Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
2 Các phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ

2 Các phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ

Tải bản đầy đủ - 0trang

11



45,4%. Nhóm thứ hai với tỷ lệ nợ nƣớc ngồi thấp hơn 49,7% GDP với xác suất vỡ

nợ là 9,7%. Nhóm thứ nhất lại tiếp tục đƣợc chia thành 2 nhánh theo tỷ lệ lạm phát:

lớn hơn 10,5% và thấp hơn 10,5%. Các quốc gia với có tỷ lệ lạm phát cao có nguy

cơ rơi vào khủng hoảng nợ cao nhất với xác suất 66,8%. Hơn một nửa các trƣờng

hợp khủng hoảng trong mẫu nghiên cứu đều rơi vào trƣờng hợp này.

Nhóm quốc gia có khả năng khủng hoảng nợ cao thứ nhì là những quốc gia có quy

mơ nợ nƣớc ngồi ở mức trung bình 19-49,7% GDP, nhƣng đồng thời có tỷ lệ nợ

ngắn hạn cao (trên 130% dự trữ ngoại hối), tỉ giá cứng nhắc và bất ổn chính trị.

Nhóm quốc gia này có xác suất rơi vào khủng hoảng lên tới 41,5%.

Ngƣợc lại, những quốc gia có rủi ro thấp là những nƣớc có nợ nƣớc ngồi thấp, tỉ lệ

nợ ngắn hạn bé hơn 130% dự trữ ngoại hối và tỉ lệ nợ cơng nƣớc ngồi bé hơn

210% thu ngân sách, cùng với nền kinh tế không nằm trong tình trạng suy thối.

58,4% những quốc gia khơng xảy ra khủng hoảng nợ thoả mãn các điều kiện này.

Dựa theo quy tắc này, có thể phân loại quốc gia vào vùng khủng hoảng hoặc vùng

an toàn. Các quan sát trong một nốt nào đó đƣợc phân vào vùng khủng hoảng nếu

xác suất xảy ra khủng hoảng của nốt đó lớn hơn xác suất xảy ra khủng hoảng trung

bình của toàn mẫu. Tƣơng tự nhƣ vậy đối với các nốt đƣợc phân vào vùng an tồn.



12



Hình 2.2: Mơ hình cây nhị phân



13



2.2.2. Khung phân tích của WB và IMF về tính bền vững của nợ

Nhƣợc điểm của phƣơng pháp Cây nhị phân ở trên là chỉ đƣa ra đƣợc nguy cơ rơi

vào khủng hoảng nợ tại một thời điểm nào đó dựa trên số liệu trong q khứ mà

khơng chỉ ra đƣợc những nguyên nhân tiềm ẩn ảnh hƣởng đến tính bền vững của nợ

quốc gia. Tháng 4 năm 2005, IMF và WB đƣa ra khung phân tích nợ bền vững

(DSF - Debt Sustainability Framework) nhằm giúp đánh giá tính bền vững nợ của

một quốc gia và những rủi ro tài khóa đi kèm. Khung phân tích này cũng đƣợc định

kỳ xem xét lại. Theo bản thông tin của IMF (The Joint World Bank - IMF Debt

Sustainability Framework for Low-Income Countries5) phƣơng pháp này nhằm

tới hai mục tiêu chính:

Thứ nhất, khuôn khổ đƣợc thiết kế để hƣớng dẫn việc quyết định vay vốn của các

quốc gia có thu nhập thấp trong một cách phù hợp với nhu cầu tài chính của họ với

khả năng trả nợ hiện tại và tƣơng lai của họ, có tính đến hồn cảnh của mỗi quốc

gia.

Thứ hai, hƣớng dẫn những quyết định cho vay để đảm bảo rằng nguồn tài chính

đƣợc cung cấp đến những quốc gia thu nhập thấp với những điều kiện nhất quán với

mục tiêu phát triển và khả năng chịu đựng của nợ dài hạn.

Ngồi ra, nó giúp cải thiện đánh giá của WB và IMF cũng nhƣ những khuyến nghị

chính sách đối với khu vực này nhằm sớm giúp loại bỏ những khủng hoảng tiềm

tàng có thể xảy ra.

DSF phân tích cả nợ nƣớc ngồi và nợ khu vực cơng. Cho vay đối với các quốc gia

có thu nhập thấp khác nhau đáng kể trong tỷ lệ lãi suất và thời gian trả nợ, khung

phân tích tập trung vào hiện giá của nghĩa vụ nợ. Nó có thể so sánh qua thời gian và

qua các quốc gia.



