Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Biểu hiện này thể hiện ở một số cán bộ tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ thuộc phe, cánh của người lãnh đạo đã tham mưu trong việc bố trí người thân của họ dù trình độ năng lực yếu, phẩm chất đạo đức kém, kinh nghiệm công tác không có vào những chức vụ

Biểu hiện này thể hiện ở một số cán bộ tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ thuộc phe, cánh của người lãnh đạo đã tham mưu trong việc bố trí người thân của họ dù trình độ năng lực yếu, phẩm chất đạo đức kém, kinh nghiệm công tác không có vào những chức vụ

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tình trạng trên có cả ngun nhân khách quan và chủ quan. Về nguyên

nhân khách quan cho thấy, một số quy định của Đảng, Nhà nước ban hành

nhưng chưa đồng bộ, chưa đầy đủ, nên bị một số cán bộ lãnh đạo, quản lý

hoặc cán bộ làm công tác tham mưu về tổ chức, cán bộ lợi dụng để tham mưu,

“lách luật” ban hành những quy định có lợi cho lợi ích của cán bộ lãnh đạo

hoặc người thân của họ hoặc cho chính cán bộ làm cơng tác tham mưu về

công tác cán bộ. Về nguyên nhân chủ quan cho thấy, một số cán bộ tham mưu

về công tác tổ chức, cán bộ hoặc cán bộ lãnh đạo dù nhận thức đúng, đầy đủ

chủ trương, chính sách của Đảng về cơng tác cán bộ nhưng vì lợi ích cục bộ,

lợi ích nhóm đã cố tình khơng thực hiện đúng, đã chỉ đạo hoặc chủ động tham

mưu ban hành những chủ trương, chính sách về cơng tác cán bộ ở cấp mình

nhằm vụ lợi cho bản thân, người thân hoặc “cánh hẩu” của mình; mà khơng vì

lợi ích chung của cơ quan, tổ chức, của tồn Đảng về cơng tác cán bộ. Một số

cán bộ lãnh đạo không chấp hành nghiêm quy chế làm việc, nguyên tắc tập

trung dân chủ trong công tác cán bộ, dẫn đến vi phạm về cơng tác này vì lợi

ích cục bộ, hoặc lợi dụng cơ chế tập thể để hợp pháp hóa lợi ích cục bộ của

một số ít người, “cánh hẩu” của mình hoặc người thân của mình trong cơng

tác bổ nhiệm, đề bạt, bầu cử cán bộ.

2.3. Những biểu hiện của tham nhũng chính sách trong cơ quan và

tổ chức đảng.

Một chính sách ra đời phải trải qua 4 giai đoạn chính, bất kỳ giai đoạn

nào cũng có thể xảy ra tham nhũng. Theo đó, giai đoạn thứ nhất là lựa chọn

vấn đề chính sách: Một đất nước, hàng ngày có hàng ngàn vấn đề đang đặt ra

cần được giải quyết bằng chính sách. Vậy nhưng vấn đề nào cần ưu tiên giải

quyết ngay hơm nay?

Nếu một quy trình chính sách đúng, nhà hoạch định chính sách phải có

thơng tin đầy đủ, xem vấn đề gì nhân dân bức xúc nhất, quan tâm nhất, giải

quyết được vấn đề đó sẽ tháo gỡ cho các vấn đề khác. Những nhà hoạch định

chính sách phải rất khách quan khi tiếp nhận và xử lý thơng tin, quyền tiếp

11



cận các “kênh” thơng tin phải bình đẳng, năng lực “đưa” (diễn giải) thông tin

phải ngang nhau.

Tuy nhiên trên thực tế, việc hoạch định chính sách khơng phải lúc nào

cũng đảm bảo khách quan. Những nhóm có thế mạnh thường có cách để đưa

thơng tin và có các “kênh” để làm cho cơ quan chức năng quan tâm hơn đến

vấn đề của họ. Để tiếp cận nhanh đến cơ quan chức năng, những nhóm này có

thể vận động “hành lang”, thậm chí “bơi trơn”… để được quan tâm hơn. Như

vậy, rõ ràng những đối tượng yếu thế như nông dân, công nhân sẽ thua thiệt

trong vấn đề này.

