Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA NỢ

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA NỢ

Tải bản đầy đủ - 0trang

42



Mặc dù tỷ lệ nợ nƣớc ngoài của Việt Nam so với tổng thu nhập là tƣơng đối cao so

với nhiều nƣớc trong khu vực, tuy nhiên tỷ lệ nợ nƣớc ngoài của Việt Nam so với

xuất khẩu lại tƣơng đối thấp. Đó là do có tỷ trọng lớn của xuất khẩu trong cơ cấu

kinh tế của Việt Nam. Bảng 3.1 cũng cho thấy sự khác biệt đáng kể trong tỷ lệ nợ

ngắn hạn trên tổng nợ nƣớc ngoài của Việt Nam với các nền kinh tế khu vực. Trong

khi Trung quốc Malaysia và Thái Lan có tỷ lệ nợ ngắn hạn trong tồng nợ nƣớc

ngoài tƣơng đối cao, dao động từ 40% đến 70% tổng nợ nƣớc ngoài, Việt Nam dựa

tƣơng đối ít vào việc vay mƣợn ngắn hạn từ nƣớc ngoài.

Bảng 3.1: Một số chỉ tiêu nợ nƣớc ngoài của Việt Nam và các nƣớc đang phát triển

tại khu vực châu Á, năm 2013

Tỷ lê nợ nƣớc Tỷ lê nợ nƣớc

ngoài trên GNI ngoài trên xuất

(%)

khẩu (%)



Trung Quốc

Campuchia

Indonesia

Lào

Malaysia

Philippines

Thái Lan

Pakistan

Sri Lanka

Ẩn Độ

Bangladesh

Việt Nam



9,51

44,35

30,79

81,35

70,74

18,60

37,24

22,77

38,50

23,04

19,45

40,20



34,32

63,72

124,77

276,32

77,77

80,28

46,43

184,67

165,28

89,26

87,67

45,80



Tỷ lê nghĩa vụ trả Tỷ lệ nợ ngắn

nợ nƣớc ngoài

trên tổng nợ

trên xuất khẩu(%) nƣớc ngoài (%)



1,52

1,53

19,40

9,73

3,50

7,75

4,42

26,27

11,86

8,59

5,18

3,50



71,44

19,20

18,29

9,33

48,72

18,50

44,29

3,40

0,02

21,68

5,24

16,15



Nguồn: Số liệu từ World Development Indicators (WDI), World Bank.

Tuy nhiên, tỷ trọng nợ ngắn hạn trong tổng số nợ nƣớc ngoài của Việt Nam đã gia

tăng liên tục trong nhƣng năm vừa qua, từ mức 7% vào năm 2000 lên trên 16,15%

vào năm 2013. Vay mƣợn nƣớc ngoài của doanh nghiệp trong nƣớc, phần lớn trong

số đó là vay thƣơng mại, có xu hƣớng gia tăng rõ rệt trong những năm gần đây. Dƣ

nợ nƣớc ngoài của các doanh nghiệp đã tăng gần 2 lần giữa năm 2010 và 2013,



43



trong đó riêng các khoản vay mƣợn của doanh nghiệp do chính phủ bảo lãnh đã

tăng hơn hai lần, từ mức 4,7 tỷ USD vào năm 2010 lên gần 9 tỷ USD vào năm

2013. Trong năm 2013, hơn 40% tổng số nợ nƣớc ngoài của Việt Nam là của các

doanh nghiệp. Xu hƣớng gia tăng vay mƣợn của các doanh nghiệp có thể tiếp tục

trong những năm tới. Một mặt, điều này phản ánh quá trình hội nhập ngày càng sâu

rộng của Việt Nam với thị trƣờng vốn quốc tế và khả năng của các doanh nghiệp

trong nƣớc với thị trƣờng vốn quốc tế. Mặt khác, việc vay ƣu đãi từ các nguồn

chính thức có thể sẽ hạn chế hơn sau khi Việt Nam đã trở thành nƣớc thu nhập trung

bình thấp. Việt Nam sẽ phải dựa nhiều hơn vào các nguồn vốn vay thƣơng mại để

hỗ trợ cho các chƣơng trình đầu tƣ trong nƣớc.