5



https://www.imf.org/external/pubs/ft/dsa/lic.htm



14



Những quốc gia có thu nhập thấp với chính sách yếu kém có xu hƣớng đối mặt với

khó khăn hồn trả ở mức nợ thấp hơn là những quốc gia có chính sách vững mạnh.

DSF chia các quốc gia thành 3 nhóm chính sách (mạnh, trung bình và yếu) và

khn khổ đánh giá nhƣ sau:

Bảng 2.1: Ngƣỡng an toàn nợ theo DSF

Hiện giá của nợ theo % của

Nghĩa vụ nợ theo % của

Xuất khẩu GDP Thu ngân sách Xuất khẩu Thu ngân sách

Chính sách yếu

100

30

200

15

25

Chính sách trung bình

150

40

250

20

30

Chính sách tốt

200

50

300

25

35



Nguồn: Hƣớng dẫn phân tích tính bền vững của nợ LIC (A Guide to LIC Debt

Sustainability Analysis), WB (2006);

Việc phân loại chính sách của quốc gia thuộc vào loại yếu, trung bình hay tốt đƣợc

dựa trên tiêu chuẩn đánh giá về chất lƣợng thể chế và chính sách CPIA (Country

Policy and Institutional Accessment) của World bank. CPIA đƣợc chấm theo thang

điểm từ 1 đến 6. Những nƣớc có CPIA thấp hơn hoặc bằng 3.25 đƣợc xem là có

chính sách yếu, thấp hơn 3.75 đƣợc xem là chính sách trung bình và cao hơn hoặc

bằng 3.75 đƣợc xem là có chính sách tốt. Với mõi nhóm quốc gia thì tiêu chí đƣa ra

ngƣỡng an tồn nợ của WB và IMF trong DSF cũng khác nhau dựa theo bảng 3.6.

2.2.3. Mơ hình nợ bền vững Jaime de Pines

Tài khoản vãng lai có thể đƣợc hiểu theo 2 cách. Cách truyền thống là tính tốn tài

khoản vãng lai dựa trên chênh lệch giữa tổng xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ,

cộng thêm thu chi từ dịch vụ ròng, thu nhập yếu tố ròng và chuyển giao ròng từ

nƣớc ngồi. Ngồi ra, tài khoản vãng lai cũng có thể hiểu là sự chênh lệch giữa tiết

kiệm trong nƣớc và đầu tƣ. Ta có đồng nhất thức vĩ mơ căn bản sau:

(



)



(



)



Có thể thấy rằng giữa tiết kiệm của khu vực nƣớc ngoài

vãng lai



và cán cân tài khoản



tồn tại một mối quan hệ mật thiết. Nhìn ở góc độ khác, đó cũng chính là



15



các khoản vay nợ nƣớc ngồi cung với viện trợ phát triển khơng hồn lại và FDI.

Do đó, cán cân tài khoản vãng lai và nợ nƣớc ngoài của Việt Nam chắc chắn tồn tại

một mối quan hệ đƣợc thể hiện thông qua việc vay nợ nƣớc ngoài để tài trợ cho

thâm hụt tài khoản vãng lai.

Jaime de Pines (1989 đã xây dựng mơ hình tích tụ nợ dạng đơn giản, dựa vào các

đặc tính của cán cân thanh toán để dự báo các chỉ số nợ trên xuất khẩu. Trong mơ

hình này, động thái của nợ phụ thuộc vào bốn chỉ số: tỷ lệ nợ trên xuất khẩu và tỷ lệ

nhập khẩu trên xuất khẩu ở thời điểm ban đầu; tỷ lệ lãi suất trên xuất khẩu và tỷ lệ

tăng trƣởng nhập khẩu trên tăng trƣởng xuất khẩu.

Mơ hình nợ bền vững bắt đầu bằng việc xác định cán cân thanh toán nhƣ sau:

(1)

Trong đó:

là tổng nợ nƣớc ngồi ở năm tính bằng USD;

là nợ ở năm trƣớc đó



;



là cân đối tài khoản vãng lai ở năm t.

Giả sử mức lãi suất của nợ nƣớc ngồi trong năm t là



, khi đó tổng số tiền trả lãi



nợ của quốc gia trong năm t sẽ bằng lãi suất của năm t nhân với tổng số nợ tích lũy

cho đến đầu năm t, tức là



. Do đó ta có tiền trả lãi nợ của năm t là



Thêm và bớt khoản tiền trả lãi nợ vào phƣơng trình (1) ta có:



(2)

Trong đó







là nhập khẩu và xuất khẩu.