Giai đoạn thứ hai là xây dựng và ban hành chính sách, tham nhũng có

thể xảy ra với những hình thức rất tinh vi. Nhóm tham nhũng có thể “chèn”

các câu chữ vào văn bản quy phạm pháp luật, nhất là những câu chữ liên quan

đến lợi ích của họ. Họ có thể thêm các thủ tục, các loại “giấy phép con” sao

cho người của họ có thể lợi dụng được. Có thể coi đó là một trong những

nguyên nhân khiến chúng ta dù đã thực hiện chiến lược cải cách hành chính

15 năm nay, nhưng vẫn chưa đạt được kết quả mong muốn.

Tham nhũng ở giai đoạn này rất “khéo” và rất tinh vi. Chúng nhân danh

sự “chặt chẽ’ trong quản lý nhà nước, nhân danh “an ninh quốc gia”, nhân

danh “lợi ích nhân dân”… Kết quả là chủ trương, chính sách một đằng, khi

thực hiện lại một nẻo, xung đột pháp lý, xung đột chính sách là hiện tượng

nhức nhối đến nay vẫn chưa giải quyết được.

Giai đoạn thứ ba là tổ chức thực hiện chính sách. Ở giai đoạn này, các

nguồn lực của Nhà nước được huy động để thực hiện chính sách. Những kẻ

tham nhũng sẽ câu kết với nhau để “đấu thầu”, “chỉ định thầu”, “xin-cho”,

“lại quả”, “bôi trơn”… Tác hại của tham nhũng trong giai đoạn này đã q rõ:

Các cơng trình lớn nhỏ đều bị “rút ruột”, làm ăn dối trá, mua thiết bị công

nghệ cũ kỹ, năng suất lao động thấp…

Giai đoạn cuối cùng là đánh giá chính sách. Trong giai đoạn này, chính

sách cần được đánh giá để hồn thiện hoặc kết thúc. Đánh giá chính sách cần

12



áp dụng nhiều tiêu chí, trên nhiều phương diện: Chính trị, xã hội, kinh tế, môi

trường… Đánh giá bởi các cơ quan chức năng của Nhà nước, đánh giá bởi các

cơ quan độc lập, đánh giá của người thụ hưởng chính sách, đánh giá của nhân

dân… Tham nhũng ở giai đoạn này làm cho việc đánh giá thiếu khoa học,

thiếu khách quan và thiếu tồn diện.

2.4. Một số giải pháp khắc phục “lợi ích nhóm” trong cơ quan nhà

nước và tổ chức đảng.

Biểu hiện “lợi ích nhóm” trong cơ quan nhà nước và các tổ chức đảng

thời gian qua với những dạng khác nhau ở các cấp độ, mức độ khác nhau

trong các cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, đoàn thể chính trị - xã hội,

tuy chưa nhiều, chưa phổ biến nhưng rất nguy hại, cần sớm có chủ trương,

giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn kịp thời. Theo chúng tôi, cần tập

trung thực hiện đồng bộ một số giải pháp chính sau đây:

Một là, nâng cao nhận thức cho các cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người

đứng đầu về tác hại của nhóm lợi ích tiêu cực và lợi ích nhóm tiêu cực trong

cơ quan nhà nước để từ đó nâng cao vai trò, trách nhiệm trong lãnh đạo, chỉ

đạo việc nghiên cứu, ban hành các chủ trương, đường lối, chính sách, nghị

quyết, quy định, quyết định cũng như tổ chức thực hiện đúng chủ trương

đường lối của đảng. Nâng cao nhận thức, phẩm chất đạo đức, trách nhiệm cho

cán bộ tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ, người đứng đầu cấp ủy, chính

quyền, Mặt trận Tổ quốc, các đồn thể chính trị - xã hội, tổ chức kinh tế của

Nhà nước về tác hại của lợi ích nhóm, để từ đó thực hiện đúng, tốt chức năng

tham mưu trong xây dựng, ban hành, tổ chức thực hiện các chủ trương, chính

sách, nghị quyết, chế độ của Đảng, Nhà nước về công tác tổ chức, cán bộ. Kịp

thời thay thế hoặc bố trí cơng việc khác cho phù hợp đối với những cán bộ

tham mưu về cơng tác tổ chức, cán bộ có biểu hiện động cơ lợi ích nhóm, suy

thối tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, quan liêu, thiếu trách nhiệm hoặc

tiêu cực trong tham mưu, thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao, uy tín

giảm sút.

