Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Kỳ vọng chiều hướng tác động:

Kỳ vọng chiều hướng tác động:

Tải bản đầy đủ - 0trang

61



khẳng định vai trò của xuất khẩu trong tăng trƣởng kinh tế. Gylfason (1999) khẳng

định xuất khẩu có thể đƣợc coi là động lực chính thúc đẩy kinh tế phát triển kể cả

trực tiếp và gián tiếp vì một mặt chúng là một phần của sản xuất, mặt khác chúng

thúc đẩy nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ và vốn, do đó cũng du nhập những ý tƣởng

và tri thức mới. Nhiều nghiên cứu thực nghiệm khác cũng đã củng cố thêm quan

điểm này nhƣ nghiên cứu của Rahman và Mustafa (1997) cho 13 nƣớc thuộc khu

vực châu Á, Ekanayake (1999) cho 8 quốc gia phát triển ở châu Á (Ấn Độ,

Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Pakistan, Philippines, Sri Lanka và Thái Lan);

Ibrahim (2002) cho 6 quốc gia và vùng lãnh thổ: Hồng Kơng, Hàn Quốc, Malaysia,

Philippines, Singapore, Thái Lan. Tóm lại, có thể khẳng định hầu hết các nhà kinh

tế đều thống nhất rằng tăng xuất khẩu là một trong những yếu tố chính dẫn đến tăng

trƣởng kinh tế. Việt Nam với chiến lƣợc tăng trƣởng dựa vào xuất khẩu cũng không

phải là ngoại lệ, biến xuất khẩu trong cả 2 mơ hình đều đƣợc kỳ vọng có ý nghĩa và

mang dấu dƣơng.

Lực lƣợng lao động bao gồm tát cả những ngƣời đang ở trong độ tuổi lao động. Độ

tuổi lao động lao động đƣợc quy định khác nhau tùy mỗi quốc gia. Nhƣ đã trình bày

ở chƣơng 2, nhiều lý thuyết về tăng trƣởng đều coi lao động là một nguồn lực của

tăng trƣởng. Về cơ bản, lao động tăng lên sẽ thúc đẩy tăng trƣởng. Tuy nhiên, tác

động của lao động đến tăng trƣởng không chỉ phụ thuộc vào số lao động mà còn

phụ thuộc vào năng suất lao động. Nếu số lƣợng lao động tăng mà năng suất lao

động giảm thì vẫn có thể kéo theo suy giảm trong tốc độ tăng trƣởng. Trong nghiên

cứu này, lao động đƣợc kỳ vọng sẽ mang dấu dƣơng, tuy nhiên kết quả ƣớc lƣợng

cũng có thể khơng nhƣ kỳ vọng.

Nhƣ đã thảo luận ở phần lý thuyết về vai trò của các yếu tố vốn, lao động, đầu tƣ

đến tăng trƣởng kinh tế. Các biến còn lại: đầu tƣ chính phủ, đầu tƣ tƣ nhân, đầu tƣ

trực tiếp nƣớc ngoài đƣợc kỳ vọng sẽ có tác động tích cực đến tăng trƣởng kinh tế

và mang dấu dƣơng.



62



ODA bao gồm chủ yếu các khoản vay ƣu đãi với lãi suất thâp hoặc khơng có lãi

suất, viện trợ có hồn lại hoặc khơng hoàn lại của các tổ chức quốc tế giành cho các

quốc gia đang hay chậm phát triển. Tăng trƣởng kinh tế ln ln là thƣớc đo

chính đƣợc sử dụng để đánh giá tác dụng của viện trợ, và ngƣời ta kỳ vọng

nhiều viện trợ hơn sẽ dẫn đến tăng trƣởng nhanh hơn. Nhƣng ở mức độ rất

bao qt, khơng có một mối quan hệ đơn giản rõ ràng nào giữa viện trợ và tăng

trƣởng. Một số nƣớc nhận đƣợc những khoản viện trợ lớn có tăng trƣởng nhanh,

trong khi những nƣớc khác có tăng trƣởng chậm hoặc thậm chí tăng trƣởng âm. Các

kết quả thực nghiệm cũng rất trái ngƣợc nhau. Nghiên cứu của hai nhóm nhà kinh tế