Mơ hình này giả định rằng tất cả các biến trong mơ hình đều là biến ngoại suy, và

rằng các chủ thể kinh tế sẽ không thay đổi hành vi của họ một khi hành vi này đã



16



đƣợc xác định. Vì giả định này, mơ hình chỉ phù hợp cho việc phân tích và dự báo

trong trung hạn.

Chia hai vế phƣơng trình (2) cho



. Trong đó



là mức tăng



trƣởng của xuất khẩu

(3)

Trong đó,



là mức tăng trƣởng nhập khẩu năm t.



Đặt:



Trong đó:



là tỷ lệ nợ trên xuất khẩu,



lãi suất trên tăng trƣởng xuất khẩu,



là tỷ lệ nhập khẩu trên xuất khẩu,



là tỷ lệ



là tỷ lệ tăng trƣởng nhập khẩu trên tăng trƣởng



xuất khẩu.

Phƣơng trình (3) có thể viết lại nhƣ sau:

(4)

Theo định nghĩa:

(5)

Giả sử







là các hằng số dƣơng (nhƣ đã nói ở trên, mơ hình Jaime De Pinies



giả định rằng các chủ thể kinh tế không thay đổi hành vi của họ trong suốt thời kỳ dự

báo), phƣơng trình (4) và (5) tạo thành hệ thống các phƣơng trình sai phân, có

thể giải đƣợc nhƣ sau:

[

Nếu



, thì



(



]



là tỷ lệ giữa nhập khẩu trên xuất khẩu ở năm đầu



tiên). Phƣơng trình số (4) có thể viết lại nhƣ sau:



17



khi



thì















(6)



Đặt:





Do









là các chuỗi hội tụ nên có đƣợc:







Thay











vào phƣơng trình (6) ta có:

(7)



Phƣơng trình (7) chỉ ra rằng động thái của tỷ lệ nợ trên xuất khẩu



đƣợc phụ



thuộc vào tham số tỷ lệ lãi suất trên mức tăng trƣởng xuất khẩu ( ) và tỷ lệ tăng

trƣởng nhập khẩu trên tăng trƣởng xuất khẩu ( ); hai giá trị cho trƣớc là







quy định xuất phát điểm của tỷ lệ nợ trên xuất khẩu . Để phƣơng trình có nghĩa,

giả định



. Mơ hình cho thấy tiến triển của tỷ lệ nợ trên xuất khẩu theo thời



gian . Nếu tỷ lệ này tăng mạnh, thì quốc gia đó có cán cân thanh tốn thâm hụt,

khó trả nợ và có nguy cơ khủng hoảng nợ. Đây chính là mơ hình dùng để khảo sát

tính bền vững của nợ nƣớc ngồi.



18



Phƣơng trình (7 có thể đƣợc hiểu dễ dàng hơn thơng qua hình 2.3, với 2 đƣờng

biểu thị khi



bằng 1 (lãi suất bằng tăng trƣởng xuất khẩu) và



bằng 1 (tăng trƣởng



nhập khẩu bằng với tăng trƣởng xuất khẩu). Trục tung biểu diễn tốc độ tăng trƣởng

xuất khẩu còn trục hồnh biểu thị lãi suất.

gx



a=1



1



2

b=1



4



3



a=b

i



Vùng 1:



,



Vùng 2:



,



Vùng 3:



,



Vùng 4:



,



Hình 2.3: Trục tọa độ Jaime De Pinies

Khi







nhỏ hơn 1 (vùng 1 trên hình tăng trƣởng xuất khẩu cao hơn cả lãi suất



lẫn tăng trƣởng nhập khẩu. Tỷ lệ nợ trên xuất khẩu sẽ có xu hƣớng giảm dần. Ta

thấy nợ nƣớc ngồi là bền vững, các khoản doanh thu từ xuất khẩu hồn tồn có

khả năng bù đắp đƣợc các khoản nợ nƣớc ngoài.

Ngƣợc lại, khi cả







lớn hơn 1 (vùng 3 , tỷ lệ nợ trên xuất khẩu sẽ tăng. Nếu nhƣ



tỷ lệ nhập khẩu trên xuất khẩu ban đầu



nhỏ hơn 1 (nghĩa là ban đầu tài khoản



vãng lai không bao gồm lãi suất đang thặng dƣ thì có thể kìm giữ đƣợc sự bùng nổ

của tỷ lệ nợ trên xuất khẩu trong một thời gian nhất định. Song, với nhập khẩu tăng

nhanh hơn xuất khẩu



khơng sớm thì muộn tài khoản vãng lai không bao



gồm lãi suất sẽ trở thành thâm hụt ngày càng nhiều, xóa bỏ tồn bộ những nỗ lực

kìm giữ tỷ lệ nợ trƣớc đó.

