Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

Tải bản đầy đủ - 0trang

1.1s. Vốn và tầm quan trọng của vốn trong hoạt động sản xuất kinh doanh



9



1. 1.1. Khái niệm vốn

Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, bất kỳ một doanh nghiệp nào

muốn tồn tại và phát triển được đều cần phải có nguồn tài chính đủ mạnh, đây là một

trong ba yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp có thể duy trì hoạt động của mình,

nhiều quan niệm về vốn, như:

Theo nghĩa hẹp thì: vốn là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh

nghiệp, mỗi quốc gia.

Theo nghĩa rộng thì: vốn bao gồm tồn bộ các yếu tố kinh tế được bố trí để

sản xuất hàng hố, dịch vụ như tài sản hữu hình, tài sản vơ hình, các kiến thức kinh

tế, kỹ thuật của doanh nghiệp được tích luỹ, sự khéo léo về trình độ quản lý và tác

nghiệp của các cán bộ điều hành, cùng đội ngũ cán bộ công nhân viên trong doanh

nghiệp, uy tín của doanh nghiệp. Quan điểm này có ý nghĩa quan trọng trong việc

khai thác đầy đủ hiệu quả của vốn trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, việc xác

định vốn theo quan điểm này rất khó khăn phức tạp nhất là khi nước ta trình độ quản

lý kinh tế còn chưa cao và pháp luật chưa hồn chỉnh.

Theo quan điểm của Mác thì: vốn (tư bản) khơng phải là vật, là tư liệu sản

xuất, không phải là phạm trù vĩnh viễn. Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư

bằng cách bóc lột lao động làm thuê. Để tiến hành sản xuất, nhà tư bản ứng tiền ra

mua tư liệu sản xuất và sức lao động, nghĩa là tạo ra các yếu tố của quá trình sản

xuất. Các yếu tố này có vai trò khác nhau trong việc tạo ra giá trị thặng dư. Mác chia

tư bản thành tư bản bất biến và tư bản khả biến. Tư bản bất biến là bộ phận tư bản

tồn tại dưới hình thức tư liệu sản xuất (máy móc, thiết bị, nhà xưởng,) mà giá trị

của nó được chuyển nguyên vẹn vào sản phẩm. Còn tư bản khả biến là bộ phận tư

bản tồn tại dưới hình thức lao động, trong quá trình sản xuất thay đổi về lượng, tăng

lên do sức lao động của hàng hoá tăng.



10



Theo David Begg, Stenley Ficher, Rudiger Darubused trong cuốn (Kinh tế học)

thì: vốn hiện vật là giá trị của hàng hoá đã sản xuất được sử dụng để tạo ra hàng hoá

và dịch vụ khác. Ngồi ra còn có vốn tài chính. Bản thân vốn là một hàng hoá nhưng

được tiếp tục sử dụng vào sản xuất kinh doanh tiếp theo. Quan điểm này đã cho thấy

nguồn gốc hình thành vốn và trạng thái biểu hiện của vốn, nhưng hạn chế cơ bản là

chưa cho thấy mục đích của việc sử dụng vốn.

Có thể thấy, các quan điểm khác nhau về vốn ở trên, một mặt thể hiện được

vai trò tác dụng trong điều kiện lịch sử cụ thể với các yêu cầu, mục đích nghiên cứu

cụ thể. Mặt khác, trong cơ chế thị trường hiện nay, đứng trên phương diện hạch tốn

và quản lý, các quan điểm đó chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về quản lý đối

với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

Từ những vấn đề nói trên,có thể nói quan niệm về vốn là: phần thu nhập

quốc dân dưới dạng tài sản vật chất và tài chính được cá nhân, các doanh nghiệp

bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh nhằm mục đích tối đa hố lợi ích.

1.1.2. Đặc trưng cơ bản của vốn

Vốn là đại diện cho một lượng giá trị tài sản: Điều này có nghĩa vốn là sự

biểu hiện bằng giá trị của các tài sản hữu hình và vơ hình như: Nhà xưởng, máy

móc, thiết bị, đất đai, bằng phát minh, sáng chế... Với tư cách này các tài sản tham

gia vào q trình sản xuất kinh doanh nhưng nó không bị mất đi mà thu hồi được giá

trị.