Sebastian Galiani và Ben Zou (2014) từ Đại học Maryland và Stephen Knack và

Colin Xu (2014) từ Ngân hàng thế giới sau khi nghiên cứu dữ liệu của 35 quốc gia

đã ƣớc tính rằng cứ mỗi 1% thu nhập của một quốc gia có đƣợc từ vốn viện trợ, tốc

độ tăng trƣởng kinh tế hằng năm sẽ tăng thêm trung bình khoảng 1 3 điểm phần

trăm trong ngắn hạn. Một số nhà kinh tế nhƣ Leff (1969 và Griffin (1970 đã phân

tích tác động tiêu cực của vốn nƣớc ngoài đối với tăng trƣởng kinh tế. Họ cho rằng

viện trợ nƣớc ngoài tác động xấu đến tăng trƣởng kinh tế bằng cách thay thế tiết

kiệm trong nƣớc. Trong khi đó Boone (1996 thì khơng tìm thấy bằng chứng của sự

đóng góp viện trợ tới tăng trƣởng hoặc đầu tƣ ở một mẫu của các nền kinh tế đang

phát triển. Nghiên cứu của Nguyễn Hoàng Bảo và Đoàn Kim Thành (2009 sử dụng

độ trễ



cho biến viện trợ trên GDP; kết quả thu đƣợc mang dấu âm cho trƣờng



hợp của Việt Nam và đƣa kết luận rằng viện trợ có thể khơng trực tiếp tác động hay

tác động ít (nghịch biến đến tăng trƣởng, nhƣng có thể có tác động đến tăng trƣởng

phúc lợi bình qn đầu ngƣời thơng qua các dự án cơng. Trong luận văn này, tác giả

sử dụng độ trễ



cho ODA và vẫn hy vọng sẽ tìm thấy một tác động tích cực



(dấu dƣơng từ ODA đến tăng trƣởng. Tuy nhiên, kết quả ƣớc lƣợng có thể khơng

đƣợc nhƣ kỳ vọng do trên thực tế một số nghiên cứu trƣớc đây cho ra dấu âm cho

trƣờng hợp của Việt Nam.

Biến giả Crisis đại diện cho khủng hoảng đƣợc đƣa vào nhằm loại bỏ tác động từ

các cuộc khủng hoảng từ bên ngoài lên tăng trƣởng kinh tế Việt Nam.



63



Kỳ vọng về dấu của các biến độc lập đƣợc trình bày ở bảng 4.1.

Bảng 4.1: Kỳ vọng dấu của các biến

Biến



Mô tả



Mô hình (1) Mơ hình (2)



Tỷ lệ lạm phát

Tỷ lệ nợ cơng trên GDP

Debt2



Bình phƣơng tỷ lệ nợ cơng trên GDP

Logarit tự nhiên kim ngạch xuất khẩu

Logarit tự nhiên lực lƣợng lao động

Đầu tƣ tƣ nhân trên GDP

Đầu tƣ chính phủ trên GDP

Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên GDP

Hỗ trợ phát triển chính thức trên GDP



4.3.



Dữ liệu



4.3.1. Đo lƣờng biến và nguồn số liệu

Giai đoạn nghiên cứu là dữ liệu hàng năm trong giai đoạn 1990-2015. Mơ hình

nghiên cứu bao gồm 9 biến số chính và 1 biến giả biểu thị giai đoạn khủng hoảng.

Sự lựa chọn các biến dựa trên các lý thuyết về tăng trƣởng và các nghiên cứu thực

nghiệm trƣớc đây nhƣ đã đề cập ở phần trên của bài nghiên cứu.