Tỷ lệ nhập khẩu trên xuất khẩu ban đầu



chỉ phát huy ảnh hƣởng lâu dài đối với tỷ



lệ nợ trên xuất khẩu trong trƣờng hợp xuất khẩu và nhập khẩu tăng trƣởng ngang

nhau



. Với



, một khoản thặng dƣ đủ lớn trên tài khoản vãng lai không



19



bao gồm lãi suất



sẽ làm cho tỷ lệ nợ trên xuất khẩu



dần ngay cả khi lãi suất cao hơn tỷ lệ tăng xuất khẩu



có xu hƣớng giảm



.



Vùng 2 là khu vực đƣa lại những kết quả dự báo không rõ ràng. Mặc dù xuất khẩu

tăng lên sẽ làm giảm tỷ lệ nợ trên xuất khẩu, song các khoản lãi suất phải trả lại tác

động theo hƣớng ngƣợc lại. Nếu nhƣ giữ đƣợc tỷ lệ tăng nhập khẩu ở mức hạn chế

so với tỷ lệ tăng xuất khẩu thì có thể duy trì đƣợc tỷ lệ nợ trên xuất khẩu giảm dần

ngay cả khi lãi suất vƣợt quá tỷ lệ tăng xuất khẩu và tỷ lệ nhập khẩu trên xuất khẩu

ban đầu



lớn hơn 1.



Một nền kinh tế nằm trong vùng 4 chắc chắn có chính sách nợ khơng bền vững, bởi

vì với nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu, thâm hụt tài khoản vãng lai không bao

gồm lãi suất sẽ tăng dần, kết quả là đẩy tỷ lệ nợ trên xuất khẩu tăng cao.

Trong mơ hình này tỷ lệ giữa tăng trƣởng xuất khẩu và tăng trƣởng xuất khẩu là

thông số quan trọng nhất quyết định tính bền vững của nợ. Nếu tỷ lệ nói trên tăng

liên tục thì chính sách nợ sẽ trở nên không bền vững, ngay cả trong trƣờng hợp lãi

suất thấp hơn tỷ lệ tăng trƣởng của xuất khẩu.



2.3.



Tăng trƣởng kinh tế



Tăng trƣởng kinh tế là một trong những mục tiêu hàng đầu của nhiều quốc gia. Có

tăng trƣởng kinh tế mới có thể tạo tiền đề cho sự phát triển của đất nƣớc, nâng cao

mức sống của ngƣời dân. Phần này sẽ trình bày khái niệm về tăng trƣởng kinh tế và

các mơ hình về tăng trƣởng.

2.3.1. Khái niệm tăng trƣởng kinh tế

Tăng trƣởng kinh tế là sự tăng lên về số lƣợng, quy mô sản lƣợng của nền kinh tế

trong một thời kỳ nhất định. Tăng trƣởng kinh tế có thể đƣợc biểu thị bằng số tuyệt

đối hay số tƣơng đối - là tỷ lệ phần trăm tăng thêm của quy mô sản lƣởng nền kinh

tế trong một thời kỳ nhất định.

Quy mô nền kinh tế thƣờng đƣợc đo lƣờng dựa trên các chỉ số Tổng sản phẩm trong

nƣớc (GDP) và Tổng sản phẩm quốc gia (GNP). Ngồi ra, trong kinh tế, tăng



20



trƣởng có thể đo bằng các chỉ tiêu ít phổ biến hơn nhƣ: Sản phẩm quốc dân ròng

(NNP - Net National Product), Sản phẩm quốc nội ròng (NDP - Net Domestic

Product), Thu nhập quốc dân (Y - National Income), Thu nhập khả dụng (YD Dispossible Income). Trong các chỉ tiêu kể trên thì GDP là chỉ số quan trọng và

đƣợc sử dụng phổ biến nhất.

Ngoài giá trị tổng thu nhập nhƣ kể trên, xem xét tăng trƣởng còn có thể dựa trên thu

nhập bình qn trên đầu ngƣời. Để tính giá trị thu nhập bình quân trên đầu ngƣời ta

lấy giá trị tổng chia cho dân số của quốc gia đó. Chỉ số tổng sản phẩm bình quân

đầu ngƣời (PCI) của một quốc gia hay vùng lãnh thổ tại một thời điểm nhất định

đƣợc tính tốn bằng cách lấy GDP của quốc gia hay vùng lãnh thổ đó chia cho dân

số của chính nó.

Tốc độ tăng trƣởng kinh tế ( ): Là phần trăm chênh lệch giữa quy mô GDP của một

nền kinh tế ở hiện tại với quy mô GDP ở thời kỳ trƣớc đó.