13



Hai là, để tích cực tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục cho cán

bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trước hết là người

đứng đầu phải nêu cao tinh thần “cần, kiệm, liêm, chính, chí cơng vơ tư”, tiếp

tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh theo

Chỉ thị số 03-CT/TW, của Bộ Chính trị, ngày 14-5-2011 và Quy định số 101QĐ/TW của Ban Bí thư, ngày 7-6-2012, về trách nhiệm nêu gương của cán

bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp; đồng thời thực hiện

nghiêm Quy định về những điều đảng viên không được làm; nêu cao ý thức

thực hiện đúng quy định về đạo đức công vụ, quy tắc ứng xử của cán bộ, công

chức. Động viên người thân trong gia đình chấp hành nghiêm túc quy định

của Đảng và Nhà nước về công tác tổ chức, cán bộ, không lợi dụng chức vụ,

quyền hạn của mình can thiệp, tác động để làm trái hoặc được hưởng những

chế độ, chính sách về cơng tác cán bộ không đúng tiêu chuẩn, điều kiện.

Ba là, nâng cao chất lượng ban hành và tổ chức thực hiện các chủ

trương, nghị quyết, chính sách, chế độ của Đảng, Nhà nước về chính sách xã

hội, chuẩn xác, cơng khai, minh bạch. Đồng thời phải kiểm sốt, giám sát chặt

chẽ q trình thực thi mới hạn chế được việc lợi dụng, “lách luật” để cấp dưới

ban hành chủ trương, chính sách, chế độ thuộc cấp mình hoặc vận dụng thực

hiện quy định của cấp trên ban hành mang tính chất lợi ích nhóm để trục lợi.

Chấn chỉnh lại cơng tác tổ chức, cán bộ vì nhân tố con người là quan trọng

nhất và quyết định tất cả. Chỉ đạo xây dựng một bộ tiêu chí cụ thể, sát thực

hơn để đánh giá cán bộ một cách công khai, công bằng, hiệu quả nhất, đáp

ứng được 3 tiêu chuẩn: thứ nhất, có tầm nhìn, năng lực, nhất là năng lực thực

tiễn; thứ hai, có khả năng tổ chức triển khai; thứ ba, gương mẫu, hết lòng

phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, khơng cá nhân chủ nghĩa, khơng lợi ích

cục bộ, lợi ích nhóm. Đổi mới cơng tác tổ chức, cán bộ theo hướng đề cao

quy chuẩn hóa, chuyên nghiệp hóa, chuyên mơn hóa và đề cao trách nhiệm cá

nhân, người đứng đầu; khắc phục tình trạng bầu cử, bổ nhiệm, đề bạt tuy đúng

quy trình, hình thức, nhưng khơng bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, chất lượng

14



cán bộ theo quy hoạch và thực tế năng lực, trình độ của họ; coi trọng phát

hiện, đào tạo, sử dụng và tôn vinh người tài, “đủ tâm” và “đủ tầm” gánh vác

trọng trách được giao; kiên quyết chống những biểu hiện lợi ích nhóm, tham

nhũng, tiêu cực trong công tác tổ chức, cán bộ. Nâng cao mức lương cho cán

bộ, công chức, bảo đảm để họ có thể sống được bằng lương và thể hiện danh

dự của người cán bộ, công chức sẵn sàng cống hiến cho Đảng, Nhà nước và

hết lòng phục vụ nhân dân. Kịp thời sơ kết, tổng kết, đánh giá việc thực hiện

các chủ trương, chính sách, chế độ, nghị quyết, quy định về công tác tổ chức,

cán bộ đã ban hành để rút kinh nghiệm, điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi những

quy định khơng còn phù hợp, khó thực hiện, dễ bị lợi dụng tạo lợi ích nhóm

để trục lợi; ban hành mới những quy định còn thiếu và tổ chức thực hiện chặt

chẽ, nghiêm túc, có kết quả.