Phần lớn các dữ liệu về các yếu tố vĩ mô của Việt Nam sử dụng trong mơ hình đƣợc

lấy trực tiếp từ bộ dữ liệu World Economic Outlook (WEO) của IMF, bao gồm tỷ lệ

tăng trƣởng GDP hàng năm, tỷ lệ lạm phát, số ngƣời trong lực lƣợng lao động, tỷ lệ

đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngồi trên GDP. Trong đó, số liệu lạm phát của Việt Nam sử

dụng trong nghiên cứu này đƣợc đo lƣờng dựa trên chỉ số giảm phát GDP (chứ

không phải chỉ số giá tiêu dùng CPI). Tỷ lệ hỗ trợ phát triển chính thức ODA trên

GDP đƣợc đại diện bằng tỷ lệ ODA trên GNI lấy trực tiếp từ WEO.



64



Dữ liệu về kim ngạch xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ đƣợc lấy trực tiếp từ bộ dữ

liệu World Development Indicators (WDI) của World Bank. Kim ngạch xuất khẩu

tính bằng USD giá cơ sở 2010.

Tỷ lệ đầu tƣ tƣ nhân và tỷ lệ đầu tƣ chính phủ trên GDP đƣợc tính tốn dựa trên các

số liệu từ tổng cục thống kê (GSO). Các số liệu về đầu tƣ tƣ nhân, đầu tƣ chính phủ

và GDP đƣợc lấy từ tổng cục thống kê sau đó đƣợc tác giả tính tốn cho ra các tỷ lệ

biểu thị cho biến số. Các số liệu về đầu tƣ tƣ nhân, đầu tƣ chính phủ và GDP từ năm

1990-2012 lấy theo giá cơ sở 1994, từ năm 2013-2015 lấy theo giá của 2010. Tuy

nhiên việc lựa chọn năm cơ sở khác nhau không ảnh hƣởng tới tính chính xác của

các tỷ lệ đầu tƣ tƣ nhân và tỷ lệ đầu tƣ chính phủ trên GDP đã đƣợc tính tốn.

Bảng 4.2: Nguồn dữ liệu cho các biến

Biến



Mô tả



Nguồn dữ liệu



Tốc độ tăng trƣởng GDP hàng năm (%



Trực tiếp từ WEO (IMF)



Tỷ lệ lạm phát (%)



Trực tiếp từ WEO (IMF)



Tỷ lệ nợ công trên GDP (%)



Đại diện bởi nợ nƣớc ngoài trên GNI.

Lấy trực tiếp từ WEO (IMF)



Logarit tự nhiên kim ngạch xuất khẩu



Tác giả tính tốn từ WDI (WB)



Logarit tự nhiên lực lƣợng lao động



Tác giả tính tốn từ WEO (IMF)



Đầu tƣ tƣ nhân trên GDP (%)



Tác giả tính tốn từ GSO



Đầu tƣ chính phủ trên GDP (%)



Tác giả tính tốn từ GSO



Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài trên GDP (%)



Trực tiếp từ WEO (IMF)



Hỗ trợ phát triển chính thức trên GDP (%) Đại diện bởi ODA trên GNI.

Lấy trực tiếp từ WEO (IMF)



Riêng số liệu nợ cơng Việt Nam theo cơng bố chính thức của IMF chỉ có trong giai

đoạn 2000-2015. Số liệu về nợ công của Việt Nam theo công bố trong Historical

Public Debt Database (2012) bao gồm số liệu trong những năm 1992-1999, tuy

nhiên số liệu này đƣợc tính dựa trên GDP ngang giá sức mua do đó có chênh lệch và

có xu hƣớng đánh giá thấp mức nợ công so với số liệu chính thức của IMF. Do đó,

trong nghiên cứu này các số liệu về nợ công Việt Nam trong giai đoạn 1990-2015 sẽ



65



đƣợc đại diện thông qua chỉ số quy mơ nợ nƣớc ngồi trên GNI của Việt Nam đƣợc

cơng bố trong bộ dữ liệu WEO của IMF. Trong giai đoạn này nợ công của Việt

Nam chủ yếu là nợ nƣớc ngồi và đƣợc tài trợ chủ yếu thơng qua nguồn vốn ODA từ

các tổ chức và quốc gia trên thế giới. Tuy vậy, ở Việt Nam quy mô GNI thƣờng nhỏ

hơn so với quy mô GDP nên sử dụng quy mơ nợ nƣớc ngồi theo GNI có xu hƣớng

đánh giá cao quy mơ nợ cơng nƣớc ngồi, nhƣng khi xét đến các khoản nợ cơng

trong nƣớc thì chỉ số này sẽ phản ánh gần đúng quy mô tổng nợ công của Việt Nam.