Vốn luôn vận động để sinh lời: Vốn được biểu hiện bằng tiền, nhưng tiền chỉ

là dạng tiềm năng của vốn, để trở thành vốn thì đồng tiền phảI được đưa vào hoạt

động kinh doanh để sinh lời. Trong quá trình vận động, vốn có thể thay đổi hình thái

biểu hiện nhưng điểm xuất phát và điểm cuối cùng của vòng tuần hoàn phải là giá

trị- là tiền. Đồng vốn đến điểm xuất phát mới với giá trị lớn hơn. Đó cũng là nguyên

tắc đầu tư, sử dụng, bảo toàn và phát triển vốn. Nói một cách khác, vốn kinh doanh



11



trong quá trình tuần hồn ln có ở giai đoạn của q trình tái sản xuất và thường

xuyên chuyển từ dạng này sang dạng khác. Các giai đoạn này được lặp đi lặp lại

theo một chu kỳ, mà sau mỗi chu kỳ vốn kinh doanh được đầu tư nhiều hơn. Chính

yếu tố này đã tạo ra sự phát triển của các doanh nghiệp theo quy luật tái sản xuất mở

rộng.

Trong quá trình vận động vốn không tách rời chủ sở hữu: Mỗi đồng vốn đều

có chủ sở hữu nhất đinh, nghĩa là khơng có những đồng vốn vơ chủ, ở đâu có đồng

vốn vơ chủ thì ở đó sẽ có sự chi tiêu, lãng phí, kém hiêu quả. ở đây vần có sự phân

biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng vốn, đó là hai quyền năng khác nhau. Tuỳ theo

hình thức đầu tư mà người sở hữu và người sử dụng vốn có thể đồng nhất hay tách

rời. Song, dù trường hợp nào đi chăng nữa, người sở hữu vốn vẫn được ưu tiên đảm

bảo quyền lợi và phải được tôn trọng quyền sở hữu vốn của mình. Có thể nói đây là

một nguyên tắc cực kỳ quan trọng trong việc huy động, quản lý và sử dụng vốn. Nó

cho phép huy động được vốn nhàn rỗi trong dân cư vào sản xuất kinh doanh, đồng

thời quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả. Nhận thức được đặc trưng này sẽ giúp

doanh nghiệp tìm mọi biện pháp để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

Vốn phải được tập trung tích tụ đến một lượng nhất định mới có thể phát huy

tác dụng: Muốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, vốn phải được tập trung thành một

lượng đủ lớn để mua sắm máy móc thiết bị, nguyên vật liệu cho sản xuất và chủ

động trong các phương án sản xuất kinh doanh. Muốn làm được điều đó, các doanh

nghiệp khơng chỉ khai thác các tiềm năng về vốn của mình, mà phải tìm cách thu hút

vốn từ nhiều nguồn khác như phát cổ phiếu, góp vốn liên doanh liên kết...

Vốn có giá trị về mặt thời gian: Một đồng hơm nay có giá trị hơn giá trị đồng

tiền ngày hơm sau, do giá trị của đồng tiền chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như:

đầu tư, rủi ro, lạm phát, chính trị... Trong cơ chế kế hoạch hố tập trung, vấn đề này

khơng được xem xét kỹ lưỡng vì nhà nước đã tạo ra sự ổn định của đồng tiền một

cách giả tạo trong nền kinh tế. Trong điều kiện kinh tế thị trường cần phải xem xét



12



về yếu tố thời gian của đồng vốn, bởi do ảnh hưởng sự biến động của giá cả thị

trường, lạm phát... nên sức mua của đồng tiền ở các thời điểm là khác nhau.

Vốn là loai hàng hoá đặc biệt: Những người sẵn có vốn có thể đưa vốn vào

thị trường, còn những người cần vốn thì vay. Nghĩa là những người đi vay được

quyền sử dụng vốn của ngưoif cho vay. Người đi vay phải mất một khoản tiền trả

cho người vay. Đây là một khoản chi phí sử dụng vốn mà người đi vay phải trả cho

người cho vay, hay nói cách khác chính là giá của quyền sử dụng vốn. Khác với các

loại hàng hố thơng thường khác, “ hàng hố vốn “ khi bán đi sẽ khơng mất quyền

sử hữu mà chỉ mất quyền sử dụng trong một thời gian nhất đinh. Việc mua bán này

diễn ra trên thị trường tài chính, giá mua bán tuân theo quan hệ cung- cầu về vốn

trên thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường, vốn không chỉ được biểu hiện bằng tiền của

những tài sản hữu hình mà nó còn biểu hiện giá trị của những tài sản vơ hình như:

Vị trí địa lý kinh doanh, nhãn hiệu thương mại, bản quyền, phát minh sáng chế, bí

quyết cơng nghệ... Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường thì khoa học kỹ

thuật, công nghệ cũng phát triển mạnh mẽ. Điều này làm cho tài sản vơ hình ngày

càng đa dạng phong phú, đóng góp một phần khơng nhỏ trong việc tạo ra khả nằng

sinh lời của doanh nghiệp.