Bảng 3.2: Nợ cơng Việt Nam

2010

Tổng nợ cơng



2011



2012



2013



2014



2015

(ƣớc tính)



1.115.342 1.381.136 1.622.584 1.912.082 2.374.527 2.837.560



Trong nƣớc



495.484



598.029



744.521



960.346 1.294.117 1.645.785



(% GDP)



(23,0%)



(21,5%)



(22,9%)



(26,8%)



Nƣớc ngồi



619.858



783.107



878.063



951.735 1.080.410 1.191.775



(% GDP)



(28,7%)



(28,2%)



(27,1%)



(26,6%)



(27,4%)



(27,7%)



Tỉ lệ nợ cơng so GDP



51,7%



49,7%



50,0%



53,3%



60,3%



65,9%



The Economist



54,0%



53,5%



50,2%



48,9%



47,6%



46,3%



(32,9%)



(38,2%)



Nguồn: Báo cáo 221/BC-CP của chính phủ ngày 18/5/2015, The Economist (2015)

Trƣớc đây, nợ công hầu hết là nợ nƣớc ngoài hay vốn vay ODA với lãi suất từ 1%

đến dƣới 3%. Từ năm 2010, Việt Nam gia nhập nhóm nƣớc có thu nhập trung

bình nên việc vay ƣu đãi từ các nguồn chính thức có thể sẽ hạn chế hơn sau khi Việt

Nam đã trở thành nƣớc thu nhập trung bình thấp. Do đó, Việt Nam sẽ phải dựa

nhiều hơn vào các nguồn vốn vay thƣơng mại để hỗ trợ cho các chƣơng trình đầu tƣ

trong nƣớc. Việc dựa nhiều hơn vào các nguồn vốn vay thƣơng mại có thể khiến

nền kinh tế dễ bị tổn thƣơng hơn trƣớc những biến dộng trên thị trƣờng vốn quốc tế.



44



Trong thực tế, nợ công những năm gần đây đang dịch chuyển sang nguồn vay

trong nƣớc khiến cho vay trong nƣớc tăng từ 23% năm 2010 lên 38.2% năm 2015.

Việc nợ nội địa chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nợ công khiến cho nợ công ở Việt

Nam vẫn ở vùng an tồn dù tỷ lệ nợ cơng đã ở khá cao. Tuy nhiên điều này cũng

làm gia tăng lãi suất và tác động tiêu cực đến khu vực tƣ nhân.

Bảng 3.3: Phân loại nợ công theo nguồn. 2010-2014 (tỉ đồng)

2010

Nợ chính phủ



Nợ chính phủ bảo lãnh



2013



2014



2015

(ƣớc tính)

2.340.574



(23%)



(17%)



(18%)



(27%)



(22%)



79 ,7%



79 ,1%



78 ,9%



79 ,3%



81 ,0%



82 ,5%



225.953



288.375



343.099



396.113



451.806



496.986



(28%)



(19%)



(15%)



(14%)



(10%)



20 ,9%



21 ,1%



20 ,7%



19 ,0%



17 ,5%



(tỷ lệ tăng so năm trƣớc)

Tỷ lệ trong tổng nợ công



2012



889.389 1.092.761 1.279.484 1.515.968 1.922.721



(tỷ lệ tăng so năm trƣớc)

Tỷ lệ trong tổng nợ cơng



2011



20 ,3%



Nguồn: Số liệu từ bộ tài chính

Bảng số liệu 3.3 cho thấy nợ chính phủ chiếm tỷ trọng cao và ổn định trong tổng nợ

công của Việt Nam giai đoạn 2000-2015 và tỷ lệ này có chiều hƣớng tăng nhẹ qua

các năm dù cho chính phủ đang cố gắng hạn chế gánh nặng nợ.

3.1.2. Tình hình sử dụng nợ cơng

Có thể tóm lƣợc tình hình sử dụng nợ cơng ở Việt Nam qua một số ý chính sau:

Hiệu quả sử dụng không cao: Đầu tƣ công đƣợc xem là một trong những động lực

chính thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế nhƣng trong những năm gần đây hiệu quả của

đầu tƣ là tƣơng đối thấp và đang có xu hƣớng giảm xuống. Thƣớc đo hiệu quả đầu

tƣ là chỉ số ICOR. Chỉ số này cho biết để có thêm một đơn vị sản lƣợng trong một

thời kỳ nhất định cần phải bỏ ra thêm bao nhiêu đồng vốn trong thời kỳ đó. Theo

World Bank, ICOR của Việt Nam trong giai đoạn 2001-2005 là 4,88; giai đoạn

2006-2010 lên đến 6,.96 và sau 5 năm, vẫn ở mức 6,92 vào giai đoạn 2011-2014,

chỉ đứng sau Ấn Độ là 7,31 tại Châu Á.



