Hóa đơn giá trị gia tăng

Phiếu giao hàng

Đối với hàng hóa bị trả lại phải có văn bản đề nghị của người mua ghi rõ lý



do trả lại hàng, số lượng hàng bị trả lại, đính kèm hóa đơn hoặc bản sao hóa đơn, và

đính kèm chứng từ nhập lại tại kho của doanh nghiệp số hàng bị trả lại.

-



Văn bản đề nghị giảm giá hàng bán



c) Tài khoản sử dụng

Tài khoản 521 – Các khoản giảm trừ doanh thu

Tài khoản này dùng để phản ánh các khoản được điều chỉnh giảm trừ vào

doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ phát sinh trong kỳ, gồm: Chiết khấu thương

mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại. Tài khoản này không phản ánh các

khoản thuế được giảm trừ vào doanh thu như thuế GTGT đầu ra phải nộp tính theo

phương pháp trực tiếp.

Kế toán phải theo dõi chi tiết chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán, hàng

bán bị trả lại cho từng khách hàng và từng loại hàng bán, như: bán hàng (sản phẩm,

hàng hoá), cung cấp dịch vụ. Cuối kỳ, kết chuyển toàn bộ sang tài khoản 511 "Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ" để xác định doanh thu thuần của khối

lượng sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ thực tế thực hiện trong kỳ báo cáo.



Tài khoản 521 có 3 tài khoản cấp 2

- Tài khoản 5211 - Chiết khấu thương mại

- Tài khoản 5212 - Hàng bán bị trả lại

- Tài khoản 5213 - Giảm giá hàng bán

d) Sơ đồ hạch toán

Sơ đồ 1.2 : Hạch toán các khoản giảm trừ doanh thu



(1a) Chiết khấu thương mại, giá trị hàng bán bị trả lại, giảm giá hàng bán thực tế

phát sinh trong kỳ.

(1b) Số ghi giảm thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ

(2a) Cuối kỳ kết chuyển các khoản giảm trừ sang TK 511 để xác định doanh thu

thuần.

(2b) Thuế GTGT trực tiếp, thuế TTĐB, Thuế xuất khẩu (nếu có)

1.2.3. Kế tốn giá vốn hàng bán

a) Nội dung kế toán giá vốn hàng bán

Khi xác định giá trị hàng tồn kho cuối kỳ, doanh nghiệp áp dụng theo một trong

các phương pháp sau:

-



Phương pháp tính theo giá đích danh: Phương pháp tính theo giá đích



danh được áp dụng dựa trên giá trị thực tế của từng thứ hàng hoá mua vào, từng thứ

sản phẩm sản xuất ra nên chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp có ít mặt hàng hoặc mặt

hàng ổn định và nhận diện được.

-



Phương pháp bình quân gia quyền: Theo phương pháp bình quân gia



quyền, giá trị của từng loại hàng tồn kho được tính theo giá trị trung bình của từng

loại hàng tồn kho đầu kỳ và giá trị từng loại hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất

trong kỳ. Giá trị trung bình có thể được tính theo từng kỳ hoặc sau từng lô hàng

nhập về, phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của mỗi doanh nghiệp.

Phương pháp nhập trước, xuất trước (FIFO): Phương pháp nhập trước,



-



xuất trước áp dụng dựa trên giả định là giá trị hàng tồn kho được mua hoặc được

sản xuất trước thì được xuất trước, và giá trị hàng tồn kho còn lại cuối kỳ là giá trị

hàng tồn kho được mua hoặc sản xuất gần thời điểm cuối kỳ. Theo phương pháp

này thì giá trị hàng xuất kho được tính theo giá của lơ hàng nhập kho ở thời điểm

đầu kỳ hoặc gần đầu kỳ, giá trị của hàng tồn kho cuối kỳ được tính theo giá của

hàng nhập kho ở thời điểm cuối kỳ hoặc gần cuối kỳ còn tồn kho.

b) Tài khoản sử dụng

Tài khoản 632 – giá vốn hàng bán

Tài khoản này dùng để phản ánh trị giá vốn của sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ,

bất động sản đầu tư; giá thành sản xuất của sản phẩm xây lắp (đối với doanh nghiệp

xây lắp) bán trong kỳ. Ngồi ra, tài khoản này còn dùng để phản ánh các chi phí liên

quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản đầu tư như: Chi phí khấu hao; chi phí

sửa chữa; chi phí nghiệp vụ cho thuê BĐS đầu tư theo phương thức cho thuê hoạt

động (trường hợp phát sinh khơng lớn); chi phí nhượng bán, thanh lý BĐS đầu tư…

Các tài khoản liên quan TK 156, 111, 112, 131…

c) Sơ đồ hạch toán kế toán giá vốn hàng bán theo phương pháp kê khai thường

xuyên

Sơ đồ 1.3 : Hạch toán giá vốn hàng bán



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN BÁN HÀNG VÀ XÁC ĐỊNH KẾT QUẢ KINH DOANH TRONG DOANH NGHIỆP THƯƠNG MẠI

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x