1.1.3. Phân loại vốn kinh doanh.

Có nhiều cách phân loại vốn kinh doanh, tuỳ theo mục tiêu nghiên cứu mà có

thể có nhiều tiêu thức phân loại vốn kinh doanh khác nhau.

1.1.3.1. Phân loại vốn trên góc độ pháp luật, vốn bao gồm :

Vốn pháp định: là mức vốn tối thiểu phải có đẻ thành lập doanh nghiệp do

pháp luật quy định, đảm bảo năng lực kinh doanh đối với từng ngành nghề và từng



13



loại hình sở hữu của doanh nghiệp. Dưới mức vốn pháp định thì khơng đủ điều kiện

để thành lập doanh nghiệp.

Vốn điều lệ: là vốn do các thành viên đóng góp và được ghi vào điều lệ của

Công ty (doanh nghiệp). Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, theo từng ngành

nghề , vốn điều lệ không được thấp hơn vốn pháp định.

1.1.3.2. Phân loại vốn theo nguồn hình thành:

Vốn đầu tư ban đầu: là số vốn phải có khi hình thành doanh nghiệp, tức là số

vốn cần thiết để đăng ký kinh doanh, hoặc vốn góp của cơng ty trách nhiệm hữu

hạn, công ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc vốn của nhà nước giao.

Vốn liên doanh: là vốn đóng góp do các bên cùng cam kết kiên doanh với

nhau để hoạt động thương mại hoặc dịch vụ...

Vốn bổ sung: là số vốn tăng thêm do bổ sung từ lợi nhuận, do nhà nước bổ

sung bằng phân phối hoặc phân phối lại nguồn vốn do sự đóng góp của các thành

viên hoặc, do bán trái phiếu...

Vốn đi vay: là các khoản nợ phát sinh trong quá trình kinh doanh mà doanh

nghiệp có nhiệm vụ phải thanh tốn cho các tác nhân kinh tế khác như ngân hàng,

các tổ chức kinh tế, phải trả nhà nước, phải trả cho người bán... Ngồi ra, còn có

khoản vốn chiếm dụng lẫn nhau của các đơn vị nguồn hàng, khách hàng và bạn

hàng.



1.1.3.3. Phân loại vốn theo thời gian huy động vốn.

Vốn thường xuyên: bao gồm vốn chủ sở hữu và các khoản nợ dài hạn của

doanh nghiệp. Đây là nguồn vốn được dùng để tài trợ cho các hoạt động đầu tư

mang tính dài hạn của doanh nghiệp.



14



Vốn tạm thời: Là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới một năm) mà doanh

nghiệp có thể sử dụng để đáp ứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát

sinh trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.

1.1.3.4. Phân loại vốn theo phương thức chu chuyển:

Trong quá trình sản xuất và tái sản xuất, vốn vận động một cách liên tục. Nó

biểu hiện bằng những hình thái vật chất khác nhau, từ tiền mặt đến tư liệu lao động,

hàng hoá dự trữ... Sự khác nhau về mặt vật chất này tạo ra đặc điểm chu chuyển

vốn, theo đó người ta phân chia vốn thành hai loại là vốn cố định và vốn lưu động.

Vốn cố định: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định, hay nói cách khác:

Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận của vốn sản xuất biểu hiện dưới giá

trị ban đầu để đầu tư vào các tài sản cố định nhằm phục vụ cho hoạt động được kinh

doanh, mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần váo gía trị của sản

phẩm qua nhiều chu kì sản xuất và hồn thành một vòng tuần hồn khi TSCĐ hết

thời gian sử dụng. Bộ phận vốn cố định trở về tay người sở hữu (chủ doanh nghiệp)

dưới hình thái tiền tệ sau khi tiêu thụ sản phẩm hay dịch vụ hàng hố của mình.

Vốn lưu động: là một bộ phận của vốn sản xuất được biểu hiện bằng số tiền

ứng trước về tài sản lưu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh

nghiệp được tiến hành một cách thường xuyên liên tục, nó được chuyển tồn bộ một

lần vào giá trị sản phẩm cà được thu hồi sau khi thu được tiền bán sản phẩm.

1.2. Các bộ phận cấu thành vốn kinh doanh của doanh nghiệp.

Vốn kinh doanh của doanh nghiệp được cấu thành bởi hai bộ phận là vốn cố

định và vốn lưu động. Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, ngành nghề kinh

doanh, công nghệ sản xuất áp trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật mà các doanh

nghiệp xác định được tỷ lệ vốn hợp lý. Việc xác định cơ cấu vốn là yếu tố quan

trọng, nó thể hiện trình độ quản lý và sử dụng vốn ở mỗi doanh nghiệp.