45



Hình 3.2: ICOR của Việt Nam qua các năm. Nguồn: IMF

Nguyên nhân dẫn đến chỉ số ICOR cao ở Việt Nam một phần là do Việt Nam đang

trong giai đoạn chuyển đổi, do đó đầu tƣ tập trung vào cơ sở hạ tầng, bao gồm cơ sở

hạ tầng ở vùng sâu vùng xa, xóa đói giảm nghèo và đảm bảo an sinh xã hội. Tuy

nhiên, mức ICOR này là lớn hơn rất nhiều so với các nƣớc NICs trong cùng thời kỳ

chuyển đổi giai đoạn 1961-1980 hay so với các quốc gia trong khu vực nhƣ Thái

Lan, Trung Quốc.

Bảng 3.4: Tăng trƣởng và chỉ số ICOR của các quốc gia trong từng thời kỳ

Quốc gia

Hàn quốc

Đài Loan

Malaysia

Indonesia

Thái Lan

Trung Quốc



Giai đoạn GDP (%) Đầu tƣ/GDP ICOR

1961-1980

0,079

23,3

3

1961-1980

0,097

26,2

2,7

1981-1995

0,072

32,9

4,6

1981-1995

0,069

25,7

3,7

1981-1995

0,081

33,3

4,1

2001-2006

0,097

38,8

4



Nguồn: World Development Indicator (WDI), World Bank

Một phần đáng kể của nợ công được sử dụng để trả nợ thay cho đầu tư phát triển:

Tỷ lệ trả nợ trong kỳ dƣ nợ vay của chính phủ và khoản vay đƣợc chính phủ bảo

lãnh ở mức khoảng 14,2% năm 2014 (số liệu mới nhất đƣợc Bộ Tài chính cơng bố

và lên đến 16% năm 2015 theo ƣớc tính của WB. Việc dành đến 14%-16% dƣ nợ



46



cơng trong kỳ để trả nợ gây hạn chế đến đầu tƣ phát triển và chi để tăng NSLĐ, giáo

dục, y tế và các lĩnh vực thiết yếu khác.

ơ cấu chi ng n sách không bền vững ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng nợ công:

Trong giai đoạn 2010-2015, chi ngân sách chủ yếu là chi thƣờng xuyên với mức

tăng trƣởng là 18,44% năm. Ngƣợc lại, chi đầu tƣ phát triển có xu hƣớng giảm, nhất

là từ năm 2013 đến nay, chỉ ở mức 4,8% năm.

Công tác quản



nợ công c bước tiến nhưng v n c n hạn chế: Trong giai đoạn



2010-2015, công tác quản lý nợ công đã đƣợc cải thiện tuy nhiên, việc phân bổ

mang tính chủ quan, dàn trải, hiệu quả thấp, số liệu thống kê không thống nhất,

thiếu tính kịp thời, đặc biệt, việc quản lý ODA vẫn còn khá phức tạp.

3.1.3. Rủi ro nợ cơng

Hiện nay, theo các tổ chức quốc tế và trong nƣớc, khả năng vỡ nợ của Việt Nam là

khá thấp. Tuy nhiên, trên thực tế, nợ công vẫn đang là vấn đề đáng lo lắng. Trƣớc

hết, chỉ tiêu nợ phải trả (nợ gốc và lãi có nguy cơ tiến sát vƣợt ngƣỡng cảnh báo.

Theo Bộ Tài chính, trong giai đoạn, nghĩa vụ trả nợ nƣớc ngoài trung dài hạn trên

thu ngân sách Nhà nƣớc đã tăng lên 22,3% (ngƣỡng an toàn 25%). Bên cạnh đó,

nghĩa vụ trả nợ tăng nhanh trong khi nguồn trả nợ công không bền vững. Theo Bộ

Kế hoạch và Đầu tƣ, chỉ tiêu Nghĩa vụ trả nợ trên thu ngân sách Nhà nƣớc tăng lên

38% vào năm 2014 và 45% năm 2015. Hệ quả là, tình trạng vay để trả nợ gốc ngày

càng tăng, lên đến 80 nghìn tỷ năm 2014 và 150 nghìn tỷ năm 2015. Tuy nhiên, khả

năng gia tăng thu ngân sách trên GDP giảm mạnh, cụ thể năm 2011 là 25,9% xuống

22,1% năm 2015 và dự kiến tiếp tục giảm.