4.3.2. Thống kê mô tả dữ liệu

Dữ liệu các biến trong nghiên cứu phân tán khá tập trung và khơng có sự xuất hiện

các giá trị dị biệt gây ảnh hƣởng đến kết quả ƣớc lƣợng. Thống kế mơ tả các biến sử

dụng trong mơ hình đƣợc trình bày ở bảng 5.1. Có thể thấy tỷ lệ độ lệch chuẩn chia

cho trung bình là khơng đáng kể. Theo Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc

(2008), khi độ lệch chuẩn chia cho trung bình lớn hơn 5 lần thì độ phân tán mới

nghiêm trọng.

Bảng 4.3: Thống kê mơ tả dữ liệu

Biến



Trung bình Lớn nhất Nhỏ nhất Độ lệch chuẩn

0,0679



0,0954



0,0477



0,0133



0,1433



0,7255



-0,0019



0,1513



0,8868



3,8401



0,2749



0,9038



24,1618



25,7848



22,0999



1,1240



17,5798



17,8276



17,2996



0,1685



0,1344



0,2368



0,0674



0,0488



0,1511



0,2345



0,0548



0,0507



0,0586



0,1194



0,0278



0,0242



0,0352



0,0594



0,0172



0,0110



Nguồn: thống kê trên Eviews 8.



66



Diễn biến của lạm phát Việt Nam trong giai đoạn 1990-2015 đƣợc biểu diễn ở hình

5.1. Có thể thấy trong giai đoạn 1990-2015 lạm phát tại Việt Nam dao động khá lớn

từ thấp nhất -0,19% đến cao nhất 72,55% biểu thị cho một giai đoạn đầy biến động

về giá cả. Lạm phát trong giai đoạn này về cơ bản là cao trung bình là 14,33% mặc

dù đa phần các năm lạm phát chỉ ở mức 1 con số. Riêng năm 2015 là năm duy nhất

trong giai đoạn xảy ra giảm phát khi tỷ lệ lạm phát âm 0,19%, đây cũng là năm đầu

tiên mà lạm phát âm tại Việt Nam.

80%

70%

60%

50%

40%

30%

20%

10%



-10%



1990

1991

1992

1993

1994

1995

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015



0%



Hình 4.2: Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam qua các năm (1990-2015)

Xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng qua các năm và chiếm tỷ trọng lớn trong

GDP là minh chứng khá rõ cho chiến lƣợc tăng trƣởng dựa vào xuất khẩu của Việt

Nam trong thời kỳ này. Là một nƣớc nhập siêu trong thời gian dài, năm 2012 Việt

Nam đã lần đầu xuất siêu và liên tục duy trì xuất siêu trong các năm 2013-2015.



67



250

200

150

100

50



1990

1991

1992

1993

1994

1995

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015



0



Xuất khẩu (tỷ USD)



GDP (tỷ USD)



Hình 4.3: Kim ngạch xuất khẩu và GDP Việt Nam qua các năm (1990-2015)

Nợ công từ mức rất cao đầu những năm 90 đã dần giảm xuống thấp trong những

năm 2000 tuy nhiên có dấu hiệu tăng nhanh trở lại trong những năm gần đây. Diễn

biến nợ cơng đã đƣợc trình bày chi tiết ở chƣơng 3 của nghiên cứu.

Đầu tƣ chính phủ và đầu tƣ tƣ nhân chiếm từ 10% đến 20% của GDP, tổng cộng cả

2 chiếm từ 20-40% GDP. Diễn biến của 2 tỷ lệ đầu tƣ này có thể đƣợc quan sát ở

hình 4.4.