1.2.1. Vốn cố định của doanh nghiệp.



15



1.2.1.1. Khái niệm và đặc điểm vốn cố định.

Vốn cố định: là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định. Hay nói cách khác: số

vốn đầu tư ứng trước để mua sắm, xây dựng hay lắp đặt các tài sản cố định vơ hình

và hữu hình nhằm phục vụ sản xuất kinh doanh được gọi là vốn cố định của doanh

nghiệp.

Tài sản cố định là bộ phận tư liệu lao động chủ yếu quan trọng nhất của doanh

nghiệp. Đó là những tư liệu lao động như máy móc thiết bị, nhà xưởng, phương tiện

vận chuyển....Quyết định số 1062/TC/QĐ/CSTC ngày 14/11/1996 của Bộ tài chính

quy định, mọi tư liệu lao động được coi là tài sản cố đinh thoả mãn đủ hai điều kiện

sau:

- Thời gian sử dụng tối thiểu là một năm

- Giá trị phải đạt đến một độ lớn nhất định. Hiện nay áp dụng mức tối thiểu là 5 triệu

đồng.

Như phân tích ở trên, khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh, sự vận

động tài sản cố định có những đặc điểm sau:

- Về mặt hiện vật: Tài sản cố định tham gia hoàn toàn và nhiều lần vào q trình sản

xuất kinh doanh và nó bị loại ra khỏi quá trình sản xuất kinh doanh.

- Về mặt giá trị: Giá trị của tài sản số định sẽ được chuyển dịch dần từng phần vào

giá trị hàng hố, sản phẩm mà nó tạo ra trong q trình sản xuất.

Do đặc điểm về mặt hiện vật và giá trị của tài sản cố định đã quyết định đến

hình thái biểu hiện của vốn cố định trên hai góc độ đó là: Vốn dưới hình thái hiện

vật và vốn tiền tệ.

- Phần giá trị hao mòn của tài sản cố định được dịch chuyển dần vào giá trị của sản

phẩm gọi là khấu hao tài sản cố định. Bộ phận giá trị này là yếu tố chi phí sản xuất

và cấu thành nên giá thành sản phẩm, biểu hiện dưới hình thức tiền tệ. Số tiền khấu

hao này được trích lại và tích lũy lại thành quỹ khấu hao TSCĐ nhằm tái sản xuất



16



TSCĐ, duy trì năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Qua các chy kỳ sản xuất kinh

doanh, phần vốn tiền tệ này tăng dần.

- Phần giá trị còn lại của vốn cố định được cố định “trong hình tháI hiện vật của tài

sản cố định mà doanh nghiệp đang sử dụng. Phần giá trị này giảm dần qua các chy

kỳ cùng với sự tăng lên của phần vốn tiền tệ. Khi tài sản cố định hết thời hạn sử

dụng cũng là lúc phần vốn hiện vật bằng không và phần vốn tiền tệ đạt đến giá trị

ứng ra ban đầu về tài sản cố định. Về mặt lý thuyết, doanh nghiệp đã có thể đầu tư

tài sản cố định mới với giá trị tương để thay thế tài sản cũ. Vốn cố định đã hoàn

thành một vòng luân chuyển.

Tài sản cố định là cơ sở vật chất kỹ thuật của sản xuất, là điều kiện quan trọng

để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, tăng tích luỹ và phát triển

doanh nghiệp. Với vai trò quan trọng như vậy, nên việc nâng cao năng suất, hiệu quả

sử dụng tài sản cố định tức là việc tăng cường nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố

định khơng những có vai trò quan trọng đối với doanh nghiệp, mà còn góp phần cơ

khí hố, tự động hoá sản xuất kinh doanh, phát triển sản xuất xã hội và phát triển

nền kinh tế quốc dân.

1.2.1.2. Nguồn vốn cố định .

Vốn cố định được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như: nguồn vốn pháp

định, nguồn vốn tự bổ sung, nguồn vốn liên doanh liên kết.

Nguồn vốn pháp định: gồm vốn cố định do ngân sách nhà nước cấp, do cấp

trên cấp phát cho doanh nghiệp, vốn cổ phần do xã viên hợp tác xã và các cổ đơng

đóng góp bằng tài sản cố định, vốn pháp định do chủ sở hữu bỏ ra ban đầu khi thành

lập doanh nghiệp.

Nguồn vốn tự bổ sung: gồm vốn cố định của những tài sản cố định đã được

đầu tư và mua sắm bằng quý của doanh nghiệp.