47



Hình 3.3: Cơ cấu kỳ hạn trái phiếu chính phủ bằng nội tệ chƣa đáo hạn

Nguồn: ADB Bonds (2015)

Từ hình 3.3 có thể thấy trái phiếu chính phủ chủ yếu đƣợc phát hành ở kỳ hạn ngắn

dƣới 5 năm. Các năm gần đây, trái phiếu kỳ hạn dài đƣợc phát hành nhiều hơn tuy

nhiên trái phiếu kỳ hạn 1 đến 5 năm vẫn chiếm chủ yếu. Việc các khoản lãi và một

phần nợ gốc phải trả trong ngắn hạn đang ngày càng tăng cao, gây sức ép lên cân

bằng ngân sách Nhà nƣớc.



48



3.2.



Đánh giá tính bền vững của nợ cơng Việt Nam



3.2.1. Phân tích nợ Việt Nam với phƣơng pháp cây nhị phân

Để có thể sử dụng phƣơng pháp cây nhị phân để đánh giá xác suất rơi vào khủng

hoảng nợ của Việt Nam trƣớc tiên cần thực hiện tính tốn 10 chỉ số nợ theo khuyến

nghị của Manasse và Roubini (2005). Trình bày kết quả của các chỉ số này:

Bảng 3.5: Các chỉ số nợ của Việt Nam, 2015

STT

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10



Các chỉ số nợ

2015

Nợ nƣớc ngoài/GDP

42,55%14

Nợ nƣớc ngoài ngắn hạn/Dự trữ ngoại hối 42,43%15

Tốc độ tăng trƣởng GDP thực

6,68%16

Nợ cơng nƣớc ngồi/Thu ngân sách

116,84%

Tỉ lệ lạm phát

0,88%17

Số năm đến cuộc bầu cử tiếp theo

Lãi suất trái phiếu kho bạc Mỹ

2,16%18

Nhu cầu tài trợ từ bên ngoài

89,55%

Mức độ định giá quá cao của VNĐ USD

45,96%

Mức độ biến động tỉ giá VNĐ USD

9,40%

Nguồn: WEO (IMF), WDI (WB), GSO



Với các chỉ tiêu trong Bảng 3.5, ta có thể dễ dàng áp dụng Cây Nhị phân trong Hình

2.2 để đánh giá rủi ro khủng hoảng nợ của Việt Nam cho thời điểm năm 2015. Tiến

hành di chuyển theo các bậc ở cây nhị phân, chúng ta thực hiện trả lời các câu hỏi

cụ thể sau:

“Tổng nợ nƣớc ngoài của Việt Nam có lớn hơn 49,7% hay khơng?” - Do câu trả lời

là KHÔNG (khoảng 42,55%) nên chúng ta chuyển sang nhánh bên trái và thực hiện

tiếp câu hỏi thứ hai;



14



Sử dụng nợ nƣớc ngoài trên GNI để thay thế: http://data.worldbank.org/topic/external-debt?locations=VN

http://data.worldbank.org/indicator/DT.DOD.DSTC.IR.ZS?locations=VN

16

http://data.worldbank.org/indicator/NY.GDP.MKTP.KD.ZG?locations=VN

17

http://data.worldbank.org/indicator/FP.CPI.TOTL.ZG?locations=VN

18

http://data.worldbank.org/indicator/FR.INR.RINR?locations=US

15



49



“Nợ ngắn hạn có lớn hơn 130% dự trữ ngoại hối hay khơng” - Câu trả lời tiếp tục là

KHƠNG (xấp xỉ 42,43%) nên chúng ta di chuyển tiếp theo nhánh trái;

“Nợ cơng nƣớc ngồi có lớn hơn 215% tổng thu ngân sách hay khơng?” - Câu trả

lời tiếp tục là KHƠNG. Nợ cơng nƣớc ngồi xấp xỉ bằng 117% tổng thu ngân sách

của Việt Nam năm 2015. Do vậy chúng ta tiếp tục di chuyển theo nhánh trái;

“Tăng trƣởng kinh tế có lớn hơn -5,45% hay khơng” - Câu trả lời là CĨ do kinh tế

Việt Nam vẫn có tăng trƣởng dƣơng (6,68%). Do vậy, Cây nhị phân này cho thấy,

vào cuối năm 2015 và đầu năm 2016, Việt Nam chƣa rơi vào vùng có nguy cơ

khủng hoảng nợ.