25

20

15

10

5



Đầu tư tư nhân (%GDP)



2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015



2000

2001



1997

1998

1999



1994

1995

1996



1992

1993



1990

1991



0



Đâu tư chính phủ (%GDP)



Hình 4.4: Đầu tƣ chính phủ và đầu tƣ tƣ nhân qua các năm (1990-2015)



68



Kể từ khi Luật Đầu tƣ nƣớc ngồi năm 1987 có hiệu lực, Việt Nam đã đạt đƣợc

nhiều kết quả khả quan trong quá trình thu hút luồng vốn FDI. Tuy nhiên, luồng vốn

đầu tƣ FDI hàng năm vào Việt Nam diễn biến thất thƣờng, không ổn định. Giai

đoạn 1990-1996 chứng kiến sự bùng nổ của dòng vốn FDI tại Việt Nam. Sau cuộc

khủng hoảng kinh tế - tài chính Châu Á 1997, tỷ lệ vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài

vào Việt Nam liên tục suy giảm. Thời kỳ suy giảm này kéo dài liên tục từ 1997 cho

đến 2005. Giai đoạn 2006-2008, vốn đầu tƣ FDI vào Việt Nam tăng mạnh trở lại và

đạt kỷ lục vào năm 2008. Sự bùng nổ FDI trong giai đoạn này một phần là do kết

quả của cải thiện môi trƣờng đầu tƣ bằng việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật

Đầu tƣ nƣớc ngoài, sự thơng thống của hệ thống chính sách pháp luật trên một thị

trƣờng mới đầy tiềm năng đã hấp dẫn các nhà đầu tƣ nƣớc ngoài trở lại đầu tƣ vào

Việt Nam. Tuy nhiên, do ảnh hƣởng từ cuộc khủng hoảng tài chính tồn cầu năm

2008, tỷ lệ vốn đầu tƣ FDI trên GDP giảm mạnh trong những năm 2009-2010.

Trong giai đoạn 2011-2015 đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài dao động ổn định trong

khoảng từ 5-6% GDP. Diễn biến của tỷ lệ FDI và ODA giai đoạn 1990-2015 đƣợc

biểu diễn ở hình 4.5.

14%

12%

10%

8%

6%

4%

2%



1990

1991

1992

1993

1994

1995

1996

1997

1998

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

2010

2011

2012

2013

2014

2015



0%



FDI (%GDP)



ODA (%GDP)



Hình 4.5: FDI và ODA qua các năm (1990-2015)



69



Lực lƣợng lao động của Việt Nam tăng ổn định qua các năm với mức tăng từ 2%

đến 3% mỗi năm. Từ mức hơn 32 triệu ngƣời trong lực lƣợng lao động năm 1990 đã

tăng lên hơn 55 triệu ngƣời vào năm 2015. Tuy nhiên, tốc độ tăng trƣởng lực lƣợng

lao động có phần chậm lại trong những năm gần đây do già hóa dân số (từ 1,9%

năm 2011 xuống còn 1,3% năm 2015 .23

Bảng 4.4: Ma trận hệ số tƣơng quan giữa các biến:

Growth Inf (-1)



Debt



lnExport lnLabor



Ip



Ig



FDI



ODA (-1) Crisis



1,000

(-1)



(-1)



0,281



1,000



0,429



0,839



1,000



-0,559



-0,566 -0,833



1,000



-0,572



-0,538 -0,803



0,997



1,000



-0,189



-0,077 -0,340



0,523



0,533



-0,001



-0,580 -0,421



-0,084



-0,116 -0,450



1,000



0,406



0,022



0,172



-0,206



-0,193



0,253



-0,128



0,036



-0,401



-0,424 -0,384



-0,124 -0,189



0,082



-0,171



0,064



1,000



0,337 -0,101

0,352



1,000



0,542 -0,127

0,065



0,427



1,000

-0,143



1,000



Hệ số tƣơng quan dùng để chỉ mối quan hệ giữa các biến trong mơ hình. Dựa vào

kết quả ma trận tƣơng quan có thể đƣa ra một số gợi ý về mối quan hệ của từng cặp

biến. Tuy nhiên, hệ số tƣơng quan là tƣơng quan đơn tuyến tính của từng cặp biến;

kết quả từ hệ số này chỉ đo lƣờng quan hệ giữa 2 biến mà khơng kiếm sốt các vấn

đề thiếu biến của định lƣợng. Đây cũng là hạn chế của hệ số tƣơng quan (mơ hình

hồi quy đơn so với mơ hình hồi quy đa biến sẽ đƣợc sử dụng ở phần dƣới nhằm

đóng góp bằng chứng thực nghiệm cho bài nghiên cứu.