17



Nguồn vốn liên doanh, liên kết: gồm các nguồn vốn do các đơn vị tham gia

liên doanh, liên kết đóng góp bằng tài sản cố định và bằng vốn đầu tư xây dựng cơ

bản đã hoàn thành.

1.2.2. Vốn lưu động.

1.2.2.1. Khái niệm và đặc điểm.

Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động và vốn lưu thơng.

Trong q trình sản xuất kinh doanh, bên cạnh TSCĐ, doanh nghiệp luôn có một

khối lượng tài sản nhất định nằm rải rác trong các khâu của quá tŕnh sản xuất và tái

sản xuất như: dự trữ chuẩn bị sản xuất, phục vụ sản xuất, phân phối, tiêu thụ sản

phẩm. Đó chính là tài sản luu động của doanh nghiệp.

Tài sản lưu động chủ yếu nằm trong quá trình sản xuất của doanh nghiệp là

các đối tượng lao động. Đối tượng lao động khi tham gia vào q trình sản xuất

khơng giữ ngun hình thái vật chất ban đầu, bộ phận chủ yếu của đối tượng lao

động sẽ thơng qua q trình sản xuất tạo nên thực thể của sản phẩm, bộ phận khác sẽ

hao phí mất đi trong q trình sản xuất. Đối tượng lao động chỉ tham gia vào một

chu kỳ sản xuất, do đó tồn bộ giá trị của chúng được dịch chuyển 1 lần vào giá trị

sản phẩm và được thực hiện khi sản phẩm trở thành hàng hoá.

Vốn lưu động chịu sự chi phối bởi tính luân chuyển của tài sản lưu động. Phù

hợp với đặc điểm của TSLĐ, vốn lưu động của doanh nghiệp cũng không ngừng vận

động qua các giai đoạn của chu kỳ sản xuất kinh doanh: dự trữ, sản xuất và lưu

thông. VLĐ luôn được chuyển hố qua nhiều hình thái vật chất khác nhau và chuyển

hoá phần lớn vào giá trị của sản phẩm, phần còn lại chuyển hố trong q trình lưu

thơng. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách thường

xuyên, liên tục nên VLĐ cũng tuần hồn khơng ngừng và mang tính chu kỳ. VLĐ

hồn thành một vòng tuần hồn sau một chu kỳ sản xuất kinh doanh.



18



+ Khởi đầu vòng tuần hồn : VLĐ được dùng để mua sắm các đối tượng lao động

trong khâu dự trữ sản xuất. ở giai đoạn này vốn đã thay đổi hình thái từ vốn tiền tệ

sang vốn vật tư (T-H).

+ Tiếp theo là giai đoạn sản xuất: Các vật tư được chế tạo thành bán thành phẩm và

thành phẩm. ở giai đoạn này vốn vật tư chuyển hoá thành thành phẩm và bán thành

phẩm nhờ sức lao động và cơng cụ lao động (HSX...-H’).

+ Kết thúc vòng tuần hoàn: Sau khi sản xuất được tiêu thụ, VLĐ lại chuyển hố sang

hình thái vốn tiền tệ như điểm xuất phát ban đầu (H’-T’) (T’ > T).

Trong doanh nghiệp, việc quản lý tốt VLĐ có vai trò rất quan trọng. Muốn

quản lý VLĐ, các doanh nghiệp phải phân biệt được các bộ phận cấu thành VLĐ để

trên cơ sở đó đề ra các biện pháp quản lý phù hợp. Trên thực tế, VLĐ của doanh

nghiệp bao gồm những bộ phận sau:

+ Vốn bằng tiền: bao gồm tiền hiện có trong két và tiền gửi ngân hàng của doanh

nghiệp.

+ Các khoản đầu tư ngắn hạn: bao gồm các tín phiếu kho bạc, thương phiếu ngắn

hạn...

+ Các khoản phải thu: là một khoản mục tồn tại tất yếu trong nền kinh tế thị trường.

Bằng chứng của nó là các hố đơn bán hàng, các tờ phiếu chấp nhận trả tiền của

người mua nhưng còn nhiều lý do mà người bán chưa thu được tiền ngay.

+ Khoản dự trữ: Việc tồn tại vật tư, hàng hoá dự trữ, tồn kho là bước đệm cần thiết

cho quá trình hoạt động thường xuyên của doanh nghiệp. Sự tồn tại này trong quá

trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp là hoàn toàn khách quan.

1.2.2.2. Nguồn vốn lưu động.

Nguồn VLĐ của doanh nghiệp gồm có: vốn tự có, vốn coi như tự có và vốn đi

vay.

- Vốn tự có: Bao gồm:



19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ VỐN VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×