Trong đó:



là quy mơ GDP của nền kinh tế vào năm

là quy mô của nền kinh tế năm

là tốc độ tăng trƣởng kinh tế



2.3.2. Các mơ hình tăng trƣởng

Các nhà kinh tế cổ điển là những ngƣời đã đƣa ra những mơ hình tăng trƣởng đầu

tiên. Mơ hình tăng trƣởng truyền thống tiêu biểu là Ricardo cho rằng lao động, vốn,

đất đai sản xuất nông nghiệp là nguồn gốc của tăng trƣởng kinh tế. Trong đó đất đai

sản xuất đƣợc xem là nhân tố quan trọng và là giới hạn của tăng trƣởng. Trƣờng

phái cổ điển đề cao vai trò tự điều chỉnh của thị trƣờng với lý thuyết Bàn tay vơ

hình của Adam Smith và cho rằng khơng nên có sự can thiệp của chính phủ vào nền

kinh tế. Lý thuyết này đã thống trị một thời gian dài cho tới khi cuộc đại khủng

hoảng 1929-1933 diễn ra, thực tế cho thấy thị trƣờng dƣờng nhƣ không thể điều tiết



21



đƣợc chính nó. Trong bối cảnh đó, lý thuyết của Keynes ra đời, đề cao và nhấn

mạnh vai trò điều tiết của nhà nƣớc đối với nền kinh tế thơng qua các chính sách gia

tăng tiêu dùng và kích thích đầu tƣ. Lý thuyết trọng cầu của Keynes lần đầu tiên

khẳng định chính nhu cầu (cầu đầu tƣ và cầu tiêu dùng), chứ không phải cung, là

nhân tố quan trọng quyết định sản lƣợng, và do đó quyết định tăng trƣởng.

Tiếp nối lý thuyết của Keynes, hai nhà kinh tế là Harrod (1939 ngƣời Anh và

Domar (1946 ngƣời Mỹ đã đƣa ra mơ hình mà ngày nay thƣờng đƣợc biết đến với

tên mơ hình Harrod-Domar. Mơ hình này giúp phân loại mối quan hệ kinh tế giữa

thu nhập, tiết kiệm, đầu tƣ, và sản lƣợng cần thiết đế duy trì tăng trƣởng ồn định,

cũng nhƣ tồn dụng lao động trong nền kinh tế tƣ bán phát triển.

Ƣu điểm của mơ hình Harrod Domar chính là tính đơn giản của nó khi khơng đòi

hỏi nhiều dữ liệu, dễ dàng sử dụng và ƣớc lƣợng. Nhiều nhà kinh tế cũng sử dụng

mơ hình này nhằm xác định ti lệ tiết kiệm và đầu tƣ cần thiết để nền kinh tế tƣ bản

chù nghĩa có thể đạt đƣợc trình độ để tự duy trì tăng trƣớng. Tuy nhiên, trong khi

mơ hình truyền thống quá đề cao vai trò của yếu tố tài ngun, đất đai thì mơ hình

Harrod Domar lại q đề cao vai trò của đầu tƣ và tiết kiệm. Một hạn chế quan

trọng khác là mơ hình bắt nguồn từ giả định cứng nhắc về các tỷ số vốn trên lao

động, vốn trên sản lƣợng, và lao động trên sản lƣợng là những tỷ số cố định, cho

thấy nền kinh tế có rất ít linh hoạt theo thời gian. Giả định này có thể chính xác một

cách hợp lý trong ngắn hạn nhƣng khơng bao giờ chính xác trong những quãng thời

gian dài khi nền kinh tế tiến hóa và phát triển.

Đƣợc phát triển dựa trên mơ hình Harrod-Domar, mơ hình tăng trƣởng "hai sự thiếu

hụt" của Chenery & Strout (1966) cho rằng khi đề cập đến sự thiếu hụt tiết kiệm khi

tiết kiệm sẵn có thấp hơn mức đầu tƣ cần thiết để có đƣợc tăng trƣởng mong muốn;

sự thiếu hụt thứ hai là thiếu hụt ngoại tệ do chênh lệch giữa kim ngạch xuất nhập

khẩu. Mơ hình này đƣợc mở rộng thêm với khoản thiếu hụt thứ ba là thiếu hụt tài

khóa. Thiếu hụt này đƣợc thêm vào vì triển vọng tăng trƣởng ở nhiều nƣớc đang

phát triển từng bị phá vỡ do các vấn đề tài khóa. Quan điểm cùa mơ hình hai sự



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

2 Các phương pháp đánh giá tính bền vững của nợ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×