Kết quả phân tích ma trận tự tƣơng quan giữa các biến trong mơ hình theo bảng 5.2

cho thấy, tồn tại các hệ số cặp biến có tƣơng quan khá chặt chẽ với hệ số tƣơng

quan lớn hơn 0,8 nhƣ nợ-xuất khẩu, nợ-lạm phát, nợ-lao động. Bên cạnh đó, đáng

chú ý là hệ số tƣơng quan của tăng trƣởng với các biến xuất khẩu, lao động và đầu



23



Tác giả tính tốn từ WEO (IMF)



70



tƣ mang dấu âm. Điều này có vẻ mâu thuẫn với những giả định dấu đã đề ra. Tuy

nhiên, nhƣ phân tích ở trên, hệ số tƣơng quan chỉ cho thấy mối quan hệ đơn tuyến

tính giữa từng cặp biến và khơng đủ cơ sở để đƣa ra bất kỳ kết luận gì khi trong

thực tế có vơ vàn yếu tố vĩ mơ khác đồng thời thay đổi. Ta chỉ có thể đánh giá mối

quan hệ thực sự giữa 2 yếu tố khi mà các yếu tố khác không thay đổi. Hệ số tƣơng

quan cao là chƣa đủ để đƣa ra các kết luận về đa cộng tuyến trong mơ hình. Phần

tiếp theo của nghiên cứu sẽ làm rõ vấn đề đa cộng tuyến cùng những kiểm định

khác.



71



4.4.



Kết quả thực nghiệm



4.4.1. Kiểm định đa cộng tuyến

Bảng 4.5. Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phƣơng sai

VIF

459,71

322,47

50,87

11,48

5,77

(-1)

4,74

2,23

2,09

(-1)

1,64

Trung bình VIF 95,67

Biến



1/VIF

0,002175

0,003101

0,019657

0,087099

0,173389

0,211039

0,448994

0,477640

0,611146



Nguồn: Kết quả tổng hợp từ Phần mềm Stata (Phụ lục 1)

Dựa vào bảng 5.3 kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phƣơng sai,

cho thấy trung bình VIF của các biến trong mơ hình là 95,67 lớn hơn 10. VIF của

biến độc lập xuất khẩu, lao động, nợ cơng và đầu tƣ chính phủ vƣợt quá 10.

Nhƣ vậy, với tiêu chuẩn nhân tử phóng đại phƣơng sai VIF, mơ hình tồn tại hiện

tƣợng đa cộng tuyến. Tuy nhiên, đa cộng tuyến theo Christopher Achen (1982)

khơng phải là vấn đề q nghiêm trọng. Bởi vì ngay cả khi đa cộng tuyến chặt, nhƣ

trong trƣờng hợp gần đa cộng tuyến (near multicollinearity , các ƣớc lƣợng OLS

vẫn có tính chất của BLUE (ƣớc lƣợng vững, khơng chệch và hiệu quả).

4.4.2. Kiểm định hiện tƣợng phƣơng sai thay đổi phần dƣ

Hiện tƣợng phƣơng sai thay đổi có thể ảnh hƣởng đến tính hiệu quả của ƣớc lƣợng

mơ hình, khi mơ hình vi phạm hiện tƣợng tự phƣơng sai thay đổi hậu quả làm cho

phƣơng sai của ƣớc lƣợng lớn, từ đó mất tín tin cậy của kiểm định hệ số. Ảnh

hƣởng tới độ tin cậy của đóng góp bằng chứng thực nghiệm các yếu tố đọc lập ảnh

hƣởng đến biến tăng trƣởng. Tác giả tiến hành kiểm định phƣơng sai sai số thay đổi

bằng phƣơng pháp kiểm định ARCH với độ trễ 1, với giả thuyết nhƣ sau:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Kỳ vọng chiều hướng tác động:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×