Mặc dù các số liệu thống kê về nợ nƣớc ngoài hiện tại cho thấy Việt Nam khơng có

nguy cơ rơi vào cuộc khủng hoảng nợ. Tuy nhiên, do số liệu của Việt Nam sai lệch

lớn so với số liệu của các tổ chức tài chính quốc tế và chƣa đƣợc thống kê đầy đủ,

do vậy nhiều thống kê trong Bảng 3.5 là khá nhạy cảm và dễ thay đổi, đặc biệt là

Tổng nợ nƣớc ngồi/GDP, Nợ cơng nƣớc ngồi/Tổng thu ngân sách và Nợ ngắn

hạn/Dự trữ ngoại hối. Khi đó câu trả lời ở mỗi bậc trong Cây nhị phân có thể sẽ rất

khác.

3.2.2. Ứng dụng khung phân tích của WB và IMF về tính bền vững của nợ cho

trƣờng hợp Việt Nam

Phần này sẽ thực hiện đánh giá tính bền vững và những rủi ro tài khố đi kèm của

nợ cơng Việt Nam dựa trên khung phân tích nợ bền vững của IM F v à WB.

Theo tính tốn từ số liệu của World Bank, CPIA của Việt Nam năm 2010 là 3,78 và

năm 2011 giảm xuống chỉ còn ở mức 3,73 và do đó Việt Nam thuộc nhóm nƣớc có

chính sách trung bình.

Giá trị nợ theo phần trăm GDP của Việt Nam đã vƣợt mốc dành cho các nƣớc có

chính sách trung bình. Giá trị nợ theo phần trăm của xuất khẩu và thu ngân sách vẫn

còn cách xa những nguy hiểm. Tuy nhiên, trong điều kiện mà các khoản nợ nƣớc

ngoài đang ngày một gia tăng, trong khi thu ngân sách và xuất khẩu đang trong xu



50



hƣớng giảm xuống, các tỉ lệ này đang có xu hƣớng gia tăng và có khả năng sẽ chạm

mốc trong những năm sắp tới.

Bảng 3.6: Nợ Việt Nam so với ngƣỡng an toàn của DSF

Hiện giá của nợ theo % của

Nghĩa vụ nợ theo % của

Xuất khẩu GDP Thu ngân sách Xuất khẩu Thu ngân sách

Chính sách yếu

100

30

200

15

25

Chính sách trung bình

150

40

250

20

30

Chính sách tốt

200

50

300

25

35

Việt Nam

55,2

41,5

156,0

2,55

7,20



Nguồn: Hướng dẫn phân tích tính bền vững của nợ LIC (A Guide to LIC Debt

Sustainability Analysis), WB (2006); Ƣớc tính của tác giả từ các nguồn số liệu của

MoF.

Khi xét về nghĩa vụ nợ thì dù cho nằm ở nhóm nƣớc nào, thì nghĩa vụ nợ của Việt

Nam vẫn còn cách rất xa các ngƣỡng cảnh báo của WB và IMF. Nguyên nhân của

việc này là do những khoản vay ƣu đãi với lãi suất thấp từ các tổ chức và chính phủ

quốc tế.

3.2.3. Ứng dụng mơ hình Jaimes de Pinies trong trƣờng hợp Việt Nam

Phần này của nghiên cứu sẽ ứng dụng mơ hình Jaime de Pinies vào phân tích tính

bền vững nợ nƣớc ngồi ở Việt Nam trong trung hạn, dựa trên các số liệu về nợ

nƣớc ngồi của Việt Nam. Với những tình huống giả định khác nhau về tỷ lệ tăng

trƣởng nhập khẩu trên tăng trƣởng xuất khẩu ( ) và tỷ lệ lãi suất so với tăng trƣởng

xuất khẩu ( ), mơ hình cho phép dự báo tính bền vững nợ giai đoạn 2017-2025

Số liệu về nợ, xuất khẩu, nhập khẩu và lãi suất trong giai đoạn 1990-2015 đƣợc tóm

tắt ở bảng 3.7:



51



Bảng 3.7: Nợ, xuất khẩu, nhập khẩu và lãi suất.