Bốn là, các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra cấp trên phải chú

trọng, tăng cường, đổi mới phương thức, biện pháp, nội dung kiểm tra, giám

sát, kiểm soát tổ chức đảng cấp dưới, cán bộ, đảng viên dưới quyền trong việc

thực hiện các chủ trương, chính sách, nghị quyết, chế độ, quy định về cơng

tác hoạch định chính sách , trong thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao về

công tác tổ chức bộ máy nhà nước và tổ chức đảng. Đặc biệt là phải hết sức

coi trọng kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực (quyền lực

chính trị, quyền lực nhà nước) của tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, cán bộ,

đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước, cơ

quan, đơn vị, kể cả cán bộ tham mưu cấp chiến lược từ cấp tỉnh trở lên về

công tác tổ chức, cán bộ; bảo đảm quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước

đều phải được kiểm tra, giám sát, kiểm soát nghiêm ngặt, chặt chẽ bằng chế

độ, quy định, quy chế cụ thể, không được lạm dụng thực hiện lợi ích nhóm để

trục lợi. Các cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước phải tiếp tục rà soát để bổ

sung, sửa đổi quy chế làm việc, chế độ cơng tác cho phù hợp, trong đó xác

định rõ và phân công cụ thể, rành mạch trách nhiệm, quyền hạn của tập thể,

cá nhân, nhất là trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, tổ

15



chức nhà nước, mối quan hệ giữa các thành viên trong chỉ đạo, điều hành nói

chung, trong cơng tác hoạch định chính sách nói riêng để thực sự phát huy

dân chủ, chấp hành nghiêm túc nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo,

cá nhân phụ trách, khắc phục tình trạng độc đoán, chuyên quyền, gia trưởng

hoặc quyền lực tập trung vào một số ít người, hoặc lợi dụng cơ chế tập thể để

hợp pháp hóa chủ trương, quyết định biểu hiện lợi ích nhóm, lợi ích cục bộ

của một số ít người, thậm chí của một người. Ban hành và tổ chức thực hiện

quy định về kiểm tra, giám sát đối với cán bộ, đảng viên có chức vụ, quyền

hạn chủ trì ở các cấp ủy, tổ chức đảng, tổ chức nhà nước trước khi kết thúc

nhiệm kỳ để chống “lợi ích nhóm”. Thường xun kiểm tra, giám sát, kiểm

soát, phát hiện, xử lý, loại bỏ kịp thời những cán bộ tham nhũng, suy thối

đạo đức, lối sống, vơ trách nhiệm, mất uy tín và trở thành lực cản phát triển.

Những trường hợp có dấu hiệu vi phạm, bị tố cáo có vi phạm về lợi ích nhóm

trong cơng tác hoạch định chính sách phải được chỉ đạo, tổ chức kiểm tra,

xem xét, kết luận, xử lý kịp thời, nghiêm minh. Tăng cường cơng tác đấu

tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong tổ chức đảng, tổ chức nhà

nước, tổ chức kinh tế của Nhà nước,... trong cán bộ, đảng viên, cơng chức gắn

với đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn lợi ích nhóm trong cơng tác tổ chức bộ

máy nhà nước và tổ chức đảng để trục lợi. Trong đó chú trọng thực hiện quy

định tất cả cơng chức khi vào làm việc tại cơ quan đảng, chính quyền đều phải

kê khai trung thực, đầy đủ, chính xác tài sản của bản thân và của gia đình

mình và sau đó phải thực hiện kê khai thường xuyên hằng năm; cuối nhiệm

kỳ công tác hoặc trước khi được điều động, điều chuyển, luân chuyển công

tác mới, bảo đảm công khai, minh bạch các nguồn thu nhập của bản thân và

gia đình. Có biện pháp kiểm tra, giám sát, kiểm sốt và xử lý kịp thời các hoạt

động phi pháp, ngăn chặn các biểu hiện bất minh, lợi ích nhóm, bảo đảm

khơng có cơ hội để lợi dụng tạo ra nhóm lợi ích tiêu cực và lợi ích nhóm tiêu

cực trong cơng tác hoạch định chính sách để tham nhũng, trục lợi. Sử dụng

những công cụ, biện pháp giám sát của cộng đồng, của nhân dân và xã hội để

16



phát hiện những dấu hiệu bất thường, bất minh nhằm chủ động phòng ngừa,

ngăn chặn lợi ích nhóm trong cơng tác cơng tác tổ chức bộ máy nhà nước và

tổ chức đảng .



17



KẾT LUẬN

Phòng chống tham nhũng và lợi ích nhóm là gốc của Đảng, bảo vệ sự

trong sạch, vững mạnh của Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị, của tổ chức

đảng và cán bộ, đảng viên. Nếu trong lĩnh vực này có suy thối, biến chất,

tham nhũng, tiêu cực ở mức độ “lợi ích nhóm” thì rất nguy hại cho Đảng, Nhà

nước, làm suy giảm niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân đối với Đảng.

Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến yếu kém, khuyết điểm, hạn chế

trong công tác bổ nhiệm cán bộ ở cơ quan và tổ chức đảng thời gian qua, dẫn

đến tình trạng còn một bộ phận khơng nhỏ cán bộ, đảng viên suy thối về tư

tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, quan liêu, tham nhũng, tiêu cực; tình trạng

chạy chức, chạy quyền, chạy thành tích, chạy tội, bao che cho khuyết điểm sai

phạm của cấp dưới. Vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ sự hình thành lợi ích

nhóm, khái niệm lợi ích nhóm, biểu hiện của “lợi ích nhóm” trong công tác tổ

chức bộ máy nhà nước và tổ chức đảng chỉ rõ ngun nhân dẫn đến lợi ích

nhóm, đề xuất một số giải pháp đấu tranh, ngăn chặn, giúp cho các cấp ủy, tổ

chức đảng, ủy ban kiểm tra thấy được sự nguy hại, ảnh hưởng tiêu cực của nó

đối với cơng tác tác tổ chức bộ máy nhà nước nói chung và tổ chức đảng nói

riêng để có cơ sở, căn cứ đề ra các chủ trương, giải pháp phòng ngừa, đấu

tranh thực sự có hiệu lực, hiệu quả, góp phần xây dựng Đảng ta ngày càng

trong sạch, vững mạnh, đủ sức lãnh đạo thực hiện thắng lợi sự nghiệp cách

mạng của Đảng./.



18



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Trần Quang Nhiếp (chủ biên) (2005), Nâng cao hiệu quả của báo chí

trong đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng ở nước ta hiện nay , Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

2. Lưu Văn An (2010), Vận động hành lang trong đời sống chính trị các nước

phương Tây, Nxb. Chính trị - hành chính, Hà Nội.

3. Nguyễn Cảnh Bình (7/2004), Thủ tục chất vấn của Nghị viện Anh, Tạp chí

Nghiên cứu lập pháp.

4. Lê Vinh Danh (2001), Chính sách cơng ở Hoa Kỳ (giai đoạn 1935 - 2001),

Nxb. Thống kê, Hà Nội.

5. Nguyễn Chí Dũng (9/2006), Vận động hành lang trong hoạt động lập pháp

các nước và xu hướng ở Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 83.

6. Hồng Minh Hiếu (2003), Vai trò của ủy ban trong quy trình lập pháp ở

nghị viện một số nước, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 7.

7. Ngọc Hà (9/2007), Vận động và hối lộ - Lằn ranh giới mong manh, Báo

Người đại biểu nhân dân.

8. Lê Quốc Lý (2014), Lợi ích nhóm - thực trạng và giải pháp, Nxb

Chính trị quốc gia, Hà Nội.

9. Lê Hữu Nghĩa, Lê Ngọc Tòng (2004), Tồn cầu hóa – những vấn đề

lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.



19



MỤC LỤC

MỞ ĐẦU............................................................................................................................1

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI ÍCH NHĨM VÀ THAM NHŨNG

CHÍNH SÁCH..................................................................................................................3

1.1. Khái niệm lợi ích nhóm và tham nhũng chính sách...................................3

1.2. Đặc điểm của nhóm lợi ích, tham nhũng chính sách..................................4

CHƯƠNG II. THỰC TRẠNG VÀ VIỆC XÂY DỰNG CƠ CHẾ PHỊNG

CHỐNG LỢI ÍCH NHĨM VÀ THAM NHŨNG CHÍNH SÁCH.................7

2.1. Thực trạng “Lợi ích nhóm”.................................................................................7

2.2. Lợi ích nhóm trong các cơ quan và tổ chức Đảng hiện nay.....................8

2.3. Những biểu hiện của tham nhũng chính sách trong cơ quan và tổ

chức đảng.........................................................................................................................11

2.4. Một số giải pháp khắc phục “lợi ích nhóm” trong cơ quan nhà nước

và tổ chức đảng..............................................................................................................13

KẾT LUẬN......................................................................................................................18

TÀI LIỆU THAM KHẢO..........................................................................................19



20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Biểu hiện này thể hiện ở một số cán bộ tham mưu về công tác tổ chức, cán bộ thuộc phe, cánh của người lãnh đạo đã tham mưu trong việc bố trí người thân của họ dù trình độ năng lực yếu, phẩm chất đạo đức kém, kinh nghiệm công tác không có vào những chức vụ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×