Nợ19

(triệu USD)



Xuất khẩu20

(triệu USD)



Nhập khẩu21

(triệu USD)



1990



23.270,059



2.332,326



2.930,216



1991



23.395,042



2.971,977



3.463,881



27,43%



1992



24.331,839



3.428,345



3.831,480



1993



24.167,607



3.785,937



1994



24.799,403



1995



Tăng

xuất khẩu



Tăng

nhập khẩu



Lãi

suất22



Năm

5,74% 9,9772



1,2563



18,21%



2,99% 7,8719



1,1655



0,8083



0,9277



15,36%



10,61%



1,65% 7,0973



1,1176



0,8812



0,9589



4.941,472



10,43%



28,97%



2,05% 6,3835



1,3052



0,9241



1,1679



5.539,526



7.078,095



46,32%



43,24%



2,68% 4,4768



1,2777



0,7018



0,9790



25.427,802



6.804,128



8.690,197



22,83%



22,78%



3,29% 3,7371



1,2772



0,8409



0,9996



1996



26.255,068



10.077,135



12.781,757



48,10%



47,08%



2,52% 2,6054



1,2684



0,6922



0,9931



1997



21.776,508



11.570,361



13.755,189



14,82%



7,62%



3,24% 1,8821



1,1888



0,8992



0,9373



1998



22.457,989



12.203,045



14.190,609



5,47%



3,17%



2,35% 1,8404



1,1629



0,9705



0,9782



1999



23.274,460



14.332,148



15.151,042



17,45%



6,77%



2,16% 1,6239



1,0571



0,8698



0,9091



19



(Current USD): http://data.worldbank.org/indicator/DT.DOD.DECT.CD?locations=VN



20



(Current USD): http://data.worldbank.org/indicator/NE.EXP.GNFS.CD?locations=VN



21



(Current USD): http://data.worldbank.org/indicator/NE.IMP.GNFS.CD?locations=VN



22



http://data.worldbank.org/indicator/DT.INR.DPPG?locations=VN



52



2000



12.785,239



16.808,689



17.922,826



17,28%



18,29%



1,39% 0,7606



1,0663



0,8645



1,0087



2001



12.578,501



17.997,102



18.595,919



7,07%



3,76%



1,04% 0,6989



1,0333



0,9437



0,9690



2002



13.267,121



19.193,788



21.724,926



6,65%



16,83%



1,31% 0,6912



1,1319



0,9499



1,0954



2003



15.517,154



22.415,698



26.759,133



16,79%



23,17%



1,90% 0,6922



1,1938



0,8726



1,0547



2004



17.565,787



27.134,531



33.292,011



21,05%



24,41%



1,79% 0,6474



1,2269



0,8409



1,0278



2005



18.530,479



36.712,091



38.623,130



35,30%



16,01%



2,85% 0,5048



1,0521



0,7602



0,8575



2006



18.686,347



44.944,777



46.856,276



22,42%



21,32%



2,97% 0,4158



1,0425



0,8411



0,9909



2007



23.070,521



54.591,008



65.095,862



21,46%



38,93%



2,99% 0,4226



1,1924



0,8479



1,1438



2008



26.435,435



69.724,977



83.250,410



27,72%



27,89%



2,44% 0,3791



1,1940



0,8021



1,0013



2009



32.702,629



66.759,299



77.749,987



-4,25%



-6,61%



1,21% 0,4899



1,1646



1,0571



0,9754



2010



44.901,572



83.473,600



92.994,659



25,04%



19,61%



2,32% 0,5379



1,1141



0,8183



0,9566



2011



53.886,305 107.605,944 113.207,523



28,91%



21,74%



2,29% 0,5008



1,0521



0,7935



0,9443



2012



61.576,671 124.700,595 119.241,742



15,89%



5,33%



1,79% 0,4938



0,9562



0,8784



0,9089



2013



65.452,000 143.186,376 139.491,334



14,82%



16,98%



1,91% 0,4571



0,9742



0,8875



1,0188



2014



72.423,458 160.889,700 154.791,473



12,36%



10,97%



1,92% 0,4501



0,9621



0,9070



0,9876



2015



77.798,272 173.812,068 172.280,537



8,03%



11,30%



1,06% 0,4476



0,9912



0,9355



1,0302



Nguồn: Số liệu nợ, nhập khẩu, xuất khẩu, lãi suất lấy từ bộ dữ liệu World Development Indicator (WDI) của World Bank.

Các chỉ số còn lại do tác giả tự tính tốn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÍNH BỀN VỮNG CỦA NỢ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×